Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Bê trọc "tái ngũ"

Văn hiến | Thứ Tư, 25/09/2013 07:30 GMT +7
Nhà xuất bản Dân trí vừa tái bản cuốn tiểu thuyết "Bê trọc" của nhà văn Phạm Việt Long. Sau 14 năm được xuất bản với 3 lần tái bản, "Bê trọc" lại xuất hiện trên văn đàn nước nhà, giống như anh lính tái ngũ.

 

JPEG - 31.4 kb

Ngay từ khi mới ra đời, "Bê trọc" - một tiểu thuyết thuộc thể loại không hư cấu - đã thu hút được công chúng bởi tính chân thực, sinh động, phản ánh một giai đoạn hào hùng của cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.

"Bê trọc" đã được Đài Truyền hình Việt Nam chuyển thể thành phim truyện truyền hình 4 tập, với tên gọi "Nhật ký chiến trường", chiếu rộng rãi trên các kênh truyền hình trung ương và địa phương suốt nhiều năm qua.

Trong lần xuất bản này, để tiện cho bạn đọc sử dụng, NXB Dân trí chia tác phẩm thành 3 tập:

- Tập 1 Vượt Trường Sơn. Ở căn cứ.
- Tập 2: Về đồng bằng
- Tập 3: Tới ngày toàn thắng.

Văn hiến Việt Nam trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của nhà báo lão thành Đặng Minh Phương đăng trên báo Nhân dân khi "Bê trọc" được xuất bản lần đầu vào năm 1999.


“BÊ TRỌC”, CHUYỆN ĐỜI THƯỜNG TRONG CHIẾN TRANH

Đặng Minh Phương

Có lẽ nhiều bạn đọc rất ngạc nhiên khi nhìn thấy cuốn sách có cái tên rất lạ lẫm “Bê Trọc” do Nhà xuất bản Thanh niên in và phát hành những ngày đầu năm 99 này. Đó là tên gọi dân gian không có trong chính sử, xuất hiện giữa những năm chống Mỹ, cứu nước để chỉ những cán bộ chiến sĩ chưa có gia đình riêng từ miền Bắc lên đường vào chiến trường B, những cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc trở lại miền Nam, những người miền Nam thoát ly gia đình chiến đấu ở chiến trường B (miền Nam) thời chống Mỹ, cứu nước, họ lên đường làm nhiệm vụ mà không có một phần lương trích để lại cho người thân.Tác giả Phạm Việt Long thời ấy cũng là một “bê trọc”. Anh rời cơ quan Thông tấn xã Việt Nam ở Hà Nội vượt Trường Sơn công tác, làm phóng viên mặt trận, vào biên chế của Thông tấn xã giải phóng Trung Trung bộ, trực thuộc ban Tuyên huấn khu 5.

Với gần 700 trang in khổ vừa bao gồm nhật ký xen lẫn những thư từ trao đổi, tin tức, phóng sự… và cả một số bài thơ nóng hổi tính thời sự dạt dào tình cảm, tác giả đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe; những việc bản thân mình và đồng đội sống và hoạt động ở chiến trường, rất chân thực, không tô vẽ, hư cấu. Những điều ghi chép về đời thường trong chiến tranh ấy không một chút tầm thường. Bởi nó là hành động hàng ngày của những con người dũng cảm, sống có lý tưởng sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, tất cả sẽ chiến thắng giặc Mỹ xâm lược, tất cả cho sự nghiệp độc lập, thống nhất nước nhà.

Chỉ mấy trang đầu, khi tác giả đeo ba lô lên đường từ trường 105 ở Hoà Bình - trường huấn luyện ngắn ngày cán bộ đi B, vượt tuyết lửa khu 4 để vào Truờng Sơn những ngày đầu tháng 5 - 1968 ấy, tác giả đã cung cấp cho người đọc biết bao sự kiện sôi động của miền Bắc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ. Bom tấn, bom bi, bom từ trường, bom nổ chậm, đèn dù treo lơ lửng… pháo phòng không nhả đạn vào lũ giặc trời Thần sấm, Con ma. Rồi con đường Trường Sơn huyền thoại với những cánh rừng đại ngàn, những suối sâu, đèo cao, dốc thẳm, những “ruồi vàng, muỗi bạc, vắt kim cương”, đá cắt gai cào, những người liên lạc dẫn đường, tình nghĩa quân dân thắm thiết, những “binh đoàn nối đuôi nhau ra tiền tuyến”, vượt qua rừng lửa bom na-pan, chất độc hoá học mà giặc Mỹ ngày đêm trút xuống những con đường xẻ dọc ngang hòng “đốt sạch, giết sạch, phá sạch” ngăn cản bước tiến của quân dân ta giải phóng miền Nam. Ở đây, người đọc không những thấy tinh thần anh dũng, gan góc của chiến sĩ Trường Sơn mà còn được biết cuộc sống đời thường của họ với những kiến thức cần thiết để thích nghi với hoàn cảnh cực khổ cao độ và thiếu thốn trăm bề như cảnh đeo ba lô thế nào cho đỡ nặng, cột võng thế nào cho nhanh và chắc chắn để khi cần có thể tháo gỡ một cách thật mau lẹ và khi gặp dốc núi cheo leo không giọt nước uống thì một nhát dao phạt ngang cây giang (loại họ tre nứa) thế là có những giọt nước tuyệt vời vừa mát bổ lại vô cùng tinh khiết. Giữa rừng núi âm u, các chàng trai thủ đô lần đầu đặt chân lên Trường Sơn cũng biết lấy kim uốn lưỡi câu, lấy chỉ xe dây và làm cần câu cá. Cuộc sống “đời thường” đã dạy cho họ từ cách hút ốc suối đến phân biệt các loại rau rừng…

Cuộc sống ở ban Tuyên huấn, ở Thông tấn xã giải phóng khu 5 hiện lên qua những dòng nhật ký, tất cả sự gian nan vất vả mà cũng rất vui tươi, hào hứng, lạc quan, tình đồng chí đồng đội gắn bó keo sơn. Đặc biệt là những chiến công lẫy lừng, những hy sinh cao cả, thầm lặng của các tầng lớp nhân dân miền núi và đồng bằng liên khu 5. Biết bao tên tuổi có mặt trong “Bê trọc” thuở ấy lặng lẽ “vô danh” sau này là chiến sĩ thi đua, anh hùng lực lượng vũ tang. Tác giả rất hạnh phúc có mặt ở Bồng Sơn, Tam Quan trong những ngày sôi động chiến dịch Hè 1972. Anh được đi giữa hai thị trấn vừa được giải phóng của tỉnh Bình Định rợp bóng dừa xanh, tràn đầy niềm vui thắng lợi. Chỉ vài ghi chép về ngày 30-4-1972 đã thấy cái không khí Bồng Sơn giải phóng thật là rộn rã: “Bộ đội đào hầm dọc đường. Du kích cưỡi hon đa ra vào thị trấn. Một toán tề, lính bị trói giải ra nối nhau thành dãy dài… Chi cảnh sát ngổn ngang tài liệu, Một chiếc xe gíp cháy còn bốc khói. Hon đa chở hai người vừa đi vừa gọi loa: “Lệnh không ai được lục lọi, phá phách…” Tham gia những buổi làm việc của Ban Liên hiệp quân sự 4 bên sau hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973, tác giả có những nét khắc hoạ sinh động về các sĩ quan Mỹ, Nguỵ mà anh “ba lần giáp mặt”.

Anh cũng rất vinh dự chứng kiến những sự kiện vĩ đại diễn ra trong những ngày đại thắng mùa xuân 1975 lịch sử. Những trận thắng mở đầu của quân dân ta ở Liên khu 5 từ Tây Nguyên đến các tỉnh đồng bằng cho đến điểm dừng chân ở thành phố Đà Nẵng giải phóng thể hiện trong nhật ký rất tỷ mỉ, sinh động.

JPEG - 40.4 kb

Qua những trang nhật ký “Bê trọc”, người đọc thấy được một cách cụ thể các hành động chiến đấu, sản xuất, phục vụ chiến trường và cả những hoạt động văn hóa, văn nghệ, binh, địch vận …. rất “đời thường” mà vô cùng vĩ đại của quân dân ta trên chiến trường khu 5 một thời ác liệt. Trong những trang ghi chép chân thật ấy, tác giả không chỉ nói đến thắng lợi huy hoàng mà còn cho thấy rõ những nét mất mát, đau thương. Và trong vô vàn con người dũng cảm sẵn sàng chịu đựng gian khổ hy sinh vì dân tộc vì tổ quốc ấy, người đọc còn được thấy cả những gương mặt lánh nặng, tìm nhẹ, thậm chí yếu hèn, dao động muốn tháo lui như anh chàng “Thuyết” mới vào chiến trường vài tháng chưa làm được gì đã cáo bệnh “thấp khớp”, chạy vạy xin được bệnh án để ra Bắc. Anh ta cáo ốm để khỏi phải đi cõng gạo, báo với anh nuôi là cho ăn cháo nhưng lại xuống bếp nhắc: “Nấu cháo cho chú phải lấy đủ tiêu chuẩn gạo của bữa cơm, ghế thêm ít sắn bảo đảm dinh dưỡng chống sốt rét nghen”!. Anh ta thu vén đủ thứ, đi làm cách mạng mà như đi buôn! Cuối cùng là anh chàng Thuyết ấy đã trở ra hậu phương, ba hoa đủ thứ. Và người ta đã đặt tên cho những anh chàng loại thuyết ấy cái danh từ rất hình ảnh là “B quay”.

Người đọc gặp trong nhật ký rất nhiều những cán bộ cấp khu, cấp tỉnh, huyện với mẫn cảm chính trị, sự đi sâu đi sát, chỉ đạo nhạy bén, sắc sảo, đúng đắn, đem lại hiệu quả công tác cao và những nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ của nhiều bộ môn nghệ thuật: điện ảnh, hội hoạ, nhiếp ảnh… đã từng có mặt ở chiến trường khu 5 trong những năm gian khổ ác liệt. Một số đã anh dũng ngã xuống ở chiến trường như: Dương Thị Xuân Quý, Nguyễn Mỹ, Trọng Định, Chu Cẩm Phong… Họ đã viết văn, viết báo, làm thơ, vẽ tranh, chụp ảnh, quay phim… đồng thời cũng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ “đời thường”: cõng gạo, làm rẫy, câu cá, bắn thú rừng, thổi cơm, đẵn cây, dựng lán trại…

“Bê Trọc” không phải là áng văn chương có dụng công trau chuốt của nhà văn chuyên nghiệp mà là những trang ghi chép trung thực, mộc mạc với tất cả sự thật trần trụi của nó như tác giả đã bộc bạch trong lời mở đầu: “Những cuốn sổ ghi chép, những tài liệu, thư từ gia đình, anh em bè bạn, đồng chí lưu giữ bên mình, kể cả những lúc hành quân, nhũng lúc bám dân đấu tranh với địch, những lúc chạy càn… chúng vẫn ở bên tôi như một phần của cuộc sống…” và cái phần của cuộc sống ấy sau một phần tư thế kỷ, anh đã đem cống hiến cho người đọc như “lời khuyên của bạn bè”. Sự việc được ghi chép trong “Bê Trọc” từ 1968 đến 1975 đã giúp người đọc sống lại những năm tháng hào hùng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên dải đất miền Trung. Dù chỉ là một phần rất nhỏ trong vô vàn sự việc đã diễn ra trong dãy Trường Sơn hùng tráng và đồng bằng khu 5 nhưng là những tư liệu dồi dào sức sống, là chất bột quý giá cho những nhà sáng tác nghệ thuật “gột nên hồ” là vật liệu cần thiết cho việc xây cất nên những toà lâu đài đồ sộ, những tác phẩm lớn xứng đáng với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta.

Ra đời vào dịp kỷ niệm 24 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng và 40 năm “Đường Hồ Chí Minh” lịch sử, Bê trọc là món quà mừng kỷ niệm rất quý giá. Mong rằng có nhiều “Bê trọc” chào đời làm phong phú thêm sự hiểu biết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của nhân dân ta.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}