Văn Hiến Việt Nam

Diễn đàn của Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát huy Văn hoá dân tộc

Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Trang Nhất Dọc theo đất nước Làng Việt Nhớ xưa nhịp chày Yên Thái

Nhớ xưa nhịp chày Yên Thái

In

Từ xưa, Hà Nội đã có bao nhiêu làng nghề nổi tiếng, đi vào ca dao tục ngữ làm nên nét biểu tượng cho vẻ đẹp thanh lịch của thủ đô. Có những làng nghề đến nay vẫn còn tồn tại song song cũng có làng nghề chỉ còn tồn tại trong nỗi nhớ, tâm cảnh của người dân, mà một ví dụ là làng giấy đó Yên Thái cùng Kẻ Bưởi.

Ca dao có câu:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ
Trong bài phú Phong cảnh Tây Hồ của Nguyễn Huy Lượng thời Tây Sơn cũng ghi:
Chày Yên Thái nện trong sương chểnh choảng
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co


Làng Yên Thái còn gọi là làng Bưởi nằm ở phía tây bắc Hà Nội còn gọi là tổng Bưởi, nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ của Hà Nội. Sử chép: Năm Thiên Phù Khánh Thọ 1127. đời vua Lý Nhân Tông, phía Tây Bắc thành Thăng Long hợp lưu của hai dòng sông Thiên Phù và Tô Lịch, nước dâng cao ngày đêm phá mòn chân đê, quan quân chế ngự không nổi, tình hình vô cùng nguy khốn vì nước có thể ngập đổ thành, một đêm thần linh hiện về báo mộng cho đức vua và bảo rằng, muốn trấn yên dòng nước dữ, vào sớm mai phải tìm người hiền vì nghĩa tự nguyện quyên sinh xuống dòng nước, lập tức nước sẽ rút ngay. Đức vua liền cho quan khâm sai đợi sẵn tại cửa thành. Mờ sáng hôm sau – Ngày 30 tháng 11 khi sương mù còn dày đặc thì từ xa đã thấy ánh đèn dầu leo lét của cặp vợ chồng người bán dầu gài là ông Vũ Phục và bà Đỗ Thi. Hai người lấy nhau đã lâu mà chưa có con, ăn ở hiền lành ai cũng yêu mến, và đúng như lời báo mộng là người đến sớm nhất đi qua bến Hồng Tân vào kinh thành, liền cho lính níu lại tỏ rõ sự tình, nghe xong hai người không hề lo sợ, hiểu rõ việc nghĩa liền bái trời đất và trẫm mình xuống sông, nước bỗng ngừng chảy, từ giữa dòng sông hiện lên gò cát cứ cao dần rồi lấp cửa sông Thiên Phù. Dần dần không còn sông Thiên Phù nữa. Những quả bưởi Đoan Hùng Phú Thọ ngày nay bị trôi theo dòng sông Lô, sông Thao và sông Thiên Phù neo vào bãi đất mọc thành rừng, thấy chuyện lạ người dân đã gọi đó là bến Bưởi. Bĩa nổi do ít người nên ban đầu triều đình nhà Lý dùng làm bãi pháp trường chuyên chặt đầu những kẻ có tội và vùi xác ở đây, nên gọi đó là Đống Ma phường sau đổi thành Tịch Ma phường. Người ta đồn rằng, cứ đến phiên chợ Bưởi cuối năm là các hồn ma lại từ âm phủ hiện về trà trộn với người trần sắm hàng Tết, do đó cùng gọi phiên chợ này là phiên chợ Ma phường. Đức vua cảm đức công ơn sâu dày của hai vợ chồng già đã phong cho hai vị là phúc thần, lập đền thờ ghi công là Chiêu Cao ngày đêm túc trực hương hỏa tại đền thờ hai vị. Từ bốn người này con cháu đầy đàn lập thành làng thành xóm an cư lạc nghiệp và đổi cái tên xưa thành Yên Thái hay An Thái nghĩa là hòa bình, yên ổn và giàu có. Đời Minh Mạng, triều đình đã cho gọi chính thức nơi đây là Yên Thái, va fphong cho người dân bốn chữ Mỹ tục khả phong ngụ ý: khen người xưa đã tụ lập làng sinh sống thái bình.
Nhờ sông nước bốn mùa phong thịnh, làng xóm sầm uất, tại Yên Thái đã tự nảy sinh nhiều làng nghề mà nổi bật là nghề làm giấy ngay từ thời Lý - Trần. Vua Lý Thái Tổ đã soạn chiếu dời đô trên giấy Yên Thái. Thời vua Lý Cao Tông (1176 – 1210) giấy Yên Thái đã từng cống cho triều đình nhà Tống, giấy Yên Thái được biết tới nhiều nhất từ thế kỷ 15. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi năm 1435 ghi phường Yên Thái ở Thăng Long gồm các làng Hồ Khẩu, Đông Xã, An Thọ, Yên Thái và Nghĩa Đô làm nhiều loại giấy mỏng, dai, trắng mịn nổi tiếng khắp kinh kỳ, như giấy sắc để nhà vua viết lời sắc phong; giấy lệnh để viết chiếu chỉ, thần phả; giấy lĩnh tiền để chép gia phả dòng họ và đóng sách quý; giấy bản là giấy thường dùng trong dân gian…
Ông tổ của nghề giấy Yên Thái chính là cụ Thái Luân người Trung Quốc thời Đông Hán năm 105 sau công nguyên, và một cụ tổ người Việt người làng An Cốc nay thuộc xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên Hà Tây học nghề từ Trung Quốc về truyền dạy cho ba làng Yên Hòa, Yên Thái và Nghĩa Đô. Đầu tiên, cụ đến làng Yên Quyết Thượng (Yên Hòa) dạy dân làng làm loại giấy thô, sau đó tới làng Hà Khẩu dạy làm giấy quỳ, đến làng Yên Thái dạy ba xóm Đông, Thọ và Đoài cách làm giấy lệnh và cuối cùng tới làng Nghè ( Nghĩa Đô) dạy nhà họ Lại làm giấy sắc. Để tưởng nhớ công ơn của cụ, dân làng An Cốc làm lễ tế cụ tổ Thái Luân và cụ tổ nghề người Việt vào mồng 9 và mồng 10 tháng Giêng âm lịch là ngày cụ rời làng An Cốc đến làng Yên Thái. Còn dân làng Yên Thái, Yên Hòa giỗ cụ vào ngày 16 tháng ba âm lịch, là ngày cụ từ biệt làng Nghĩa Đô ra đi. Mỗi nhà chọn vài chục tờ giấy tốt nhất phết kim nhũ, vẽ hoa văn đẹp cúng rồi đốt.
Đã hàng trăm năm làm giấy, ba làng gọi chung là Kẻ Bưởi đã trở thành một trung tâm sản xuất giấy kỳ cựu của nước ta. Hơn thế, còn kéo theo các làng khác cung ứng nguyên liệu làm giấy như làng Cót chuyên làm dăm phơi giấy; làng Xuân Đỉnh làm liềm xeo hay khuôn đúc giấy; làng Cổ Nhuế đan phên, phanh, chõng và sọt; làng Nam Quán, Phú Xuyên làm rổ to đãi bột…
Chợ Bưởi nằm bên sông Tô Lịch mỗi tháng họp sáu phiên vào ngày bốn và chín, với đủ các mặt hàng trong đó có dãy nhà 15 gian bán giấy đó. Hàng tháng còn có sáu phiên chợ vào ngày hai, ngày bảy chỉ bán giấy moi, giấy bản, giấy dán quạt, giấy àm pháo,…Xưa kia, cứ sáng sớm vào phiên chợ là các hàng giấy bày la liệt, kẻ bán người mua tấp nập. Giấy được bán ở đây để rồi đi khắp trong Nam ngoài Bắc. Mỗi khi có khách đi ngang qua, các cô chủ xinh đẹp vọng đưa lời ca mượt mà mời gọi:
Người ta bán vạn buôn ngàn
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi
Dám xin ai đó chớ cười
Vì em làm giấy cho người viết thơ.
Hoặc:
Người ta đúc tượng làm chùa
Còn em làm giấy bốn mùa chẳng ngơi
Dám xin sư bác chớ cười
Vì em làm giấy cho người chép kinh.
Năm 1946, Hồ Chủ Tịch về thăm Yên Thái đang lúc dân làng làm nghĩa vụ công dân bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa I. Người hỏi thăm tình hình sức khỏe và nghề làm giấy của bà con, và thân mật khắc tay cụ Niu, một lão nhân của của làng đi trên đường làng thân mật như hai người bạn lâu ngày gặp lại, các cháu nhỏ ríu rít theo sau. Thấy những hàng giấy phơi hai bên đường, Người dặn dò bà con phải giữ gìn giấy và tiết kiệm giấy cho đỡ công lao doongj khó nhọc. Trong 30 năm kháng chiến, làng Yên Thái liên tục cung cấp giấy để in sách, tài liệu, truyền đơn phục vụ Cách mạng, Đảng và Nhà nước.
Từng tờ giấy mỏng manh đã ghi lại biết bao vết tích, nét bút tài hoa của danh nhân đất Việt như Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt, Hịch Tướng Sĩ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của Lê Thánh tông, Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, truyện Kiều  của Nguyễn Du và di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ Tịch.
Trong kháng chiến chống Mỹ oanh liệt của nhân dân, trong trận Điện Biên Phủ trên không tại Hà Nội suốt 12 đêm bắt đầu từ đêm 12-12-1972, một bài ca đã được viết trên giấy gió Yên Thái lưu truyền trong những ngày Hà Nội nghênh chiến với pháo đài bay một lần nữa thể hiện tính chất anh hùng, tư thế hiên ngang của người dân Hà Nội và sự bền dai chắc chắc mặt tuyệt diệu của giấy Yên Thái:
Năm canh là một đêm trường
Bom rơi là thế, phố phường là đây
Ta ta xuyên chín tầng mây
Quét cho lũ pháo đài bay tan tành
Năm canh đánh suốt năm canh
Máy bay bốc cháy đỏ thành Thăng Long
Mắt em buồn ngủ cho say
Chín đêm quan sát dõi trông bầu trời
Năm canh chỉ một đêm thôi
Mà vàng thử lửa rạng ngời bốn phương
Khâm Thiên, Uy Nỗ, An Dương
Lòng dân như ngọc kim cương đất này.
Đọc hay nghe qua những câu ca dao thấy nhiều nghề làm giấy ở Yên Thái thật đẹp, song để làm được một tờ giấy như vậy trải qua rất nhiều vất vả: phải đốn cây dóc vỏ làm giấy, sau đó phơi khô, phân loại ra vỏ tốt hay vỏ xấu làm nhiều thứ giấy tương ứng. Một số loại giấy tốt chuyên dụng của Yên Thái phải làm từ vỏ Dó tinh chất. Lúc đầu, để có những nguyên liệu người thợ Yên Thái phải lên rừng Nghĩa Lộ, Thái Nguyên, Yên Bái đốn cây hoặc mua cây Dó về. Sau này dân trên đó đã nhận chở Dó về xuôi theo dòng sông Nhĩ Hà (sông Hồng) và đỗ tại bến Chèm, sau cho xe bò chở Dó về chợ Bưởi bán lại cho chợ Yên Thái. Qua những buổi chợ đó, trai gái gặp nhau thắm tình nên vợ chồng, hát ví von:
Thương người dãi nắng dầm sương
Cho em cây Dó em đưa miếng trầu
Trầu này phết với vôi tàu
Ăn dăm ba miếng kẻo rầu lòng em.
Ngoài ra, còn cần một nguyên liệu nữa là vụn gỗ ngâm nước sau này pha với bột Dó để giấy không dính vào nhau.
Làm giấy thủ công Yên Thái cần rất nhiều nước sạch nên phải ở cạnh sông và hồ. Cũng cần lửa to, lò lớn để đun Dó. Nên người thợ đã dựng ven sông Tô Lịch những bãi ngâm đãi vỏ Dó và đắp những cái lò lửa làm những cái vại lớn để đun Dó. Lò cao năm mét, vạc có đường kính hai mét, đun vỏ Dó cách thủy. Cạnh đó là những giếng khơi nước xanh trong chuyên pha bột. Đầu tiên là ngâm rửa vỏ Dó với nước vôi trong sau hai khi ở rừng về, đem nấm trong lò lớn, sau đó vớt ra đem ngâm nước vôi lần nữa, rồi bóc vỏ đen đem đãi để lộ phần thịt trắng làm bột giấy. Bởi Thế có câu:
Ai ơi đứng lại mà trông
Kìa vạc nấu Dó, kia sông đãi bìa
Bên kia những giếng những hồ
Giếng sâu chín trượng nước thời xanh trong.
Để làm bột giấy, phải giã nhuyễn vỏ Dó thành bột, trai tráng mình trần cứ hai ba người một hai tay cầm một cây chày gỗ nặng vài chục cân nện vào cối đá liên tục từ gà gáy canh ba đến giữa trưa, và làm nhiều ngày đêm để cho ra được một mẻ giấy. Vỏ dã nát nhừ thành xơ bột cho vào bể nước trong để xeo giấy hay đúc thành tờ giấy. Công việc xeo giấy dành cho phụ nữ. Khi xeo giấy dùng một cái liềm xeo là khuôn có mành trúc hay dây đồng ken dày chao đi chao lại trong bể bột để lớp bột xơ dính lên liềm như cái mạng nhện nhiều lớp tạo thành tờ giấy, rồi bóc rời từng tờ đem sấy khô cán phẳng và xếp thành từng tập.
Bắt đầu dậy khi chuông chùa chưa đánh, con gà chưa cất tiếng gáy, trong cơn gió hồ se lạnh phả ra từ mặt hồ còn giăng sương sớm mịt mùng. Tiếng chày gõ nhịp đều đặn như chiếc đồng hồ báo thức cho cả vùng đều biết. Tiếng nện rất to thình thịch của hai người một cối không ai nhẹ hơn ai và không ai chậm hơn ai bởi nếu không bột sẽ không nát đều, lổn nhổn. Và nếu không nhanh sẽ không có đủ bột để làm giấy. Những âm thanh rộn ràng ấy khó phai cho đến tận bây giờ khi đi mạn tây hồ nhiều người vẫn cảm thấy còn vang vọng. Các công đoạn sản xuất từ bỏ vỏ Dó , ngâm nước, giặt, giã, nấu, lọc, làm xeo giấy, đến đóng gói và vận chuyển đều vất vả, phải làm hoàn toàn bằng sức người. Trời lạnh hay trời nóng mồ hôi đều nhễ nhại, chân tay ai cũng tê dại. Theo cuốn Ca dao ngạn ngữ Hà Nội do Triều Dương biên soạn, nhà xuất bản Hà Nội in năm 1971.
Giã nay rồi lại giã mai
Đôi chân tê mỏi, Dó ơi vì mày
Xeo đêm rồi lại xeo ngày
Đôi tay nhức buốt vì mày Dó ơi.
Con gái Bưởi xưa kia ra ngoài đường phải mặc áo dài tay để che bớt những vết chai sẹo do trong quá trình sàng giấy chống tay vào thành bể lam xây xước. Con trai cũng vậy, anh nào vai cũng bị lệch sang một bên vì phải gánh vỏ Dó, đi lại cứ nghêng ngả.
Giấy Dó được làm từ vỏ cây Dó khác hẳn với công nghệ làm giấy hiện đại bỏ vỏ cây chỉ lấy thân gỗ làm bột giấy. Thợ làm thủ công ngâm ủ, đãi vỏ Dó đem giã bằng cối như giã gạo để thành bột chứ không nghiền bột giấy như kỹ nghệ giấy hiện đại. Giấy làm từ chất liệu thiên nhiên không có axít, không gây độc hại cho sức khỏe con người. Giấy xốp nhẹ và dai hơn thế còn hút ẩm và thoát ẩm cũng nhanh, lại ăn mực nên phải trải qua hàng trăm năm trong điều kiện nóng ẩm và bảo quản kém, sách tài liệu Hán Nôm bằng giấy Dó vẫn đậm nét chữ, không mục nát.
Trong các loại thì giấy sắc do gia tộc Lại ở thôn Nghè hay Trung Nha – Nghĩa Đô làm là loại tốt nhất, khổ to, mịn màng, dai, dày vẽ hoa văn đẹp. Chữ nghè không có ý nghĩa là ông nghè ông trạng gì cả, mà chỉ động tác ghè giấy, nện giấy. Xưa chưa có máy ép thì sai khi đúc giấy trên khuôn, nhuộm và phơi khô, nghệ nhân sẽ xếp thành tập đặt lên tảng đá dùng chày nện cho giấy mịn mặt. Làng Nghè đã có từ lâu. Khi mới rời đô tư Hoa Lư ra Thăng Long, năm 1011, vua Lý Thái Tổ đi thuyền rồng dạo chơi vùng Bưởi, dân chúng tập trung về bến Giang Tân ngự giá, và dâng lên đức vua một tấm lụa thêu rồng, do dân xóm Bãi dệt và dân làng Nghè vẽ rồng. Đức vua khen người dân thật có nghĩa và dổi tên gọi làng Tân, làng Nghè và làng Dâu thành Nghĩa Đô: nghĩa là dân kinh đô có nghĩa, xóm Bãi gọi là Bái Ân hay ơn thấm rộng khắp. Muốn làm giấy sắc Nghĩa Đô phải chọn vỏ Dó sạch, sau khi làm thành tờ giấy thì ghè nén thật chặt, pha bột hoa hòe với phẩm hoa hiên tạo mầu vàng quét lên giấy. Sau đó vẽ lên giấy sắc những hình rồng phượng và các loại hoa văn bằng bột vàng thật hòa với keo da trâu. Các hình vẽ được quy định sắc phong cho phẩm bậc nào thì có hình vẽ ấy. Có hai loại giấy sắc và giấy lệnh, để vua dùng mỗi khi sắc phong cho các vị thánh thần và chức tước các quan, người có công đức. Thời Nguyễn, mỗi khi cần giấy sắc vua lệnh cho Tổng đốc Hà Nội, đến Nghĩa Đô sai thợ làm giấy. Lính đóng trại tại chỗ, và áp tải giấy về Dinh tổng đốc, nhập kho xong mới trả tiền.
Tuy nhiên, đến thế kỷ 20, người Pháp vào nước ta đã mở nhiều xí nghiệp làm giấy tây ở đường Thụy Khuê nên các làng giấy bị mai một. Rồi các năm 90 đổ về trước các nhà máy giấy của miền Bắc mọc lên ở nhiều nơi như nhà máy giấy Bãi Bằng, Trúc Bạch với công nghệ làm giấy hiện đại nên giấy xưa không còn chỗ. Giờ đây, chỉ còn ông Lại Phú Viên ở làng Nghĩa Đô từ năm 1944, là người làm giấy sắc cuối cùng. Hoặc ông Nguyễn Văn Xuân làng Đông Xã làm giấy Dó, giấy gói hoa, giấy ăn, giấy trang trí trong các đĩa hoa quả, và một số nơi làm giấy vệ sinh, giấy đánh máy chữ, giấy bìa, giấy gói hàng từ các loại giấy tái chế. Nếu như ngày xưa, giấy bay theo gió để trẻ em thoải mái đùa nghịch vẽ vời thì nay một tờ giấy thủ công làm ra quý phải giữ gìn từng tờ. Trước việc nghề tổ không còn, những người tâm huyết với nghề rất đau lòng và muôns khôi phục nghề tổ song ai cũng biết tới những khó nhọc của việc làm giấy thủ công như thế nào và chỉ mong chờ vào sự quan tâm bảo tồn và phục chế làng nghề cuả Đảng và Nhà nước.
Giấy Yên Thái, gốm Bát Tràng, tranh Hàng Trống đã là niềm tự hào của người dân Hà Nội bao đời. Đến Bưởi hôm nay tuy không còn thấy việc làm giấy sôi động, song vẫn còn thấy dấu vết làng giấy xưa qua những gian hàng bầy bán những con dao xén giấy cong như chiếc liềm, những chiếc khung phơi giấy, những tập giấy gói hoa, gói hàng, tranh giấy dó Đông Hồ, những câu đối tết, những tấm giấy trắng đề thơ. Cạnh đó là nhiều hàng bán hoa cảnh, chim cảnh và gỗ lũa là những gốc cây bị mưa nắng bào mòn trơ ra những chùm rễ có thể làm bàn ghế đôn chậu đẹp. Để cho gỗ lũa thêm độc đáo, hôm nào thợ mộc cũng dùng búa đục đẽo lách ca lách cách. Nghe tiếng ấy, sao mà nhớ tiếng chày xưa đến thế!

Ý kiến bạn đọc (0)Add Comment

Thu nhỏ của sổ | Phóng to cửa sổ

security code
Nhập mã bảo vệ vào ô dưới đây:


busy
 
Tác giả : Chu Mạnh Cường

Xem các bài khác của cùng tác giả

Bài mới

Các tin xem nhiều

Tạp chí mới xuất bản

Đối thoại trẻ»
Phỏng vấn trực tuyến
Bài hát Việt 2009
VTV6
Hà Nội 36 phố phường
Chìa khoá thành công
Cuộc sống số
Mỗi ngày 1 cuốn sách

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay54
mod_vvisit_counterHôm qua189
mod_vvisit_counterTất cả46909

IP: 38.107.191.118
 , 
Hôm nay:07 - 9 - 2010
 3 người đang truy cập

Hỗ trợ trực tuyến

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: