Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Ám ảnh trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh

Thy Lan | Thứ Tư, 07/10/2015 02:07 GMT +7
Từ Nguyên Tĩnh xuất thân là một người lính. Người đọc biết đến Từ Nguyên Tĩnh qua những tác phẩm như tập truyện ngắn Mối tình chàng LungMù (1992) - Giải thưởng của Hội đồng văn học về đề tài chiến tranh và lực lượng vũ trang, truyện ngắn Người tình của cha đã được dựng thành phim, hoặc như Gã nhà quê, Mùa yêu đương...

Cuối năm 2011, Từ Nguyên Tĩnh trình làng tập truyện Truyện ngắn II (*), gồm 40 truyện, có ba mảng đề tài: Chiến tranh, nông thôn, thế sự. Với bút pháp tự sự xen lẫn trữ tình lãng mạn... những trang viết của ông thấm đẫm tính chân thực, thẳng thắn đến mức trần trụi. Chính cái đó tạo nên phong cách truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh. Đó là những góc cạnh khác nhau của đời sống, từ số phận cá nhân đến dòng họ, từ quê nhà đến khắp nẻo đường mọi miền tổ quốc. Tác giả tái hiện chân thực và sinh động cuộc sống bằng xương, bằng thịt như một tất yếu. Bốn mươi truyện là cấp số nhân của biết bao mảnh đời ẩn hiện quanh ta.  

Bao trùm tập truyện là ám ảnh của nhà văn về một thời chiến tranh hùng tráng và bi thương. Hiện thực chiến tranh ấy, tác giả không ngồi viết trong tiếng bom rơi mà trong sự hồi tưởng và chiêm nghiệm. Truyện Chiếc xe thồ của cha tôi nói về sự mất mát hy sinh của một thời và cách ứng xử của thế hệ sau với lịch sử. Hình tượng chiếc xe thồ gửi gắm quan niệm nhân sinh. Có những thứ người này cho là bình thường, thậm chí cũ kỹ hết giá trị nhưng với người khác lại vô cùng ý nghĩa. Giá trị không phải ở bản thân sự vật mà ở cách người ta sử dụng và đối xử với chúng. Chiếc xe thồ không chỉ là phương tiện nối hai miền Nam - Bắc mà còn là sợi dây tình cảm gắn kết cha con, nối quá khứ với hiện tại. Chiếc xe thồ vừa là vật chứng của cuộc chiến tranh vừa làám ảnh, vừa là thông điệp mà quá khứ kỳ vọng, đặt lòng tin về một thế hệ tiếp nối. Đó là nền tảng, là sự gợi mở cho những sáng tạo, là sự truyền lửa cho những ý tưởng lớn lao hơn: “Con biết không, bố đã đọc to thư của con cho anh em đồng đội nghe đấy. Bố nói với các chú ấy bây giờ thì đường xấu nhưng Táo nhà tao ra trường sẽ lo cho bọn mình con đường và cây cầu để đi”. Đoạn kết là lời của người cha nhắn gửi lại cho con trước lúc hy sinh thật cảm động: “Con đường ra trận cha đi còn nhiều hố bom, đạn kẻ thù. Nhưng đến đời con thì yên lành... Cha cũng không hình dung ra lúc đó... Cha gửi lại cho con chiếc xe là con thấy hình bóng cha, con giữ chiếc xe này mà đi nhé, chắc đường lúc đó tốt hơn lúc cha đi...”(tr 27…). Chiến tranh đã khép lại nhưng dư âm của nó vẫn khắc khoải trong lòng người đọc.

Chiến tranh không những để lại vết thương nhức nhối trên cơ thể mà còn nhứt nhối bao tâm hồn tham gia cuộc chiến. Trên trận tuyến Hàm Rồng khốc liệt và Quảng Trị, Quảng Nam cam go... có biết bao nhiêu đồng đội đã ngã xuống. Nhiều cảnh đời những người còn sống cũng éo le không kém. Trong truyện Dịch hạch tác giả dựng lại những chi tiết thật cảm động. Đồng đội gặp nhau mừng mừng, tủi tủi. Hai người bạn ôm nhau “chỉ ba cánh tay và ba cái chân” cũng không cảm thấy bất hạnh. Họ may mắn hơn những người đã ngã xuống và biết nâng niu, trân trọng hơn cuộc sống này. Bên cạnh đó còn  những kẻ đào tẩu, những tên phản bội và sự dối trá được tác giả khắc họa thành hình tượng đại diện cho cái xấu. Dõi theo con mắt của nhà văn, chúng ta còn nhận thấy sự khổ đau của người tù Côn Đảo trở về chứng kiến vợ con mình đã thành vợ con của một kẻ phản bội. Cái nghịch lý trớ trêu, đeo bám dai dẳng không chịu buông tha. Khổ đau giằng xé tâm can, anh đối diện với lòng mình thấy còn khó hơn đối diện với bom đạn. Rất nhiều những éo le, những số phận nghiệt ngã trong tập truyện... cứ như “con vắt dai dẳng ” đeo bám vào người đọc trong Phản bội, Nấm mồ biết nói, Chuyện không định kể, Kẻ đào tẩu, Một người lính, Bia mộ...

Chiến tranh khốc liệt, gian khổ hy sinh, thương tật đầy mình... thôi thúc bản năng tồn tại con người phải gần nhau, yêu nhau hơn để sẻ chia, để sống. Các tác phẩm: Ra giêng em đi lấy chồng, Kẻ đào tẩu, Mùa xuân này có em, Mùa xuân sẽ về, Hoa cúc vàng bên hòn Trống Mái... Tình yêu được tái hiện gieo vào lòng người đọc với nhiều cung bậc khác nhau. Có tình yêu đi đến hạnh phúc như Chiến và Long trong Mùa xuân sẽ về. Cô sinh viên học tập bên Đức trở về nước không ngại đạn bom tìm gặp bằng được người yêu là lính. Sự thủy chung, trong sáng của cô gái khiến đồng đội cảm phục mà chung sức tác hợp cho hai người. Mùa xuân ấy bộ đội Hàm Rồng cũng vui hơn trong niềm hạnh phúc lứa đôi. Còn trong  Kẻ đào tẩu là sự đeo bám, dằn vặt dai dẳng trong tâm hồn con người, từ chiến tranh cho đến thời bình. Đức đã phản bội tình yêu và sự hy sinh của Thơm. Anh bảo viết thư gửi cho Thơm nhiều lắm đều không có hồi âm. Nếu yêu Thơm đến vậy thì gói đồ cô gửi trước lúc chia tay sao lại không là báu vật của người lính? Mà mãi sau này anh mới biết trong đó có thư và đọc thư thì thật là vô lý. Đó chỉ là sự vô tâm không thể biện minh. Cô đã cứu sống anh khỏi sự tật nguyền. Vẻ đẹp người con gái Cà Mau không chỉ về hình thể : “Người ta không thể hiểu nổi trên cái Đất Mũi mặn, nắng gió dữ dằn như vậy lại có người trắng và đẹp đến thế...”(tr 240); mà  còn cái gì đó đẹp hơn  thế,  cao sang hơn thế; như là một sự sẻ chia, một sự cảm  thông, bù đắp  cho nhau. Nhờ sự chăm sóc chân  thành  của Thơm mà Đức “được hồi sinh”.  Cô yêu anh, trao anh tất cả sự chân thành, sự trinh trắng đời người con gái.  Hai người có  với  nhau   đứa con. Vậy mà anh đã phản bội cô.Dù cố “lấy cái lý của mình ra áp đặt” thì những “cơn co giật” cũng đang hành hạ Đức khiến “mặt mũi méo mó đến thảm hại”. Không có một phiên tòa nào kết tộinhưng tự vấn lương tâm là phiên tòa khắc nghiệt hơn nhiều. Tác giả đẩy người đọc đến chỗ tự nhận thức về sự trả giá.

Cùng với đề tài chiến tranh, ký ức về làng quê trở đi trở lại trong tác phẩm của nhà văn. Ký ức về làng quê nằm ngay trong những tác phẩm viết về chiến tranh hoặc thế sự. Hàm Rồng - Đông Sơn nơi đóng quân và chiến đấu của tác giả trong kháng chiến trở thành máu thịt trong những trang viết của ông. Đọc truyện ngắn Sự tích một câu hò ta bị cuốn vào cảnh sắc của quê hương. Tác giả viết bằng niềm tự hào: “Tôi vào làng Đông Sơn. Những mái nhà bạc phếch gắn vào núi nhìn xa như chiếc lá khổng lồ, dát lên trên nền xanh là đồng ruộng và núi đá như một bức tranh thiên nhiên khảm bằng bạc. Không biết ai đã ví von dòng sông như dải lụa nơi đây, với Hàm Rồng thì thật đúng, đứng ở trên núi mà ngắm từ ngã ba Giàng về Hàm Rồng, dòng sông uốn lượn như một dải lụa xanh, đứng bên phía Bắc từ làng Yên Vực mà ngắm lúc mặt trời gác đỉnh núi Tiên, chẳng khác chi con Rồng nằm yên, để rồi bừng phức phun lửa lên trời cao”(tr523) . Thiên nhiên ban tặng cho nơi đây vẻ đẹp trữ tình và kỳ vĩ. Ở chính vùng quê đẹp đẽ, nên thơ ấy con người hồn hậu, kiên cường càng làm tác giả không muốn rời xa: “Tôi rời Đông Sơn - Hàm Rồng với bao buồn vui bâng khuâng lạ lùng, như thể thiếu một điều gì. Mới hôm qua, làng Đông Sơn còn xa lạ. Hôm nay, Đông Sơn gần gũi, lưu luyến làm tôi băn khoăn thao thức... Số phận biết bao người nằm im trên nghĩa trang Hàm Rồng, biết bao sự tích, cuộc đời, lấy ai mà kể lại... Chúng tôi ở lỳ trong trận địa “ba cây thông” hàng chục năm trời. Người Đông #Sơn gắn bó như ruột thịt, có tiếng súng nổ là các mẹ, các chị đã có mặt. Lúc ấy cậu Mền đang bé, làm liên lạc cho trận địa chúng tôi. Bị bom vùi mấy lần nhưng Mền nhất quyết xin được chiến đấu cùng bộ đội...”.(tr 531). Có thể nói Hàm Rồng luôn ám ảnh trong sáng tác của Từ Nguyên Tĩnh. Không cụ thể, nhiều sự kiện như ký sự Hàm Rồng những ngày ấy,nhưng những trang viết về Hàm Rồng ở tác phẩm Sự tích một câu hòin trong tập Truyện ngắn II của ông là những trang viết trữ tình, mượt mà nhất. Có lẽ sự yêu mến mảnh đất quê nhà, cũng là nơi ông đóng quân đã làm nhà văn xúc động mới tạo nên những trang viết có sự đột phá trong giọng văn và ngôn từ như vậy.

Ký ức về làng quê còn được tác giả miêu tả trong nhiều tác phẩm Danh nhân của Làng, Thợ nồi đất, Tiếng ta hay phong vị quê nhà... Đó là câu chuyện về những miền quê khác nhau nhưng đều có chung đặc điểm là  nghèo, gian khổ nhưng giàu tình nghĩa, đậm đà phong vị riêng, nhất là nơi đó sản sinh ra những con người góp phần xây dựng quê hương và làm nên lịch sử... Tác giả miêu tả trong tác phẩm Danh nhân của làng với ký ức về làng Đống thật cụ thể và sinh động: “Đời dân xã Đống nghèo hèn nhưng tốt bụng. Nấu nồi nước chè xanh chát là ới cho cả làng đến uống xúm. Có lẽ nghề đi rừng tạo cho dân xã Đống thói quen vui với cộng đồng... Có lẽ mai sau không ai nhớ đến anh Bé của tôi đâu. Vì anh đâu phải là danh nhân của đất nước. Nhưng họ nhớ cái cầu ông Bé... Anh là danh nhân của cái làng nhỏ bé này”.(tr60)

Song hành cùng mảng đề tài chiến tranh, làng quê, là mảng đề tài thế sự. Đây là  đề tài có khả năng phản ánh sâu sắc những ký ức về cuộc đời, gia đình, dòng tộc, quê hương. Các truyện thuộc mảng này mang tính chất luận đề: Bệnh nghề nghiệp, Trai đò dọc, Ngài Sumôtô, Cuộc đời chiến tuyến, Cơm mới, Bạn tù, Công chức, Thái và tôi...

Đổi đời là câu chuyện mang tính thời sự nóng hổi. Tác giả đã nhìn thấy nỗi khổ đau của những người phụ nữ chốn thôn quê phải rời xa gia đình, quê hương để làm ô sin ở nơi đất khách quê người. Cuộc sống nghèo khổ quá khiến người ta quẫn bách, họ ra nước ngoài làm ăn mong sự đổi đời. Đó là khát vọng chính đáng. Nhưng nghịch lý lại xảy ra chính là những đức ông chồng, những đứa con của họ.

Chínhđồng tiền đã biến đổi một nông dân chất phátnhư anh Dân, anh Cát, anh Khiển, chú Gia, thành một “trưởng giả”. “sáng ngủ mọc rễ chưa chịu dậy, lúc dậy khệnh khạng rủ nhau đi ăn sáng. Bạn ăn sáng toàn là những người có người nhà đi nước ngoài... Ruộng đất tất nhiên thuê cho cửu vạn nó làm chứ”.(tr382.) Ăn sáng chưa tan cuộc, giờ ăn trưa đã đến, thế là bát mì tôm, đĩa lòng, cút rượu. Họ hát karaoke, đánh bài ăn tiền, sắm xe, điện thoại mới, trưng diện quần áo, phì phèo thuốc thơm... Cái “bộ tứ” chẳng hẹn mà thành ra thân thiết “ăn chơi kiểu công tử không ra công tử, địa chủ không ra địa chủ, lưu manh không ra lưu manh; bằng tiền người vợ phải lao động quần quật, không kể những bất trắc nơi đất khách quê người. Mới hôm qua, họ còn chân lấm tay bùn. Vậy mà có tiền của vợ từ ngoại quốc gửi về, lập tức rủ nhau chè chén thâu đêm. Đó là chưa kể những đứa con cũng được nới rộng khoảng cách sống của con nhà lao động, quen cách tiêu tiền không do mình làm ra”.( Tr391). Cái bi hài cứ thế len lỏi vào khắp ngang cùng ngõ hẽp mọi miền quê.

Viết về đề tài thế sự, nhà văn luôn quan tâm đến vấn đề nghề nghiệp của con người trong xã hội. Nhà văn quan niệm nghề nghiệp cũng chi phối nhiều đến cuộc sống và tính cách con người, đặc biệt tìm thấy trong sáng tác của ông những sự lý giải về nghề nghiệp rất tỉ mỉ và mỗi một sáng tác ông gửi gắm một quan niệm nhân sinh. Chính những điều đó tạo nên sự mới mẻ và chiều sâu trong sáng tác của ông. Ta như thấy rõ có một tấm lòng miệt mài đi khai sáng cõi người và lọc tìm những hạt minh châu còn ẩn sâu trong tâm hồn. Ta thấy cuộc đời đôi cái đáng buồn nhưng cũng nhiều thi vị và mỗi người phải góp phần mình làm chotốt đẹp hơn. Truyện Nghề đặc biệt là một câu chuyện về một loại nghề trong xã hội. Cách đặt tít truyện khiến người ta tò mò. Nhân vật chính với cá tính và quan niệm bị chi phối bởi chủ quan của tác giả. Từ Nguyên Tĩnh lý giải về công việc thổi kèn đám ma là một nghề đặc biệt để tiễn đưa vong hồn người đã khuất. Từ đó ông đưa ra luận giải “rằng nghề của gã còn dân chủ, gần gũi với cộng đồng hơn khối nghề khác. Chả thế mà nó đánh thức trong mọi người từ cao cấp đến tiện dân, một sự đồng vọng của người sống đối với người chết, đó không phải là nghề đặc biệt?”( Tr344…). Ý  nghĩa của câu chuyện hội tụ trong câu kết, “là nghề gì mà kiếm ra đồng tiền mà lương thiện đều cao quý cả!”. Xoay quanh vấn đề của một nghề mà tác giả gọi là đặc biệt, ông đưa ra tuyên ngôn về đạo đức nghề nghiệp nói chung.  Quan niệm về nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp là vấn đề luôn trở đi, trở lại ám ảnh trong sáng tác của nhà văn.

Giá trị của Truyện ngắn II  Từ Nguyên Tĩnh là chất hiện thực và tinh thần nhân văn cao cả. Bóng đen của chiến tranh, tội ác và sự ích kỷ đời thường không quật ngã được ý chí và sự vươn lên của con người trong quá khứ và hiện tại. Họ được tiếp sức mạnh từ cách mạng nhưng mãnh liệt hơn là sức sống nội tại, tỏa ra từ ánh sáng của sự lương thiện, tình thủy chung, vị tha.  

Truyện ngắn II Từ Nguyên Tĩnh kết cấu theo lối viết truyền thống. Không phải truyện nào cũng thật xuất sắc về nghệ thuật, nhưng rõ ràng là một nhà văn có nghề, sự bài bản, rành mạch trong cốt truyện là ưu điểm của nhà văn xứ Thanh này. Nhất là nhà văn tìm được điểm nhấn bằng việc xây dựng những tình huống bất ngờ gây xúc động hoặc đặt con người trong những tình huống éo le để nhân vật tự bộc lộ bản chất. Tác giả xây dựng được hệ thống nhân vật tương đối nổi bật về tính cách, nhất là tính bộc trực của người miền Trung. Trong tập truyện nhà văn sử dụng nhiều hư cấu nhưng tác giả có tài làm cho người đọc tin những vấn đề mình kể là sự thật. Tác giả lựa chọn ngôi kể thứ nhất (tôi). Từ ngôi kể này người viết dễ dàng đảo câu chuyện không theo trật tự thời gian mà truyện vẫn không bị rối và nhàm chán. Hạn chế của ngôi kể này chỉ hợp với tả tâm trạng chứ không hợp tả cảnh. Vì thế, truyện của Từ Nguyên Tĩnh có lúc đọc hơi mệt vì ngồn ngộn những việc, những người. Thế nhưng ưu điểm của lựa chọn cách phô chuyện là tự thuật những hồi ức của mình, tác giả đã tạo ra cho bạn đọc sự gần gũi. Một đặc điểm không khó nhận thấy về ngôn ngữ ông sử dụng nhiều tiếng địa phương nên chất bản địa trong văn ông khá đậm đà, đôi chỗ lạm dụng. Câu văn nhìn chung ngắn gọn dễ hiểu nhưng nhiều khi đi theo đường mòn, ít sáng tạo.

Cách xử lý câu của tác giả có lúc còn lúng túng. Người đọc khó cảm nhận nội dung tác giả đang đề cập. Chẳng hạn truyện Trung gà chọi tác giả viết: Bửa. Không có ý chí tiến thủ... (tr 127). Sử dụng câu đặc biệt không phải bao giờ cũng đem lại hiệu quả nghệ thuật. Trường hợp này không cần thiết tách thành hai câu. Tiếp theo tác giả viết: “Là quần chúng ngoài đoàn và ngoài đảng mà lãnh đạo đoàn viên đảng viên và cả những loại bửa, đâu phải dễ chịu gì. Cái bửa phá quấy không phải là địch mà hắn ỷ lại vào chiến tranh, để có dịp xả hơi, tụt tạt nếu có điều kiện” (tr 288). Nhất là có những đoạn văn tác giả bình luận dài dòng, trùng lặp. Bởi vậy, sức hấp dẫn của truyện sẽ còn cao hơn nữa nếu ngôn ngữ mới mẻ và linh hoạt.

Đọc truyện Từ Nguyên Tĩnh ta nhận ra nhà văn muốn vươn đến xây dựng loại truyện không có cốt truyện, hoặc ít nhất là cốt truyện được giấu kín để làm nổi bật tâm trạng của con người. Không gian và thời gian trong truyện không chỉ là hiện thực mà còn là thời gian và không gian tâm trạng qua cái nhìn và cảm hứng trực tiếp của nhà văn. Trong tập truyện còn sử dụng nhiều đoạn thơ trữ tình ngoại đề góp phần làm nổi bật tính cách nhân vật và bộc lộ tư tưởng của tác giả. Sự cố gắng về nghệ thuật của người viết là điều chúng ta nên ghi nhận. Đó là sự nỗ lực hết mình của con người đem hết cả tâm huyết đi tìm văn chương đích thực - văn chương vì con người.

Nếu ví mỗi nhà văn như một con thuyền, thì con thuyền văn của Từ Nguyên Tĩnh là con thuyền chở nặng ân tình. Những trang văn của ông không mượt mà, không trào phúng... nó dung dị, chân thật như một người chân quê. Chính điều này tạo nên phong cách riêng cho tác giả. Nhà văn gắn với đời giống như cây bám vào lòng đất. Nếu xa rời thế sự, nhân sinh cũng là tự tiêu diệt sức sống của mình. Cho nên, khi cuộc đời càng ngấm, càng về sau sức viết của ông càng mạnh. Ông viết như một cuộc chạy đua kẻo cuộc sống tràn vào mà viết không kịp thì thuyền bị đắm. Truyện ngắn II  từ khi mới xuất bản đã được sự mến mộ và cổ vũ của bạn đọc. Đó là nguồn động viên xứng đáng cho tác giả.

Cả cuộc đời nhà văn Từ Nguyên Tĩnh là sự cống hiến. Những sáng tác của ông đã và đang chiếm được tình cảm độc giả với khối lượng lớn tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau. Nhưng người ta vẫn nhớ nhất nhà văn xứ Thanh này trong phong cách một cây bút truyện ngắn. Chúng ta chờ đợi những sáng tác tiếp theo của ông với những trang viết ngày càng hấp dẫn.

----------------------------------------------------------
                                                                               
(*) TỪ NGUYÊN TĨNH, “Truyện ngắn II”, Nxb, Hội Nhà văn, 2011, 548tr.

 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}