Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

“Lão” nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn với văn hóa cổ truyền dân tộc

Trần Lệ Chiến | Thứ Ba, 21/05/2019 09:29 GMT +7

 ================================================================================

                   

Tôi lật tập sách Nhac sĩ Viêt Nam do Hội Nhạc sĩ Việt Nam xuất bản năm 2007, vần chữ “S” trang 868 thấy Dương Đình Minh Sơn Chuyên ngành Lý luận, tiếp trang 869 Đặng Thái Sơn Chuyên ngành biểu diễn. Nghệ sĩ Đặng Thái Sơn nổi tiếng cả thế giới đều biết, còn “Lão” nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn Chuyên ngành lý luận viết sách văn hóa cổ truyền dân tộc không mấy người hay, vì sách của “Lão” hầu hết đều  do  tài trợ, hoặc Nhà nước đặt hàng nên chỉ gửi đến các Thư viện chứ không bán ra ngoài, cho nên độc giả không mấy người biết về “Lão”. Thế mà Ban biên tập sách lại đặt “Lão” đứng trước Nghệ sĩ Đặng Thái Sơn, làm  tôi nẩy tính “tò mò” của người “viết lách”.  

         Ảnh tư liệu HVNDG Hà Nội

Vào Google thấy “Lão” có ba cửa: Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn, Dương Đình Minh Sơn.Co.cc và Dương Đình Minh Sơn. Mỗi  cửa ấy có đến 10 trang về bài viết của “Lão”. Khi đưa “chuột” vào mục hình ảnh thì thấy ảnh về các sách của “Lão” do các Thư viện đưa lên: Sách Ngôn ngữ hình thành âm nhạc Thái Tây Bắc(2001), Sách Văn hóa Nõ Nường (2008) Ca trù cung đình Thăng Long (2009) Giải mã biểu tượng văn hóa Nỏ Nường (2017), Ngoài ra Hội Âm nhạc Hà Nội trong Đề tài Chào mừng kỷ niệm 65 năm ngày Giải phóng Thủ đô sắp tới sẽ in  đầu sách của “Lão”:  Hình thức âm nhạc- Tự học; hiện “Lão” đang viết sách Phả hệ Thần Đồng Bách Việt là từ Thần Đồng Ngọc Lũ Việt Nam. 

Di vật biểu tượng là lời di huấn của tổ tiên 

Sách của “Lão” tập trung giải mã các hiện vật khảo cổ: “di vật là vật chứng trung thực, khách quan nói lên tầm cao trí tuệ của Chủ nhân”. Giớí thiệu về sách Giải mã biểu tượngvăn hóa Nỏ Nường Nhà khảo cổ học GS Nguyễn Khắc Sử viết: “Trong khảo cổ học, thường đặt tên các đồ vật như hoa văn chữ S đứng, chữ S nằm; văn hình sóng nước, hoa văn hình khuông nhạc, hoa văn hình vòng tròn chấm giữa, văn vòng tròn tiếp tuyến, văn hình bu gà, hoa văn trổ ống giạ… Không chỉ đặt tên, mà việc giải mã các hoa văn này thường mang tính ước đoán, còn việc liên tưởng các biểu tượng này đến một tư tưởng của cộng đồng người sáng tạo ra chúng hoặc mã hóa sang một hiện vật khác trong đời sống của xã hội, thì chưa có ai đề xuất. Nhà văn hóa Dương Đình Minh Sơn đã giải mã một số biểu tượng văn hóa thông qua các cổ vật khảo cổ cụ thể, như khuyên tai, hình tròn bốn mấu, các loại vật dụng như âu độc, bát đũa, nồi niêu … mà theo tác giả, thứ nào cũng đều phân làm hai mầu đen - trắng.  Đó là quan niệm về cặp lưỡng hợp âm - dương.

Điều bất ngờ về cách lý giải hiện tượng con người sinh ra từ quả trứng người mẹ với một hệ thống các hoa văn có từ đồ gốm, đến đồ đồng rồi hoa văn thổ cẩm của người Thái, đã được tác giả cấu trúc lại để minh chứng cho luận điểm của mình, mà đỉnh cao là hoa văn Thần Đồng Ngọc Lũ biểu đạt cuộc lễ hội vòng đời cổ nhất của dân tộc. Đây là điểm độc đáo, rất đáng quan tâm”.(1)

Lễ hội vòng đời  thời Đại Hùng Vương

 Dân tộc ta từ khởi thủy, ở các thị tộc, bô lạc đã có tục tổ chức lễ hội “Vòng đời” (Sinh nhật) vào đầu xuân hàng năm gọi là lễ hội Múa mo: cầm dùi “phộc” vào mo nang, nay gọi là là lễ hội Nỏ Nường. Đến thời điểm vua Hùng thành lập nước Văn Lang Vua cho mở lễ hội này thành cuộc “Triển lãm” hoành tráng: sự giàu có và bản sắc văn hóa của dân tộc ở từng vùng, từng miền đưa về trưng bày: các kiểu nhà, thuyền chiến,vũ hội hóa trang cánh chim là thể hiện tầng lớp quý tộc- hiệp sĩ, quý bà mệnh phụ. Qua đó, vua Hùng cho ghi lại thành từng motip hoa văn ở Thần Đồng Ngọc Lũ làm vật hèm Biểu chương vương quyền Ấn tín: Từ vòng đời của con người ấy mà hình dung về lịch sử hình thành phát triển của dân tộc khởi thủy đến ngày thành lập nước Văn Lang. Bản lịch sử của dân tộc mới là vật biểu chương vương quyền Ấn tín. Kinh thánh và Kinh Phật cũng là lịch sử của các đạo giáo đó.

Về Thần Đồng của Việt Nam (Mã Viện gọi trống đồng), các học giả nước ngoài như Fr. Heger người Áo cố vấn của trường Viễn đông Bác Cổ (EEEO) và Hội nghị nghiên cứu về Viễn Đông ở Hà Nội (1930), trong công trình Những trống kim khí ở Đông Nam Á  (1902):  khi đó, với 165 chiếc trống đồng ở các bảo Tàng của châu Á, châu Âu và ở các sưu tập của tư gia, Heger đã khảo tả chi tiết về các yếu tố kết cấu hình dáng và vẽ lại hoa văn của từng chiếc trống. Trên cơ sở đó, ông phân trống đồng làm bốn loại, ký hiệu I, II, III, IV và ông coi trống đồng loại I ra đời đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam(2).

Còn H. H.Loofs-Wwiosowa người Australia, gốc Đức, từng ở trong đội quân viễn chinh Pháp có nhiều hiểu biết về văn hoá Việt Nam, với thuyết Biểu chương vương quyền (regalia) coi trống đồng là vật tượng trưng cho quyền lực hợp pháp. Ông cho  rằng có một quyền uy tôn giáo tồn tại ở bắc Việt Nam trong thời cổ, tương tự với quyền uy của giáo hoàng phương Tây. Theo ông các tù trưởng bộ lạc ở nhiều vùng Đông Nam Á đã cử sứ bộ đến bắc Việt Nam để xin ban các trống đồng mà với chúng, họ có thể làm vua hợp pháp (3).  

Qua đó “Lão” bỏ tên trống đồng mà gọi là Thần Đồng và Giải mã hoa văn Thần Đồng Ngọc Lũ: Rằng mặt Thần Đồng Ngọc Lũ với núm tròn ở giữa và 28 tia “hình ba góc” bao quanh biểu đạt 28 ngày trong chu kỳ kinh nguyệt của người mẹ (qua đó mà hiểu về 28 ngôi sao “Nhị thập Bát tú” trên đường Hoàng Đạo). 28 ngày trong chu kỳ kinh nguyệt: ngày 14 trứng rụng thụ tinh là sống (dương) không thụ tinh là chết (âm). Vậy 14 là số định mệnh. Hoa văn Thần Đồng Ngọc Lũ là bội số của 14 (định mạnh) có 4 nhóm. Một. Hoa văn biểu tượng (hình chữ S dây tơ hồng…) Hai, hoa văn đồ vật (nhà thuyền ..), Ba, hoa văn chim thú, Bốn, hoa văn hình người. Bốn nhóm hoa văn ấy cộng lại là bội số của 14; đứa bé trong bụng mẹ 280 ngày cũng bội số của 14(4).

Mũ hoàng hậu thời Hùng Vương

“Lão” chứng minh loại mũ Hoàng hậu thời Hùng Vương gọi là mũ hình củ ấu (ảnh 1): ấu là “âu” mẹ Âu Cơ. Từ Âu là thuần Việt còn Cơ là theo Triệu Cơ của ngại lai. Loại mũ này còn ở đền Hương văn Cát Bồ Tát thờ thân mẫu Kinh Dương Vương tại Tiên Phi Hòa Bình. Loại mũ này được đưa về phương Bắc có cải tiến (ảnh 2) và phụ nữ trong Hoàng tộc thời Hai Bà Trưng chạy sang đảo Sumatra Indonecia nay vẫn còn đội trong ngày Hội (ảnh 3).

Loại mũ hình củ ấu là bắt nguồn từ hình cái “Oa” của người mẹ ( “0a” là tên gọi của vùng Phú Thọ ) còn vùng đồng bằng gọi là “cua” (ảnh 4). Hình “Oa” được biểu tượng thành cái giếng  (ảnh 5). Giếng “Oa” thờ trong hậu cung của các đình- đền như đền Giếng (đền Hùng), đình Hùng Lô (Phú Thọ) đền Tây Đằng Ba Vì, đền Cây Si Hà Nội (đường Tôn Đức Thắng số 317). Hình “Oa” nơi sinh ra dân tộc Kinh Giao Chỉ cho nên được làm biểu tượng Thần Đồng Ngọc Lũ hình người mẹ Thắt đáy lưng ong (ảnh 6): mặt Thần Đồng vẽ 28 tia là biểu đạt 2 8 ngày chu kỳ kinh nguyệt, sách Y học phẩu thuật tiếng Anh Tập 5 tr 30 ( biểu đồ 7). Với ý nghĩa đó của hình “Oa” cho nên  người phương Bắc lấy về đặt ra thuyết Nữ Oa lấy Phục Hy đẻ ra các dân tộc của họ.

Cho nên số 14 được dân tộc ta lập thành biểu tượng văn hóa: Đường lên chùa Một Cột 14 bậc (ảnh 8), Tháp chùa 14 tầng, quạt 14 nan . Còn loại quạt 17-18 nan là do Hồ Xuân Hương đặt ra thì chỉ một số nơi thực hiện.

14 bậc lên chùa Một cột                                                                           Quạt 14 nam                        

 GS Vũ Ngọc Khánh cho rằng, với sự tiên nghiệm và sự khảo nghiệm như thế tác giả đã kiên trì đi sâu vào nhiều hiện tượng, đã giúp cho chúng ta có được lời giải đáp, hoặc những sự hiểu biết, sự tiếp cận thần kỳ. Những ông Đùng bà Đà, những hòn Trống Mái, những ông Mốc bà Banh và cả những giây Tơ hồng, Đôi đũa bông trên bát cơm cúng người quá cố, v.v, rồi đến những hiện tượng nhà Mồ ở Tây Nguyên, những tượng tranh trên các tháp(5).

“Lão”  đã để lại dấu chân ở khắp mọi miền:Tây Bắc (ảnh 15), rồi đến ngồi bên chiếc cồng bằng gỗ ở Tây Nguyên (ảnh 15) và (ảnh 16) đang đi ở vùng trung du,

Lão” là chúa hay đề xuất

Thuở còn ở Lai Châu, trường Nghệ thuật tỉnh mở lớp một năm dạy múa và nhạc cụ Mangdolin cho đội văn nghệ huyện Mường Tè, nhà trường mời “Lão” đến dự tổng kết học kỳ. “Lão” đề xuất nên cho mỗi em học nhạc cụ một chiếc đàn Mangdolin, vị Phó sở nói không có kế hoạch. “Lão” nói, bớt đi một tháng học, lấy tiền ấy mà mua đàn, người ta trừng mắt. Thế là một đội văn nghệ huyện 20 em về học một năm, khi về nhà không có đàn là bỏ đội văn nghệ.

Trường Nghệ thuật tỉnh chọn 10 em trong các lớp đã tốt nghiệp các khóa trước đó về học sáng tác âm nhạc, do thầy Tuấn Kiệt dạy. Kỳ tốt nghiệp “Lão” được mời đến làm Ban giám khảo, thấy 5 em có khiếu năng sáng tác, viết được ca khúc. “Lão” đề xuất Trưởng phòng Tổ chức Sở giới thiệu các em ấy về học trường Nghệ thuật khu Tây Bắc ở tỉnh Hòa Bình, sau cho học tiếp ở Nhạc viện. Nếu đề xuất ấy được thực hiện thì nay tỉnh Lai Châu sẽ có một vài nhạc sĩ có trình độ Đại học.

Ở Hà Nội, Đại lễ kỷ niệm 1000 Thăng Long (2010) nhà thầu định dựng 5 cổng chào để giới thiệu về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nhiều ý kiến kể cả báo chí phản ứng nhưng Dự án sắp xong: đào hố, đúc cột đợi ngày dựng. “Lão” gửi Kiến nghị lên Bí thư Thành phố: Lý giải văn hóa Việt Nam không có hằng số 5, cuối thư “Lão” ghi: Tôi gửi ý kiến này, hẳn nhà Thầu không chấp nhận, nhưng học theo nhà Văn hóa Nguyễn Trường Tộ, dù nay không chấp nhận nhưng để cho đời sau.

Sau 3 tháng, các nhà khoa học xem xét và GS Thành ủy Phạm Quang Nghị gửi thư trả lời cho “Lão”:  Cảm ơn về ý kiến đóng góp xây dựng thành phố của nhà nghiên cứu ở phong bì trong, còn  phong bì ngoài đề chữ “Hỏa tôc”. “Lão” vui mừng và cảm ơn Lãnh đạo đã chấp nhận đề xuất của “Lão”.

“Lão” còn gửi kiến nghị đến Cục Du lịch (Bộ Văn hóa T.T& D L) không chấp nhận đề xuất của một tỉnh nọ, đưa tiết mục “giã trống đồng” vào cổ động Du lịch. Cứ để họ biểu diễn, khi biết là việc làm ấy sai trái với nền văn hóa của dân tộc thì họ bỏ. Còn khi đã đưa vào Nghị quết thuộc pháp chế, dù thấy sai cũng không bỏ được.

Cục Du lịch Bộ Văn hóa T.T& D L có thư trả lời cho nhạc sĩ, là không đưa tiết mục ấy vào cổ động Du lịch. Và nay không thấy nơi nào đánh giã trống đồng nữa.

Thần Đồng Ngọc Lũ phiên bản nhà nước ta đã tặng cho Liên hợp Quốc, vinh dự được đặt ở cạnh cửa Hội trường lớn.Từ năm 2000 trong các bài Báo “Lão” đề xuất lấy hoa văn Thần Đồng Ngọc Lũ làm Logo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nay tại nhà Khánh tiết của Quốc Hội đã đặt biểu tượng Thần Đồng Ngọc Lũ, và các Đại sứ của nước ta ở các nước tại Hội trường cũng trưng bày biểu tượng Thần Đồng mỗi bên 4 lá cờ (ảnh 4). Số 4 là biểu tượng văn hóa hằng số chẵn (2-4-8) của dân tộc ta, nhất là số 4:Tứ  linh, Tứ bình, Tứ qúy , Tứ trụ triều đình, Tứ bất tử …

 

“Lão” còn đề xuất phục chế đôi đầu rồng của dân tộc ghi trên thạp đồng Đào Thịnh và trên tang Thần Đồng Ngọc Lũ (ảnh 6) thành đôi đầu rồng của dân tộc ta (ảnh 7) khác các đôi rồng của Đông Nam Á .

Hiện “Lão” đã hoàn thành Bản thảo sách “Hình thức âm nhac tự học” Hội Âm nhạc Hà Nội dự định in trong năm nay (2019).

                  Ảnh 6. Đôi rồng cổ.                                                Ảnh 7. Đầu rồng phục dựng.

Tóm lại. “Lão” được độc giả chú ý là ở mỗi đầu sách, mỗi bài báo“Lão” đều đưa ra một điểm mới tạ như: tiếng “” tạo một âm đầu tiên trong âm nhạc chứ không phải 2 tiếng “dô ta” trong lao động như Lỗ Tấn nói(6), hoặc Đôi rắn quấn nhau nuốt voi là biểu tượng dây Tơ hồng của một đôi vợ chồng: Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn / Thuận bè thuận bạn tát cạn bể đông. Khi vợ chồng thuận ý thì bể đông còn tát cạn huống hồ nuốt một con voi có thấm vào đâu. Đó là thời dân tộc ta đang hái lượm trong rừng, biểu tượng khuyên mọi người cùng nhau hợp lực thì giết được chúa rừng, hoặc  điệu Hát  khóc khi người thân qua đời mới tạo ra tính đặc trưng trong ngôn ngữ âm nhạc: ở người Thái là điệu khóc “Po thẩu” (ông ngoại)(7) còn  người Kinh là điệu “Lâm khốc” khởi nguyên trong ca trù Hát thờ cửa đình (8). ..; Không thể nói hết về tìm tòi sáng tạo trong nghiên cứu của “Lão”.

_________________________

1. Nhà khảo cổ học PGS Nguyễn Khắc Sử, Đọc sách Giải mã biểu tượng văn hóa Nỏ Nường của tác giả Dương Đình Minh Sơn Nxb Đại học quốc gia 2017. Báo Điện tử Văn hiến Việt Nam .

2. P.Heger, Những trống kim khí ở Đông Nam Á (chữ Đức) Laixich, 1902, bản sao lưu tại Viện bảo Tàng lịch sử Việt Nam, Tiến sĩ Ngô Thế Phong cung cấp.

3..H.H.E Looc—Wiosowa. (Sự phân bố của trống Đông Sơn : vài suy nghĩ)  Trong Perter  ( chủ biên) “ Dân tộc học và lịch sử ”  Wicsbaden 1983 tr 410-417.

4.Dương Đình Minh Sơn Giải mã hoa văn Thần Đồng Ngọc Lũ Tạp chí Khoa học xã hội 2011, tr 99-214.

5. Vũ Ngọc Khánh  Văn hóa Nõ Nường một thuật ngữ đáng quan tâm, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số tháng 10 nắm 2008 tr68-74.

6. Đức Bằng, Những hiểu biết phổ thông về âm nhạc, Tạp chí Âm nạc & Múa  1966 tr 20.

7. Dương Đình Minh Sơn, Ngôn ngữ với việc hình thành âm nhạc Thái Tây Bắc,  Nxb âm nhạc 1994 tr247.

8. Dương Đình Minh Sơn, Ca trù cung đình thăng Long Nxb Khoa học xã hội Hà Nội 2009, tr 188.

 

 

============================================================================

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}