Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Báo thù

Truyện ngắn của Lê Đình Trường | Thứ Tư, 07/05/2014 01:03 GMT +7
 Chín Nhỏ dắt tay anh về, dọc đường gặp ba anh. Chú bảo: “Trả con cho thày nè”, anh nghe giọng Chín Nhỏ thất thần như vừa qua cơn ác mộng. Ba anh ngồi xuống ôm lấy anh. Xương hàm ba siết lại, giật nhè nhẹ. Mặt ông trắng bệt.
 
Một
 
NGÀY ĐÓ, ANH VỪA TRÒN BẢY TUỔI.

Những ngày hè, nắng chói chang, oi bức, anh chơi ống thụt nước. Chọn ống tre to bằng cổ tay, anh cắt trống một đầu, quấn vải vào chìa ống thụt làm một pít-tông hút và đẩy nước; đầu ống tre còn lại là một đầu bít bởi mắc tre, anh dùng đinh nướng đỏ dùi từng lổ nhỏ như vòi sen, thọc đầu ống tre xuống nước sông, kéo pít-tông, nước được hút vào đầy ống tre, khi anh đẩy pít-tông nước sẽ được tống đi, bắn ra thành những tia như mưa.

 Anh cầm chiếc ống thụt nước vừa đi vừa xịt nước tung lên trời, nước từ trên cao lóng lánh rây xuống trên tóc anh, trên quần áo anh. Gặp con chó hay con heo nhà ai thả rong trên đường anh xịt cho nó một phát. Rùng mình bất ngờ, ba chân bốn cẳng chúng chạy dài. Hết nước, anh ra đầu cầu bờ sông hút nước đầy ống.

Buổi sáng hôm ấy, đang ngồi trên bờ sông mông lung, bỗng anh nghe tiếng ca-nô từ dưới quận chạy lên, hướng về phía tỉnh lỵ. Tiếng máy vọng lại nhỏ như đầu kim, âm thanh mơ hồ nhưng tai anh bắt dính tiếng động ấy ngay. Nhìn ca-nô bay trên dòng sông là niềm đam mê lớn của anh, nó lướt qua mắt anh nhanh như chớp để lại phía sau một lối mòn trũng, hót xuống dài trên dòng nước, rồi nước nhanh chóng tràn vào, lấp đầy đường nước ca-nô vừa chạy qua. Những lượn sóng lớn tung vào bờ, sụt lở đất, rung rinh, nghiêng ngã những đám dừa nước... Tiếng động cơ đang lớn dần. Anh ngóng về hướng đó, mút mắt chờ đợi. Rồi anh thấy từ rất xa một điểm trắng lóa nắng đang bay trên mặt nước, càng lướt tới, điểm sáng ấy càng lớn dần. Nó đã to bằng cái đĩa. Bỗng nhiên rất mơ hồ, anh thấy cái đĩa ấy không lao tới nữa, dường như nó đột ngột bật ngược trở lại, lảo đảo chao đi, ngụp lặn, trồi sụt. Liền đó, bên bờ sông bên kia có tiếng súng nổ, những lằn lửa đạn chéo ngang chéo dọc xẹt vào chiếc ca-nô ấy. Ba chân bốn cẳng, anh cắm đầu chạy về phía đó. Tiếng tim anh thình thịch. Hai chân anh như tréo lại, cuống quýt rối loạn . Anh thở hào hển. Mồ hôi nhễ nhại trên mặt, trong áo. Súng vẫn nổ giòn, liên tục, gấp rút. Tăng tốc dữ dội đôi chân cò ma của anh xé gió. Chạy được một quảng khá xa, bất ngờ, một người đàn ông chộp lấy vai anh, giật ngược, lôi vào nhà, đóng sầm cửa lại, nạt nộ gay gắt, bảo anh phải chui ngay xuống hầm. Cảm nhận được sự nghiêm trọng của vấn đề, anh ngoan ngoãn nghe theo. Đó là chú Út, hàng xóm. Chú xô anh vào hầm: “Không được ra ngoài, nguy hiểm lắm”. Đến chiều, anh mới được thả ra. Anh chạy về phía chiếc ca-nô bị bắn. Đám đông vẫn còn tụ tập, bàn tán. Chiếc ca-nô đã biến mất. Dòng sông phẳng lặng, bình yên, dường như chưa hề xảy ra điều gì. Anh cố soi tìm dấu vết, chỉ thấy cả một vùng cỏ dại rộng lớn bên bờ sông giập nát, ngã rạp xuống dưới những dấu chân chộn rộn, đầy bùn sình.

Ngày hôm đó, anh đánh mất chiếc ống thụt nước, không rõ anh đã bỏ quên hay làm rớt nơi nào.

 Đường về nhà vắng tanh, khác thường.

Ba anh đang nằm trên võng cả người ông chìm mất trong bóng tối chạng vạng.  Anh chỉ thấy đôi mắt ông phản chiếu anh đèn dầu trứng vịt, sáng quắt. Ba bảo: “Đại úy quận trưởng bị Việt cộng bắn rồi.”

 Đêm ba mươi, tối đặc mồ hóng, không một ánh sao, những sợi dây kẽm lớn được chăng chìm chéo ngang dòng sông bẫy chiếc ca-nô của Đại úy quận trưởng. Sáng hôm sau, khi chiếc ca-nô cất cao mũi băng hết tốc độ trên dòng sông rộng hướng về phía tỉnh lỵ, tốc độ nhanh đến chóng mặt đột ngột rướn lên mắc vào dây kẽm đang căng chìm dưới nước. Nó đã lọt vào điểm phục kích. Những cánh vịt ca-nô rùng sâu xuống, quay siết lồng lộn, cuốn nước rú lên, sóng trào bọt cuộn cuộn, cả một khúc sông giãy giụa, ngầu sôi sùng sục. Ca-nô bật nẩy, dội ngược, quay mòng trong đám khói thải từ động cơ, nháng lửa tung tóe, tàn khói đen rối loạn, nó trượt dài theo đừng chéo dây kẽm, tấp nhanh vào bờ sông bên kia.

Tiểu liên từ bờ sông, khuất trong rừng dừa nước và lùm bụi, quạt xuống mục tiêu.

Viên đại úy gục ngã. Khẩu colt vẫn còn gài trong bao súng, không kịp rút ra, một tay đã buông thỏng ra ngoài mép ca-nô, những ngón tay chập chờn chấm trên mặt nước phập phồng chảy, máu nhểu xuống, tan lửng lơ, trộn vào nước sông. Người lái ca-nô, thượng sĩ cận vệ của đại úy, cũng không kịp chụp lấy cây súng dài nằm xuôi, sát bên cạnh, băng đạn đầy ắp, gài cứng, mới nguyên, sáng lóa màu đồng thau.

Từ lùm bụi hai bên bờ sông du kích quân nhào xuống dòng sông lội về phía chiếc ca-nô đang gầm rú một cách đơn độc và trơ trọi.
Sáng hôm sau.

Trống tựu trường hồi một, thôi thúc.

Trống hồi hai dài liên miên, bất thường.

Trống hồi ba rung chuyển một vùng không gian rộng lớn. Khác với thông lệ, từ trước đến giờ không có trống hồi ba.

Sân trường vắng ngắt không một bóng học sinh, kể cả những học sinh ở gần trường, không ai đi học. Chỉ có một học sinh ôm tập ngơ ngác và buồn hiu đứng bên cạnh thầy giáo, đó là anh. Ông thầy đang cầm dùi trống xuôi theo chân, cánh tay mõi rã rời. Ông đang ngóng chờ từng đứa học sinh.

Hễ chạng vạng, tất cả các nhà trong xóm tự động đóng cửa. Sân trường hoang vắng, cỏ dại mọc cao. Ban ngày quốc gia rần rập, ban đêm Việt cộng đi, vừa cười vừa nói. Nhà nhà khép nép, lặng lẽ. Xóm làng trầm mặc, lo âu.
 
Hai.
 
MỘT ĐÊM, KHUYA LẮM RỒI, ANH CÒN LẶN LỘI BỜ KINH thăm câu. Bỗng có tiếng lội nước bì bõm phía sau, hướng về phía anh, chưa kịp quay lại, một người đàn ông bất ngờ đã vổ vai anh: “ Được con cá nào không Minh?”. Người đàn ông đang xách một xâu ba con cá lóc lớn. Còn anh, đã thăm gần hết hai mươi cần câu cắm, nhưng chưa gỡ được con cá nào. Giỏ anh bao giờ cũng rổng không. Có chăng chỉ một hai con cá lóc cửng. Anh tiu nghỉu: “Không chú ơi. Cá không chịu ăn mồi của cháu”. Người đàn ông cười lớn, vang rộng trong đêm vắng. Người đàn ông này  là Chín Nhỏ rất quen với ba anh. Ông ở cuối xóm, biệt lập, chung quanh nhà ông không có nhà nào. Khi lội ruộng, băng qua khu đất nhà ông bao giờ tim anh cũng đánh thình thịch. Anh sợ cái vẻ đơn độc, bí ẩn của ông. Hôm nọ, nhân lúc ông đi vắng, tò mò anh ghé mắt qua khe cửa, trong nhà ông ngổn ngang những bức tranh và những chén bột màu dang dở.

 Thỉnh thoảng ông đi ngang nhà anh, dừng lại chốc lát, ngập ngừng, gọi vọng vào: “Có cá lớn nè, làm vài ly thầy ơi”. Khi đó, ba anh đang dạy lớp Một, vòng qua lớp Hai rồi lại chạy qua răn đe, quát nạt, gỏ thước, khẻ tay, quất roi vào mông học sinh, giữ trật tự lớp Ba. Tất bật, lăng xăng, ba ít có thời giờ ngồi bên bàn cờ, chén rượu. Biết thế, nhưng ông ta vẫn nhảy ngang con mương, đứng án trước cửa lớp: “Tôi mới vẽ xong vài bức tranh, mời thầy tới xem, cho vài lời bình phẩm, say đắm dữ dội như Vincent van Gogh. Cảm hứng, tôi vẽ suốt đêm, không ngủ”.

 Ba anh lạnh, hiền, kín đáo. Thỉnh thoảng có những cuộc rượu với những phụ huynh học sinh trong xóm, ai mời, ông dốc cạn, hoặc tới quận ông uống, không hề từ chối. Mặt lì, lạnh, trắng bệt, nhưng khi cười hàm răng ông đều hạt bắp, giọng cười ấm vang xa toát một vẻ đồng cảm sẻ chia những dòng tâm sự bất tận trên bàn nhậu. Khi tàn cuộc những người trên bàn nhậu ồn ào, rối loạn, xiêu đổ, ông trở về nhà nằm nghỉ trong chốc lát rồi trở lại bàn với những bài soạn, hoặc ngồi nhìn trân trân vào di ảnh của mẹ anh trên bàn thờ. Về mẹ, ông chỉ nói với anh một câu duy nhất: “Mẹ mất, nhà hết vui rồi, phải không con?”...

Dường như, vào một đêm nào đó, ba có ngồi nhậu với chú chín Nhỏ, tại nhà. Chỉ có hai người. Anh chợt thức giấc, nằm trong mùng nhìn ra, trong ánh đèn dầu lớn, người Chín Nhỏ khoa chân múa tay. Ba anh ngồi như pho tượng, chậm rãi rót rượu và uống hoài, không nghỉ.

Những chỗ êm, cá nhiều, Chín Nhỏ đã chiếm hết. Nếu anh có đến trước chọn những chỗ ấy cắm câu, khi ra thăm, sẽ thấy những cần câu cắm của mình bị bẻ gãy không thương tiếc. Anh rất sợ người đàn ông này. “Chú chia cho một con cá lớn nè”- giọng nói ông thật thân thiện. Anh lắc đầu: “Con không lấy”. Người đàn ông: “Chú nhường bờ ruộng này cho con cắm câu, chịu không?”. Anh cộc lốc : “Con có chỗ cắm rồi”. Anh né ra, quay về. Người đàn ông vói kéo tay anh: “Bữa Đại úy bị bắn, con có đi coi không?” Anh nghe nước thấm vào chân mình thật lạnh. Anh rùng mình: “Có. Nhưng không kịp, không thấy gì hết. Chú buông con ra”. Người đàn ông siết cứng cổ tay anh: “Ủa, bữa đó ba con ở đâu?”. Anh quạu quọ: “Ở nhà”. Anh giật mạnh tay hai lần, Chín Nhỏ mới buông ra. Ném bỏ hết chùm cần câu trên vai xuống lòng kinh, anh chạy đùng đùng trên ruộng nước, về nhà. Về đến cửa, anh vẫn còn cảm giác người đàn ông kia đang đuổi theo. Anh xô cửa, cánh cửa dặt tới dặt lui. Hai cánh tay anh mỏi yếu, muốn xụi. Vào nhà, giở mùng, rón rén bò ngang chân ba. Khi nằm xuống giường, cơn run sợ vẫn khiến anh lạnh toát cả người.

Canh tư, anh giật mình tỉnh giấc. Trong nhà, đèn sáng. Ngoài bàn, ba đang ngồi nhậu với chú Chín Nhỏ. Nằm trong mùng, anh vừa siết cái gối ép cơn sợ vào lòng vừa mở mắt thao láo nhìn ra. Ba ngồi chắc, thẳng. Dường như người đàn ông kia đang say, giọng nhừa nhựa: “Tôi buồn quá. Đại úy N. là em ruột tôi mà thầy”. Một thoáng rất nhanh, anh nhận thấy trong cơn say vật vờ, ánh mắt ông ta quét qua gương mặt ba anh một tia sắc ngọt. “Mà sao thầy không ghé nhà tôi chơi, cá vừa nhảy hầm năm sáu con bằng bắp chân. Tôi rọng cá chờ thầy tới”. Ba anh cầm chai rượu, nghiêng rót: “Mai mốt tôi tới mà”. Chín Nhỏ chụp lấy bàn tay ba anh: “Đúng là bàn tay trí thức. Ngón dài chỉ cầm viết và cầm phấn”. Bỗng ông ta thầm thì chậm rãi từng tiếng: “Nhưng bàn tay này chắc đã khạc ra lửa?”. Ba anh mĩm cười: “À, tôi sắp hết phấn viết bảng rồi, anh nhắc tôi mới nhớ”. Vờ như tình cờ, sực nhớ, câu hỏi buông ra tuồng như không quan tâm đến câu trả lời của người đối thoại, người Chín Nhỏ bâng quơ: “Đại úy bị bắn vào ngày Chủ nhật. Trường học nghỉ. Sáng hôm đó thầy đã đi đâu”. Ba anh đáp, nhẹ nhàng, vu vơ: “Tôi thăm lúa, ngoài đồng”. Chín Nhỏ ngửa cổ đổ vào miệng trọn một ly rượu đầy: “Thầy có biết thằng nào bắn Đại úy không? Ba anh trả lời chắc nịch: “Việt Cộng”. Say mềm rồi chợ tĩnh: “Nhưng tôi hỏi, thày biết thằng nào không?”. Ba anh lắc đầu: “Việt cộng phục kích, làm sao biết rõ người nào?”. Mai phục bằng giọng nhừa nhựa đầy ắp hơi rượu, gà gật rồi bất thần lộ diện, quyết tâm vây gí ba anh vào một vòng tròn không lối thoát. Dường như người đàn ông ấy muốn siết thòng lọng vào cổ ba, nhưng lần nào cũng hụt. Mắt nhìn thẳng, long lên, giọng người đàn ông chậm, rõ và chắc: “Sau phục kích họ còn để lại dấu chân trên bãi cạn. Khi họ bò những hình bàn tay còn in trên đất mềm. Anh nghĩ họ có thể thoát được sao?”. Ba anh đứng dậy và cười phá lên: “Cô Tấm thử giày sao? Anh định ướm bàn chân lên từng dấu chân à? Làm cách nào vậy? Mấy ngày nay, nước rong nhảy khỏi bờ, không còn dấu vết đâu anh”. Người đàn ông, giọng kẻ cả: “Thầy nghĩ vậy sao?”

 Im lặng thật lâu.

Chín Nhỏ nói tiếp, giọng như tảng băng, như chưa hề có giọt rượu nào: “Tôi về” vừa nói ông ta vừa đứng dậy, tự mở cửa, bước ra.

 Gà vừa gáy canh năm.
 
            Ba.
 
          Cà-phê nhé thày. Mình ra cái quán ngoài kia.  Lâu lắm rồi, thày đâu có ngồi uống cà phê với Chín Nhỏ này.

Tôi kể thầy nghe, bức tranh tôi đang vẽ mô tả một trận phục kích mới. Tôi nghĩ là thầy đã nghe nói đến trận phục kích này, vừa cách nay nửa tháng. Nếu bây giờ đi trở lại con đường đó, thày sẽ ngửi thấy mùi chất nổ TNT còn lẫn khuất trong không gian. Từ quốc lộ có một con đường rẽ ngang đi vào xã, đó là một con đường nhỏ tuyệt đẹp. Hai bên đường là vườn cây xanh mượt mà.  Không gian mở ra, đó là những cánh đồng mạ non xanh, rập rờn. Vào mùa hè, có những cánh đồng trồng lác, những đám lác mọc cao nghiêng nghiêng những triền xanh thẳm. Thanh bình, yên ả. Trên những con đường làng, người ta phơi lác, những sợi lác suôn dài nằm im dưới những bóng nắng. Có thể nghe thấy tiếng ê a  của những học sinh nhỏ từ những lớp học vang ra.

Đây là một ngoại ô, cách thị xã khoảng 6km đường bộ, 700m đường chim bay. Thầy chưa đến đó bao giờ? Tại sao thầy chưa đến đó? Tôi không tin.  Những ngày đầu năm mới, nam thanh nữ tú vào đây du xuân như trẩy hội. Nhưng những ngày bình thường, con đường này thật vắng lặng. Bình yên. Vắng lặng. Không có nghĩa là không chiến tranh. Nội tại của xã T. sùng sục máu lửa. Nữ Việt cộng giả làm vợ của xã trưởng, có bầu, có con với xã trưởng. Đã ăn nằm như vợ chồng, nhưng vẫn, nửa đêm tổ chức mở cửa nhà cho du kích vào bắt xã trưởng dẫn đi. Thày có thể tin người vợ đó là Việt cộng không? Dân vệ, ban ngày theo quốc gia, ban đêm nguyên hình là Việt cộng. Thày giáo cũng vậy, hai mặt. Mối quan hệ của người Việt Nam mình thật phức tạp. Một bà mẹ, con trai lớn tập kết, mấy đứa còn lại theo quốc gia. Rất nhiều gia đình như thế. Chiến tranh, anh em ruột thịt cầm súng, đối mặt. Hòa bình thì sao? Những bi kịch về diễn biến tâm lí sẽ xảy ra. Tôi tin là như vậy.

À, tôi đã đi quá xa rồi. Lạm bàn chút chính trị vậy thôi. Tôi làm sao hiểu biết bằng thày.

Xã T, vành đai của của trung tâm tỉnh lỵ tràn ngập Việt cộng, thử hỏi cái thị xã này còn giữ được bao lâu? Đại tá M. tiểu đoàn trưởng, thuộc sư đoàn 9, đang trấn cửa ải ở Tây đô được quyết định điều đến xã T. trực tiếp làm một cuộc thị sát. Lính sư đoàn 9 rải rác dọc dài hai bên quốc lộ suốt 1km, bảo vệ an ninh cho Đại tá M. Hai bên con đường nhỏ dẫn vào trung tâm xã lính gác đường đứng đều khắp, nấp khuất sau những lùm cây. An ninh chặt chẽ, con kiến bò không lọt.

Thiếu tá M. bình thản ngồi trên xe Jeep mui trần cùng với toán cận vệ lướt trên quốc lộ như vũ bão. Một xe trước đi tiền trạm. Xe sau cản hậu. Xe Thiếu tá đi giữa. Lính bảo vệ hai bên đường bồng súng chào im phăng phắc.

 Đoàn xe công vụ quẹo vào con đường nhỏ vào xã T.

Hai bên đường cây xanh mượt, lung linh những giọt nắng sớm mai. Không khí mát mẻ, đằm thắm.

An ninh nghiêm ngặt.

Tại trụ sở xã cũng thế, vành đai an ninh bung rộng bán kính 2km. Tuy thế,  đây là thời khắc, mà xã trưởng lo lắng, run rẩy nhất. Phải ăn nói thế nào với thiếu tá M. khi tại xã này, Quốc gia ngày càng mất dân, Cộng sản ngày càng vây ép. Phải trả lời thế nào khi mạng lưới tình báo của địch cài đặt khắp nơi, nhất cử nhất động hình như đều bị Cộng sản nhìn thấy.

Những bóng nắng ban mai xuyên qua những kẽ lá loang loáng lướt mau trên đoàn xe công vụ đang hướng về trụ sở xã. Gió buổi sớm lạnh lạnh se se. Thiếu tá M. thấy lòng thật thanh thản, bình yên. Dường như ông muốn dừng lại để cảm nhận trong giây lát không khí thanh bình của một vùng nông thôn trù phú. Ông muốn ngắm cánh đồng đang trong mùa khô, mờ mịt khói đốt đồng. Sáng nay, trời không gió, những đám khói ấy im sửng. Không gian đục màu sữa. Ông đã có một thời thơ ấu lang thang theo những con trâu cui kềnh càng, sừng cong vút, bén ngót…Ông đã đi xuyên qua những đám khói đốt đồng ấy. Mùi khói thật ngọt ngào, mê hoặc. Đã lâu rồi, ông chỉ quen với mùi khói của bom đạn, của chất nổ, mùi khét của xác người cháy đen còn nghi ngút khói sau một trận bom, sau những chiến dịch hành quân tìm và diệt. Ông chợt bồi hồi nhớ đến người vợ nhỏ bé và những đứa con ngoan của mình. Có lần, sau một trận hành quân, xe Jeep thắng gấp trước nhà, nhảy vội xuống khỏi xe, bên cổng hàng rào ông đã vội ôm hôn người vợ nhỏ bé của mình. Ông giấu đôi mắt rưng rưng trên tóc vợ. Ông không kể với vợ rằng, ông vừa thoát chết. Cho đến sau này, nhớ lại, ông cũng đã không kể với vợ rằng quân phục của ông, lúc ấy, lấm lem bùn lầy và đang vấy máu. Và ông nhớ hoài hình ảnh đứa con trai út năm tuổi chạy đến ôm chân ông, áp gương mặt vào áo ông. Khi ông bước lên xe, ngoái lại ông thấy trên gương mặt bầu bỉnh của nó lem một vệt bùn từ áo ông.

Oai nghiêm, hùng tráng đầy vẻ uy hiếp, đoàn xe Jeep của Thiếu tá M, với tốc độ của nhà binh, trực chỉ trung tâm xã…

Bỗng một tiếng nổ khủng khiếp…

Một ánh chớp chói, nhức nhối xuyên thấu, hủy diệt tế bào võng mạc từ dưới lòng con đường nhỏ xẹt lên vừa đúng lúc xe Thiếu tá M. chạy qua, theo đó là lửa cuồn cuộn loang rộng như những ngọn sóng cao trùm phủ, những lưỡi lửa khổng lồ táp ra bén ngót nóng bỏng, bứt ngang, thổi gục hàng dừa hai bên đường, cây cối ngã mẹp; con kênh dọc con đường nhỏ mặt nước sôi sùng sục,  bốc hơi ngùn ngụt. Trong vòng bán kính 50m vách lá bay đi, nóc nhà biến mất. Cả một vùng đất đai, nhà cửa phút chốc đã bị dọn trống một cách tàn bạo, chỉ còn sự hoang tàn, héo úa. Những ngôi nhà ở xa hơn, nồi niêu, soong chảo… rung lắc, lăn lông lốc trên nền đất. Những sợi rơm từ những đống rơm bay tứ tán, lộn nhào trong không gian, treo phất phơ trên những cành cây ngun ngút khói…

Chiếc xe Jeep tiền trạm chạy trước, thoát hiểm nhưng đã lật nhào dưới mương nước.

Liền sau tiếng nổ, xe của Thiếu tá M. bị hất tung và bị xé ra. Từng mảnh nhỏ tả tơi của chiếc xe bốc cao, tung bổng khỏi ngọn dừa rồi tất cả đổ ập xuống, lửa văng tung tóe.

Không tìm thấy thi thể, người ta chỉ tìm thấy chiếc đồng hồ của Thiếu tá M. Kim giây đã ngưng đọng. Đồng hồ dừng lại, đông cứng: 8giờ53 phút.

Ông đã mãi mãi mất hút vào những đám khói đốt đồng im sửng và mênh mông trên những cánh đồng kia.
 *
Cảnh tượng đó, thày có thể hình dung ra không? Thày có học, vậy tôi hỏi thày bao nhiêu kilogram TNT cho vụ nổ khủng khiếp ấy? Thày không biết à?  Học môn Hóa người ta có dạy mà. Hôm nay, tôi muốn chơi với thày một ván bài ngửa. Tôi lật những lá bài của tôi ra trước, thày có ngửa bài của thày ra không, việc đó tùy thày. Thày không hiểu tôi nói gì à? Dù thày không lật con bài của thày, tôi vẫn biết thày đang cầm con gì.

Bốn năm, ba vụ phục kích, thày nhớ không? Thày không quan tâm à? Tôi có phải nhắc lại cho thày không?

Hai chiếc giang thuyền thuộc hải đoàn 704 An Xuyên bị đánh đắm ở Rạch Gốc;  Ca-nô Đại úy N. bị chăng dây thép phục kích trên sông; và bây giờ là đặt chất nổ hạ sát Thiếu tá M…

Cả ba vụ, thầy đều quanh quẩn, lẩn khuất  rất gần, bán kính hoạt động của thày chừng 3km. Thày hoạch định kế hoạch? Hay tham gia trực tiếp các vụ phục kích trên? Tôi chưa có bằng chứng. Nhưng trong vụ căng dây thép ngang sông, bẫy chiếc ca-nô, bắn Đại úy N. tôi biết có sự tham gia của thày. Tôi là ai à? Tôi là Chín Nhỏ, em trai Đại úy N. cũng là nạn nhân của thày. Tôi có nên cảm ơn thày không, trong 3 vụ phục kích, thày đã đưa hai người vào cõi bất tử. Thày im lặng. Thày có vẻ thừa nhận. Tôi và thày uống cà phê trong quán này, trước mặt là một con đường rất đẹp, con đường này có tên là Đại úy Lê Phú N.  Hàng ngày đi trên con đường Đại úy Lê Phú N. thày có cảm giác gì không? Và con đường ở xã T. nơi mà nửa tháng trước xe của thiếu tá M. bị giật mìn, đường đó bây giờ có tên là Đại tá Trần Văn M. Hai người đó đã vào cõi bất tử. Một trong hai người là anh ruột tôi. Rất hãnh diện. Và cũng rất đau, rất nhục. Tố cáo thày là Việt cộng nằm vùng? Không. Chính tôi phải trả mối thù này. Thày cho là tôi nhầm lẫn? Thày chỉ là một thày giáo tiểu học an phận, bình thường, chỉ biết quanh quẩn với lũ trẻ. Ha, ha…nhiều năm rồi thày đi đâu tôi âm thầm theo đó, sát lưng thày, lẽ nào tôi không biết thày đã làm gì? Hôm nay, tôi đã ngửa bài vì tôi biết bài của thày đã bị lộ rồi. Tôi chỉ bắn tiếng với tòa án quân sự là thày tan nhà nát cửa. Chỗ của thày là Côn Đảo, là pháp trường, không phải ở đây.

Tôi có một món quà tặng thày. Chỉ là một khối đất, rất đơn sơ. Tôi đã bảo vệ, nâng niu nó nhiều năm rồi. Để tôi mở gói giấy ra. Một khối đất, trên đó có in hình một bàn tay tuyệt đẹp, rất rõ. Thày có thấy không? Bây giờ mình thử một chút. Thày hãy đặt bàn tay phải lên dấu của bàn tay trên khối đất. Nhẹ nhàng, từ từ thôi. Ô, bàn tay thày vừa khít với mẩu bàn tay trên khối đất. Đúng là bàn tay của thày. Thật tuyệt. Thật tài tình làm sao. Tôi lấy mẩu bàn tay của thày lúc nào à? Bí mật. Thày không thể nào biết nổi đâu. Tại sao tôi gằn giọng? Không. Không. Giọng nói tôi cũng bình thường. Bây giờ, tôi nói thật chậm đây: “Đây là khối đất tôi đào được tại hiện trường trong cuộc phục kích Đại úy N. Đây-đúng-là-dấu-in-bàn-tay-của-thầy-trong-cuộc-phục-kích-đó”. Thày có nhận món quà này không? Không à. Tôi sẽ mang về.

Từ giã thày. Tôi về. Thày có vẻ vô can. Thày có vẻ bình thản. Thày có vẻ ngơ ngác, không biết gì. Thày còn đưa bao nhiêu người vào cõi bất tử nữa. Thày có thể thắng cuộc chiến này không?

À, thày sẽ ghé qua nhà tôi xem tranh chứ. Không có gì e ngại cả. Nhưng hôm nào, thày hãy mô tả cho tôi cái cảm giác một người biết rằng mình sẽ bị bắt, nhưng không biết lúc nào. Một giây nữa? Ngày mai? Ngày mốt? Ắt hẳn mùi vị ấy không dễ chịu chút nào.
 
          Bốn.
 
KHI BA ANH CHUYỂN VỀ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TÂN THẠNH anh vẫn chưa biết bơi, vì ba răn đe, cấm tuyệt đối anh không được xuống sông. Anh xấu hỗ len lén nhìn bọn trẻ trong xóm trạc tuổi anh lặn hụp dưới sông như rái. Anh thèm ước được bơi như tụi nó ghê gớm. Câu nói của ba cứ văng vẳng bên tai: “Sông sâu, sóng lớn. Nếu con chết đuối, ba sống một mình sao?”. Hình dung ba sống một mình mà không có anh, giống như những buổi tối, ba chong đèn, ngồi đập muỗi chờ anh, trong khi anh lặn lội qua kênh này, rạch kia dưới trời sao lấp lóe thăm những cần câu cắm của anh. Không dính một con cá nào, anh về tay không, và thấy hoài hình ảnh ba ngồi chờ.     
 
Những buổi trưa anh thường ngồi trên đầu cầu ngoài bờ sông, thọc chân ốm như ống sậy xuống nước. Dòng nước mát chảy qua chân anh làm chân anh rung rinh, bạt nhè nhẹ theo chiều nước chảy. Tưởng tượng mãnh liệt: anh cởi tung áo thả bay theo gió lao xuống dòng sông, giữ hơi thật đầy trong phổi, hụp đầu sâu xuống nước, lặn một hơi từ bờ bên này qua bờ bên kia, trồi đầu lên, vừa lấy hơi vừa lắc cổ thật mạnh, tóc xoải tung bờm, nước bay tròn trắng xóa. Níu bẹ dừa nước, anh bước lên bờ làm một cuộc thám hiểm. Bờ sông bên kia dường như không có nhà... chỉ toàn những bụi rậm. Từ trong những bụi rậm ấy những đàn chim vụt bay lên mải miết chân trời. Hoặc có một chú chim đơn lẻ nào đó vụt tốc lên, đảo cánh kêu hốt hỏang, đường bay chao đảo rối lọan như vừa bị con vật gì đó tấn công.Tiếng tu hú, bìm bịp đang không ngớt bỗng im bặt một hồi thật lâu như nghe ngóng động tĩnh xem việc gì đã xảy ra.

Mỗi ngày.
Bờ sông. Đầu cầu.
Thui thủi.
Thả tâm trí bay theo những giấc mơ huyễn hoặc.
Buồn bã.
          Lững thững. Quay về.

Một hôm, vừa chuẩn bị rời khỏi đầu cầu, Chín Nhỏ đã bước đến, trên tay là hai trái dừa khô thật to. Chú nói: “Chú làm phao cho con tập bơi nè, con trai ở đây phải biết bơi”. Anh ngại ngùng, lo sợ, lưỡng lự. Anh giương mắt dò xét nhìn ông ta. Thái độ Chín Nhỏ thân thiện, ngọt ngào. Chú Chín đã tướt từ hai vỏ dừa thành hai sợi dây, nối hai trái dừa khô lại. Kéo tay anh trở lại bờ sông, cởi áo cho anh, chú đẩy anh ra mé nước: “Không sao đâu. Chú sẽ nói ba đừng rầy con”. Như có một sức hút kì quặt, anh riu ríu nghe theo. Chú đỡ anh nằm sấp trên mặt nước, choàng dây nối hai trái dừa khô qua ngực anh. Hai trái dừa khô nổi phều. Anh cũng nổi phều, bồng bềnh trên những lượn sóng vỗ vào bờ đã nguôi ngoai sức mạnh. Anh bơi bập bỏm gần mé sông. Chú Chín trông anh, chừng như chú rất hồi hộp, bồn chồn, phấp phỏng. Chú sợ ba anh bất ngờ về đến?

Chân anh đập nước, hai tay bơi rối loạn trên nước, tiếng đùng đùng vang lên khi anh giơ chân khỏi mặt nước và đập xuống, nước văng tung tóe ướt áo chú Chín. Tiếng chân anh đập nước giống như tiếng những con cá lóc lớn quẩy mình trong mương vườn vào những đêm khuya. Anh bị uống vài ngụm nước sông, mằn mặn. Những ngày sau, anh có thể bơi ra xa. Chú Chín ngồi đầu cầu bờ sông luống cuống đứng bật dậy, hét lớn: “Đừng bơi ra xa, bơi vào, nhanh lên”. Anh vội bơi vào. Lạnh cóng, anh bước lên bờ. Sợi dây nối hai trái dừa khô siết những vòng nguệch ngoạc ngang ngực anh, rướm máu. Chú Chín móc chai dầu khuynh diệp xoa cho anh. Giúp anh mặc áo, cài không sót một nút nào, giấu không cho ba thấy những vết siết của sợi dây xơ dừa trên ngực anh.

 Một lần, tự tin anh có thể nô giỡn với những đợt sóng khi tàu chạy ngang, anh đạp chân xuống bùn lấy trớn lao vào những ngọn sóng đang tràn tới. Gió to, sóng lớn bủa vào anh. Anh bị nghiêng đi, hai trái dừa khô bỗng đứt dây rời khỏi ngực, trôi nhanh dập dềnh hút theo dòng nước ra giữa sông. Anh bị hụp chìm xuống, nước tràn vào mũi, vào miệng, đầu óc choáng váng, tối sầm. Tay chân quờ quạng chới với trong nước. Anh buông chân xuống, chân không chạm đất. Hốt hoảng, anh quẩy đạp dữ dội, tay quấu quào níu trong nước hướng vào bờ. Anh bị ngộp, nước tràn vào miệng, vào mũi từng đợt, chảy tuột vào bụng. Chân bung đạp hết lực trong nước, tay quạt thật mạnh, anh trồi đầu khỏi mặt nước. Anh hít hơi, mở mắt, qua màn nước mỏng trên mặt, anh thấy dáng Chín Nhỏ đứng nhìn anh lạnh lùng thẳng băng, không chút động tĩnh. Một lần nữa, anh đứng xuống, hi vọng cuối cùng tìm một điểm tựa dưới chân để trồi đầu lên, mong hớp thêm không khí, lại hụt chân, anh chìm xuống. Chung quanh bức tường nước tối sầm, tàn nhẫn tràn lên, sập xuống và khép kín, vùi nhanh anh xuống đáy sông.

Giữa lúc ấy, một bàn tay nắm vai, kéo anh vào bờ. Siết. Giật. Lôi sền sệt.Tức tưởi. Không chút nương nhẹ. Lên đến bờ sông, đột ngột buông ra.  Đầu anh đập ngửa xuống đất.

Lúc đó, anh mới chín tuổi, nhưng anh vẫn không bao giờ quên cái cảm giác mừng rỡ, hòan hồn khi biết mình vừa thoát chết.

 Chín Nhỏ dắt tay anh về, dọc đường gặp ba anh. Chú bảo: “Trả con cho thày nè”, anh nghe giọng Chín Nhỏ thất thần như vừa qua cơn ác mộng. Ba anh ngồi xuống ôm lấy anh. Xương hàm ba siết lại, giật nhè nhẹ. Mặt ông trắng bệt.

Anh khóc tức tưởi.Mặt anh ướt đẫm và  tím tái. Nước trên tóc hãy còn rủ xuống ròng ròng.

Chín Nhỏ trở gót. Mặt xanh dờn. Hai bàn tay run quíu. Nước sông từ quần áo Chín Nhỏ nhểu xuống, rê dài trên con đường đất theo những bước đi hấp tấp của Chín Nhỏ.

Kể từ đó Chín Nhỏ bỏ xứ đi biệt tăm.
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}