Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tác giả:

 

“Gã thi sĩ hoang” Nguyễn Thánh Ngã không một đồng dính túi đòi “gõ” cửa thiền

Vũ Gia Hà | Thứ Sáu, 10/04/2020 17:34 GMT +7

Qua hai tập thơ “Gã thi sĩ hoang” và “Gõ” của nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã, “gã thi sĩ hoang” không một đồng dính túi đòi “gõ” cửa thiền “ăn xin” chút tĩnh lặng và định tuệ từ Đức Phật để tiếp tục làm một nhà thơ đạt giác ngộ, dù nghèo.

"Gã thi sĩ hoang" Nguyễn Thánh Ngã.

Nguyễn Thánh Ngã đòi “gõ” cửa thiền, ở đây có nghĩa là anh muốn sau khi vào tới không gian thiền, anh muốn bước theo lối đi của Đức Phật. Vì vậy mà Nguyễn Thánh Ngã trình bày đủ mọi chuyện từ tình yêu, ca ngợi phụ nữ, ca ngợi thiên nhiên, cảm nhận về cuộc đời, cảm nhận về đạo, mây mây và vân vân, để mong sao được “xuống tóc” đi tu. Mà đúng, ngoài đời Nguyễn Thánh Ngã đã “xuống tóc” rồi.

Thiền là một trạng thái tu hành trong Phật giáo. Thiền gồm nhiều loại, và tất cả đều hướng con người đến sự giác ngộ như Đức Phật. Thay vì ngồi tịnh tu như các nhà sư, Nguyễn Thánh Ngã thiền bằng cách làm nhà thơ. Chính vì vậy mà những câu thơ anh viết ra luôn phảng phất hương thiền, đó là sự nhẹ nhàng và thanh thoát; đó là sự chân thành và vẻ đẹp kín đáo; đó là sự hối lỗi chính mình và hối lỗi thay cho đời.

Nhưng cách tu của Nguyễn Thánh Ngã lại mang âm hưởng Bà La Môn, đó là có một chút phép màu. Anh tu kiểu gì mà đạt đến trạng thái “Gõ một tâm hồn bật dậy như mầm cây” (Gõ). Đến đây ta nhớ đến Đức Chúa Giê Su, Ngài có thể làm người thương tật trở nên lành bệnh, làm người chết sống lại, làm người mù mắt được sáng mắt. Nguyễn Thánh Ngã viết như vậy, chắc là đạt đến độ có “72 phép màu” của Tôn Ngộ Không.

Mặc dù đã có phép màu, nhưng để mọi thứ được chuyển động thì Nguyễn Thánh Ngã phải “gõ” vào mọi thứ: “làm sao mây có thể  trôi mà không tiếng gõ/ làm sao nước có thể đi mà không tiếng gõ” (Gõ). Đến đây, ta thấy Nguyễn Thánh Ngã ngây thơ vụng dại, nên sự thiền hành của anh tiếp sau đây có gặp những trúc trắc. Đầu tiên, đó là gặp rắn:

“Rắn hổ mun hung ác cũng nhẹ dạ trước cỏ non. Hồn vắng lặng của đất đai len tỏa mùi hăng. Cỏ non mềm mại không hề lo sợ rắn hổ kia. Nhưng  sống thầm là ơn huệ của tuệ giác loài cỏ. Rắn hổ không hề biết trong dòng nhựa đắng chát đang chuẩn bị một mùa hoa mật sẽ bày ra giữa bất tận đất trời…” (Tiếng chuông sương).

Sau là đến mưa: “Thiền ngôn mưa bật dậy, im lìm. Tự tỏa ra niềm linh ngộ. Mưa như pháp đốn. Đốn mưa. Mưa chẳng ngã. Mưa vô ngã. Mưa là minh triết của cơn giông...” (Mưa), đến nỗi “Tứ thơ dập nát ven đường”, “Tiếng hát ốm o len lỏi vào hồn” (Gã thi sĩ hoang). Nhưng đó là cách anh chọn, vì anh thấy “Đau buồn là bùn dưỡng nuôi cuộc sống/Cuộc sống muôn màu tôi chọn màu nâu” (Đã có lần). Nguyễn Thánh Ngã đã chấp nhận trớ trêu để “Câu thơ có thể nằm nghiêng trổ một đóa nỗi buồn...” (Gã thi sĩ hoang). Đó là đóa hoa buồn đẹp. Đó là kiểu thiền lạ.

Nguyễn Thánh Ngã đã thể hiện được chất “gã thi sĩ hoang” đó là chất bụi bặm, và nghèo túng sự hiện đại. Chính vì thế mà anh luôn cảm thấy mình khó hòa nhập khi ở chốn đông người. Anh chỉ muốn “Một ngày an lành/Là được thấy một bông hoa/Một đôi dép cũ/ Và một đôi chân trần...” (Ngày lành). Một sự đòi hỏi giản đơn, một sự đòi hỏi biết đủ của một người đang đi đến gốc Bồ Đề. Nhưng khi đến được đây, anh thấy Phật đã bỏ đi, như trong bài “Bồ đề”, anh đã than vãn.

Hành trình tu thiền của Nguyễn Thánh Ngã bằng thơ sẽ còn tiếp tục. Liệu anh có đạt được cảnh giới giác ngộ bằng cách “đi hoang” và “gõ” linh tinh vào mọi thứ hay không? Nhưng ít nhất, ta thấy ở Nguyễn Thánh Ngã một sự thánh thiện, không sa ngã vào lợi danh và ma đạo. Và hơn hết, Nguyễn Thánh Ngã yêu cái đẹp đến tận sâu tâm hồn.

 

Nhà thơ Nguyễn Thánh Ngã sinh 1958 tại Ba Gia, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Ngay từ thuở thiếu thời, anh đã theo bố mẹ về định cư tại vùng núi Đà Lạt (Lâm Đồng). Các tập thơ của Nguyễn Thánh Ngã: Nhớ Xanh, Nhìn từ đôi mắt khác , Thượng nguồn ngạc nhiên (2005), tập thơ Gõ”, “Gã thi sĩ hoang”...
Nhắc đến Nguyễn Thánh Ngã, người đọc còn nhớ đến anh ở thể loại thơ Haiku. Thơ Haiku ra đời vào thế kỉ 17 tại Nhật Bản. Dòng thơ này đạt được thành tựu cao vào thời kì Edo (1603 - 1867) với đại diện tiêu biểu là  Matsuo Basho – một thiền sư nổi tiếng bấy giờ. Sau thi sĩ trứ danh này là Yosa Buson, Masaoka Shiki. Thơ Haiku gồm 3 dòng với tổng cộng 17 âm. Do sự cô đúc về câu chữ, nên những người làm thơ Haiku phải thật sự xuất sắc nắm bắt được vấn đề, thi tứ, hình ảnh muốn nói để gói gọn trong những câu chữ ngắn ngủi này.
Dưới đây là bài thơ Haiku của Nguyễn Thánh Ngã đạt Giải nhất thơ Haiku Việt – Nhật 2009. 

                                                                                            Đứa trẻ

                                                                                             Xó chợ
                                                                                      Chiếc lon trống
                                                                                      Hạt mưa mồ côi

 

 

 

 

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}