Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Biến đổi văn hóa ở vùng tái định cư thủy điện Sơn La

Nguyễn Thị Tuyến | Thứ Ba, 26/05/2015 15:56 GMT +7
Có thể thấy, văn hóa sản xuất là phương diện có sự biến đổi mạnh mẽ nhất tại các vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc. Điều này đang mở ra những hướng mới trong phát triển kinh tế, đồng thời chứng tỏ về một phương thức hoạt động kinh tế với những đặc điểm cụ thể về sản xuất, phân phối và đổi mới hệ thống giá trị chủ đạo của hoạt động kinh tế tại vùng tái định cư thủy điện Sơn La.
 

 
1. Biến đổi văn hóa và biến đổi văn hóa sản xuất
 
Biến đổi văn hóa là một sự thay đổi của văn hóa so với một tình trạng văn hóa hoặc một nền văn hóa có trước dưới tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội. Đây là một quy luật trong phát triển của văn hóa, thể hiện sâu sắc ở sự biến đổi về cấu trúc của văn hóa, các thành tố của văn hóa và các giá trị văn hóa theo cơ chế truyền bá, tiếp biến hoặc phát minh độc lập (1). Trong đó diễn ra sự khuếch tán, vay mượn hoặc sự phát minh của con người nhằm tìm cách giải quyết vấn đề của thực tiễn. Biến đổi văn hóa cơ bản được tạo nên từ sự biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội qua đầu tư phát triển, qua những thay đổi về môi trường sống, phương pháp, cách thức sản xuất; nhu cầu nhận thức, giáo dục của con người nhằm đáp ứng đòi hỏi của trình độ phát triển xã hội.
 
Văn hóa sản xuất là phương thức hoạt động kinh tế của con người trong xã hội, phản ánh những đặc điểm cụ thể về sản xuất, phân phối và đổi mới hệ thống giá trị chủ đạo của hoạt động kinh tế. Văn hóa sản xuất thể hiện đặc điểm về phân công lao động; trình độ thực hiện các mục tiêu kinh tế; trình độ phát triển lực lượng sản xuất (công cụ lao động, công nghệ); tính chất phát triển của chủ thể hoạt động sản xuất.
 
Biến đổi văn hóa sản xuất là sự thay đổi phương thức hoạt động kinh tế của con người trong xã hội thể hiện trong các mục tiêu kinh tế; trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong thực hiện mục tiêu kinh tế và sử dụng công cụ lao động, áp dụng công nghệ; trong các hoạt động cụ thể về sản xuất, phân phối và sự đổi mới hệ thống giá trị chủ đạo của hoạt động kinh tế trong thời điểm lịch sử nào đó của xã hội.
 
2. Thực trạng biến đổi văn hóa sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng tái định cư thủy điện Sơn La
 
Mục tiêu của di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La là phải tạo được các điều kiện để đồng bào tái định cư sớm ổn định chỗ ở và đời sống. Trên cơ sở khai thác tiềm năng về tài nguyên và sức lao động, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn nơi ở cũ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái (2). Mục tiêu lớn trên đã đưa tổng mức đầu tư dự án tái định cư thủy điện Sơn La lên tới 20.293.821 triệu đồng. Trong đó tái định cư tập trung nông thôn là 11.307.581 triệu đồng; tái định cư tập trung đô thị là 6.767.462 triệu đồng; tái định cư xen ghép, tự nguyện là 532.927 triệu đồng (3).
 
Định hướng chung cho sản xuất nông nghiệp ở vùng tái định cư thủy điện Sơn La là phải phấn đấu tối đa từ nuôi trồng đến chế biến và tạo lập thị trường đầu ra. Khai thác tốt diện tích đất ruộng để sản xuất lúa nước, ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ xây dựng các công trình thủy lợi vừa và nhỏ phục vụ thâm canh tăng vụ; đối với diện tích đất ruộng mới khai hoang cần tăng cường cải tạo đồng ruộng, bón phân hữu cơ để tăng khả năng giữ nước. Sử dụng giống lúa có khả năng chịu hạn, các giống lúa lai có năng suất cao, bón phân cân đối, phòng trừ sâu bệnh kịp thời để tăng năng suất và sản lượng lúa. Ở các khu, điểm tái định cư có điều kiện đất đai khí hậu phù hợp, khuyến khích phát triển một số giống lúa đặc sản, các giống lúa chất lượng cao phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Chăn nuôi tập trung chủ yếu vào các loại gia súc ăn cỏ (trâu, bò, dê, ngựa), lợn và gia cầm. Ngoài ra, phát triển chăn nuôi ong, thỏ, nhím ở những hộ có đủ điều kiện và có tiểu vùng sinh thái thích hợp. Sử dụng hợp lý các giống gia súc, gia cầm của địa phương kết hợp kỹ thuật cải tạo nâng cao chất lượng đàn bò thịt, đàn lợn, đàn dê bằng phương pháp phối giống trực tiếp hoặc thụ tinh nhân tạo; kiểm soát chặt chẽ việc nhập giống từ nơi khác về và làm tốt công tác thú y để đảm bảo an toàn cho đàn gia súc, gia cầm. Căn cứ điều kiện cụ thể, từng địa phương lựa chọn và bố trí các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp theo nguyên tắc: những loại cây, con đang phát triển tốt ở vùng sở tại, có thị trường tiêu thụ cần quy hoạch mở rộng diện tích nuôi trồng để tạo vùng hàng hóa có sản lượng và chất lượng cao. Những giống cây, con mới dự kiến đưa vào sản xuất trong vùng phải được điều tra, khảo sát kỹ để xác định các tiểu vùng có điều kiện đất đai khí hậu phù hợp với nhu cầu sinh thái của cây, con đó; đồng thời phải xây dựng các mô hình trồng khảo nghiệm, trình diễn để rút kinh nghiệm và từng bước mở rộng (4)
 
Trong những năm qua, để thực hiện dự án xây dựng thủy điện Sơn La, 91.000 người dân thuộc 8 huyện, thị xã của các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên đã tham gia di cư (Sơn La 12.479 hộ, 62. 394 khẩu; tỉnh Điện Biên 3.840 hộ, 14.959 khẩu; tỉnh Lai Châu 2578 hộ, 13.747 khẩu). Số lượng người bị ảnh hưởng trực tiếp khi mức nước của hồ thủy điện Sơn La dâng lên 215m tính theo dân tộc chủ yếu là người Thái với 88,12%, La ha chiếm 5,36%, Xá (Xinh mun) chiếm 3,42% và Kháng chiếm 0,7%, dân tộc Kinh chỉ chiếm 2,38% trong tổng số hộ bị ngập (5).
 
Có thể nói, sinh sống lâu đời trong môi trường sinh thái quen thuộc, mỗi tộc người ở Tây Bắc đã hình thành những kiểu thích ứng với môi trường nhất định, tạo nên những truyền thống sản xuất riêng. Với điều kiện đất đai tương đối bằng phẳng, hệ thống sông suối dày đặc, khí hậu thuộc vành đai nhiệt đới nóng ẩm, thuận lợi cho việc trồng lúa nước từ một vụ đến hai vụ một năm, cư dân thuộc khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La (chủ yếu là người Thái) có truyền thống khai thác tài nguyên nước. Nguồn nước thung lũng là nguồn nước có dòng chảy, nên ở đây đã hình thành những ứng xử của cư dân bản địa hết sức phong phú phát triển cây nông nghiệp, kết hợp trồng lúa với nuôi thả cá, khai thác đánh bắt cá trên sông, suối, khai thác các nguồn lâm sản quý… Cảnh quan thung lũng không những quy định những kiểu thích ứng môi trường, những truyền thống kinh tế nhất định mà còn ảnh hưởng tới cơ cấu quan hệ xã hội và đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc tham gia tái định cư.
 
Nhìn vào hoạt động sản xuất của đồng bào vùng tái định cư thủy điện Sơn La, có thể thấy, quỹ đất sản xuất canh tác với khoảng 33.840 ha được hình thành từ đất hoang và đất khai hoang. Trong đó, các loại đất có độ dốc trên dưới 150 là chủ yếu (6). Cơ cấu sản xuất chính được áp dụng là canh tác trên đất dốc để trồng cây hàng hóa. Sản xuất của đồng bào chuyển đổi từ canh tác lúa nước sang lúa cạn, từ cây trồng theo mùa vụ sang cây hoa màu và cây ngắn ngày, từ chăn nuôi theo hộ cá thể sang chăn nuôi trang trại, đại gia súc, làm kinh tế vườn rừng và đồi rừng chuyên canh. Đồng bào cũng phải làm quen với tập đoàn cây ngắn ngày có khả năng thích nghi cao với địa hình đất dốc và chịu hạn giống lúa cạn, các giống đỗ tương, các giống ngô lai… cũng như các giống gia súc mới cho năng suất và chất lượng cao như bò sữa, dê sữa, trâu, bò nuôi lấy thịt, lợn siêu nạc, các loại gia cầm cao sản…
 
Việc phát triển và hoàn thiện kỹ thuật canh tác trên đất dốc cũng như phát triển chăn nuôi phù hợp với điều kiện địa phương nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa thế mạnh đòi hỏi sự đầu tư hỗ trợ về vốn, về phương tiện, kỹ thuật và công nghệ, từ kỹ thuật canh tác, gieo trồng, chăm sóc đến công nghệ chế biến, kỹ thuật bảo quản và bao tiêu đầu ra của sản phẩm. Chính vì vậy, công tác hỗ trợ, phát triển sản xuất, khuyến nông, khuyến lâm đã được các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên quan tâm đặc biệt, bước đầu đã triển khai tới 1.871 hộ với số tiền 26 tỷ đồng(7), phát hành 45.620 bản tin khuyến nông, 12.200 cuốn nông lịch, phát 1.500 tờ rơi hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho các hộ tái định cư (8)... Ngay sau ổn định tái định cư, trên cơ sở diện tích đất sản xuất đã được giao, các tỉnh đã vận động nhân dân tập trung triển khai sản xuất bằng giống cây, con truyền thống như các hộ sở tại, đồng thời từng bước xây dựng mô hình sản xuất, rút kinh nghiệm và triển khai nhân rộng tại các khu, điểm tái định cư.
 
Cho tới hiện tại, mặc dù còn những hộ dân tái định cư chưa hoàn thành việc nhận đất sản xuất, nhưng nhìn từ các địa phương ở cả ba tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên đều có thể nhận thấy những hiệu quả ban đầu của việc triển khai sản xuất theo định hướng chuyển đổi mô hình mới như: trồng tre lấy măng, trồng cỏ, nuôi bò, nuôi lợn hướng nạc, nuôi dê (tại các xã Cà Nàng, Chiềng Khay, Mường Giôn, Chiềng Khoang, Liệp Muội, Nặm Ét… của huyện Quỳnh Nhai, Sơn La, xây dựng 12 mô hình sản xuất tại các điểm tái định cư thủy điện Sơn La và vùng đặc biệt khó khăn từ nguồn vốn Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Trung ương gồm phát triển đàn bò, trồng cỏ, nuôi gà thả vườn, mô hình máy công cụ nông nghiệp, bể khí biogas... Mô hình chăn nuôi đại gia súc tại xã Mường Giôn trên cơ sở tự quy hoạch 8 khu đồng cỏ có tổng diện tích trên 500ha để người dân trong xã thả trâu, bò đã mở ra con đường làm giàu. Đồng bào đã bán bò để đầu tư mua ôtô chở nông sản phục vụ cộng đồng, thuê máy xúc đào ao thả cá, cung ứng cho nhu cầu thực phẩm địa phương. Phong trào chăn nuôi, phát triển kinh tế của xã Mường Giôn đã lan rộng và tác động tích cực đến cả những bản tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Sơn La (9). Người dân bản Quỳnh Liên (Yên Châu, Sơn La) trên cơ sở tiền hỗ trợ đã mua con giống, cây giống và thực hiện mô hình chăn nuôi lợn sinh sản, lợn thịt; xây dựng được 10 công trình hầm bioga kết hợp chăn nuôi lợn theo chương trình khí sinh học ở 6 hộ gia đình; nhiều hộ trong bản đã tổ chức sản xuất có hiệu quả, thu hoạch được 10 - 15 tấn ngô, 50 - 70 tấn mía cây, bán ra thị trường 2,5 tấn lợn hơi /năm (10). Tại Lai Châu, giống mới được cấp với giá ưu đãi, phân bón, kỹ thuật được hỗ trợ, các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi được phát hiện sớm và khắc phục ở các điểm tái định cư thủy điện Sơn La. Dự án phát triển cây cao su trên địa bàn tỉnh đã góp phần tạo ra rất nhiều việc làm cho nhân dân. Các công trình thủy lợi được đầu tư ngay từ những bước đầu triển khai các dự án. Dự án nuôi gà thương phẩm ở các điểm tái định cư vùng thấp huyện Sìn Hồ đã cấp và bán hơn 6.000 con gà giống cho bà con tái định cư, trung bình hộ nuôi ít nhất cũng hàng trăm con. Dự án phát triển đàn bò hay phát triển cây chè, thâm canh tăng vụ… ở xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ, đã phần nào giúp người dân vơi đi gánh nặng của buổi đầu lập nghiệp, tăng thu nhập đáng kể và góp phần thay đổi tư tưởng sản xuất tự cấp tự túc thành sản xuất hàng hóa.
 
Trường hợp làm kinh tế theo cách đầu tư giống bò, dê, nhím rồi giao cho người không có điều kiện mua giống nuôi dưỡng, sau một năm bán gia súc đi, số lãi được chia đôi của thanh niên bản Đông, xã Chiềng Khoang, Quỳnh Nhai, Sơn La là một ví dụ năng động của lớp trẻ. Nhờ sự cộng tác và chia sẻ này mà nhà nào trong bản cũng có vài con bò, trâu trong chuồng, xung quanh nhà ngoài rau, cây ăn quả là những luống cỏ voi xanh tốt đem lại các khoản thu hàng chục triệu đồng. Sự vào cuộc tích cực của dự án ADB và các cơ quan khuyến nông đã tạo nên nhận thức mới trong phát triển sản xuất theo hướng thâm canh tăng vụ, lựa chọn cây, con thích hợp với điều kiện địa phương, phù hợp với nhu cầu thị trường để người dân yên tâm phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống. Một nét mới nữa trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc là việc Tập đoàn Cao su Việt Nam áp dụng chính sách góp vốn giá trị bằng quyền sử dụng đất, nhận lao động từ hộ nông dân góp đất chuyển sang công nhân trồng cao su. Đây là quá trình chuyển một bộ phận lao động sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp trên địa bàn nông thôn đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Người nông dân trở thành cổ đông góp vốn bằng đất và được chia lãi theo cổ phần, vừa là người làm công ăn lương, vừa là đồng chủ sở hữu vốn và tài sản, cũng như phân phối lợi nhuận của công ty.
 
Trong tương lai, về khả năng phát triển đa dạng ngành nghề, kinh doanh dịch vụ ở vùng tái định cư thủy điện Sơn La là rất mạnh mẽ, đặc biệt là hoạt động dịch vụ, giao lưu hàng hóa. Dọc sông Đà và vùng phụ cận gồm các xã Chiềng Hoa, Chiềng San, Nậm Păm, Ít Ong, Pi Tong, Mường Bú, Mường Chùm, Tạ Bú, Chiềng Lao của huyện Mường La, tỉnh Sơn La và nhiều vùng khác sẽ có thêm nghề mới dựa trên việc chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa rau sạch, hoa cao cấp xuất khẩu. Thực tế cho thấy, cây rau bắp cải, đậu cô ve, bí ngồi, dưa chuột, cà chua ngoại có chất lượng cao trồng ở xã vùng cao Ngọc Chiến là có hiệu quả; hoa ni, hoa tuy líp cũng phù hợp với thổ nhưỡng, khí hậu của vùng. Mô hình hoa, rau quả sạch cao cấp với diện tích 15 ha trồng thử nghiệm cho hiệu quả tốt (cà chua 150 tấn/ha, dưa chuột 200 tấn/ha…). Các vùng tái định cư, nhất là khu vực phát triển cây nguyên liệu, cây ăn quả hai bên hồ thuộc lưu vực cấp I của hồ Sơn La hoàn toàn có thể hình thành các điểm dịch vụ thương mại nếu được tính toán kỹ lưỡng và tổ chức tốt. Diện tích không gian mặt nước cũng cho phép hình thành khu du lịch hồ thủy điện Sơn La, điểm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, các điểm làng nghề như dệt thổ cẩm, mây tre đan... đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách vui chơi, thư giãn, giải trí. Sự hình thành các điểm quần cư hai bên hồ trong quá trình phát triển giao thông thủy và giao lưu hàng hóa cũng sẽ tạo nên các điểm giao lưu văn hóa giống như việc hình thành 31 chợ ven hồ Hòa Bình sau khi có thủy điện sông Đà.
 
3. Kết luận
 
Có thể thấy, văn hóa sản xuất là phương diện có sự biến đổi mạnh mẽ nhất tại các vùng tái định cư của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc. Điều này đang mở ra những hướng mới trong phát triển kinh tế, đồng thời chứng tỏ về một phương thức hoạt động kinh tế với những đặc điểm cụ thể về sản xuất, phân phối và đổi mới hệ thống giá trị chủ đạo của hoạt động kinh tế tại vùng tái định cư thủy điện Sơn La.
 
Những biến đổi về văn hóa sản xuất xuất phát từ điều kiện địa lý sinh thái, hoàn cảnh dân số, điều kiện vật chất, kỹ thuật đạt được, kết cấu xã hội tương ứng của vùng tái định cư, mà xét đến cùng là do những khác biệt về môi trường sống quy định. Bởi vậy, để có thể có sự phát triển bền vững, cần lưu ý đến điều kiện tự nhiên, đặc biệt là môi trường sinh thái, trên địa hình đất dốc của vùng tái định cư. Chính yếu tố này tham gia tác động một cách toàn diện, thường xuyên, tất yếu trong việc tạo ra yếu tố đặc trưng bản chất mới của đời sống văn hóa - xã hội vùng tái định cư thủy điện Sơn La trong tương lai.
_______________
 
1. Vũ Minh Chi, Một số thuật ngữ nhân loại học văn hóa, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 2-2008, tr.68.
 
2, 3. Quyết định số 801/2010/QĐ-TTg ngày 4-6-2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La
 
4.Thông tư số 80/2007/TT-BNN Hướng dẫn quy hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với chế biến, tiêu thụ nông lâm sản và thủ tục hỗ trợ sản xuất đối với các vùng tái định cư thủy điện Sơn La
 
5. Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1998
 
6. Nguyễn Bá Ân, Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ tổ chức lãnh thổ và đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc dưới tác động của công trình thủy điện Sơn La, Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch Đầu tư, Hà Nội, 2007.
 
7. Số 32/BC-CP, Báo cáo kết quả chỉ đạo thực hiện di dân, tái định cư Dự án thủy điện Sơn La, Hà Nội, ngày 23-3-2009.
8. Ngọc Thuấn, 1 tỷ 405 triệu đồng tổ chức các hoạt động khuyến nông tái định cư, baodientusonla.com.vn.
 
9. Nguyễn Kiên Cường, Chủ tịch xã cấp tiến ở Mường Giôn, baomoi.com.
 
10. Phong Lưu, Yên Châu ổn định đời sống sản xuất các hộ dân tái định cư, baodientusonla.com.vn.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 361

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}