Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tác giả:

 

Bùi Ngọc Tấn và nhóm bạn U 80

Thứ Năm, 16/04/2015 12:08 GMT +7
Trung Trung Đỉnh
 
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã qua đời vào ngày 18 tháng 12 năm 2014 tại quê hương Hải Phòng. Để tướng nhớ nhà văn tài năng, trung thực, lương thiện, đầy lòng khoan dung, rất được giới yêu văn chương nghệ thuật nước nhà ngưỡng mộ, Văn Hiến xin giới thiệu bài viết của nhà văn Trung Trung Đỉnh và truyện ngắn “Khói”, một trong những sáng tác cuối cùng của nhà văn Bùi NgọcTấn vừa công bố đầu năm 2014
 
Mình có đôi lần về Hải Phòng chơi với anh Tấn, đi cùng với anh Dương Tường, Phạm Xuân Nguyên. Anh Dương Tường thân với anh Bùi Ngọc Tấn thì khỏi phải bàn. Nhóm bạn già Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Khánh, Phạm Toàn khi nào hội đủ ở Hà Nội thì vỡ trời vì tiếng cười vang to, giọng như lệnh vỡ “chưa thấy mặt người đã nghe tiếng…oát” của hai ông anh Phạm Toàn,  Xuân Khánh. Tôi gọi nhóm bạn các ông là U80, bắt chước tiếng Anh thời thượng một chút cho nó có vẻ “hậu hiện đại”, nhưng U này không phải Under (dưới) mà là Upper (trên), vì ông nào cũng là thế hệ 3x đời đầu. Cánh mấy bác già này mỗi bác mỗi vẻ, sướng khổ thì cũng không ai bằng ai, nhưng đều có cái nét chung, ấy là  nói chuyện gì, bàn chuyện gì, tranh cãi vấn đề gì, cũng đều oang oang, rốt ráo và quyết liệt. Chỉ riêng bác Tấn nhà ta thì cười cười. Anh Tấn có vẻ người khắc khổ, nhưng không thấy anh nhăn nhó khó chịu mà hình như nét khắc khổ tự nó nâng chất sống của anh lên hàng đỉnh!  Giữa chuyện tào lao thế nào anh cũng rủ rê mọi người đi Đồ Sơn chơi. Tôi là thằng em láo lếu biết tỏng mấy ông anh muốn đi thăm bà chị nữ sĩ “tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan” một thời. Bây giờ chị ngồi vẽ ở nhà cạnh biển nhưng sát núi. Gần đấy mà xa đấy, nhưng xa gần thì khách văn về Hải Phòng vẫn biết rủ nhau nườm nượp xuống chơi. Bọn đàn em chúng tôi mỗi lần theo các ông anh về thăm bà chị, vẫn nghiêng ngó rộn ràng. Văn giới Hải Phòng mỗi thời có một vài người lừng lẫy. Ví dụ thời chống Mỹ “trường thơ Hải Phòng” (ấy là người ta cứ gọi thế để cho nó nổi bật) có Đào Trọng Khánh, tức Đào Nguyễn. Ông Khánh dân điện ảnh xịn, là tay đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng, nhưng thơ cũng rất chất. Chất thơ và chất thợ trong thơ của Đào Nguyễn thời chiến sự ấy chỉ cần đọc một câu này là đủ thấy khi ông viết về Hải Phòng “thành phố như con tàu chở đầy thuốc nổ / cuốn đi thân phận mỗi người”. Đào Trọng Khánh chơi thân với Lưu Quang Vũ từ những tháng ngày sống chết và lận đận của mỗi người trong chiến tranh. Vũ có một bài thơ tuyệt hay nhan đề “Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói về những cuộc chia tay thời loạn”:
 
Thơ Khánh buồn như lòng đất nước
Thơ hay đời loạn chẳng đâu dùng
Vườn cũ cây tàn chim chết cả
Người chơi đàn nguyệt có còn không
 
Tối đen thành phố đêm lưu lạc
Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
 
Chúng mình không có bom nguyên tử
Chỉ có thuốc lào hút với nhau
Thương nhà thương nước thương cho bạn
Không khóc mà sao cổ nghẹn ngào
 
Nhắc lại một chút quá khứ thế để thấy những tình bạn văn chương Hà Nội – Hải Phòng thời nào cũng đậm đà, thân thiết. Như chuyện mấy ông bạn già của anh Bùi Ngọc Tấn đang nói đây. Trước đó nữa, và sau đó nữa, bao giờ anh Bùi Ngọc Tấn cũng khuất khuất, hiền hiền, cười cười, nhưng cái “vía” của ông anh thì lại trùm át, nhất là  sau cái đận tù ải về. Ông sống lầm lũi bên gia đình và mấy mống bạn già thân. Bạn chí cốt. Rồi ngồi viết. Viết như tên tù “khổ sai”. Nhớ hồi lẽo đẽo theo Lê Bầu, Dương Tường, hai ông bạn cũng lận đận bần hàn nhưng không bao giờ lụi xụi. Các ông  bầu bạn đánh đu với các báo, với ngón nghề dịch thuật, che tên, khuất tuổi với những bài báo nước ngoài kiếm sống. Rồi như định mệnh, ông ngồi “cày” như trâu lăn đêm đêm ngày ngày mới ra được cái truyện “Chuyện kể năm hai ngàn”. Bùi Ngọc Tấn viết văn không bao giờ nghĩ chuyện làm gì cho lớn cho to, viết gì cho dài cho hoành tráng đồ sộ để đời. Mà ông viết, ấy là nhu cầu tồn tại, nhu cầu sống, như con người ta có nhu cầu ăn cơm uống nước, hít thở khí trời vậy. Ông viết văn không cầu kỳ xa hoa điệu đàng, cũng không dễ dãi buông thả. Văn ông không văn vẻ bóng bẩy mà thậm chí văn ông chân chất nhiều hình khối nhưng không thả nổi buông tuồng. Ông có lối nghĩ, lối tư duy thênh thênh nên khi hiện hình ra con chữ thì kỳ khu, khó nhọc. Đọc ông ta cảm nhận được các cái đận bạn bè ông ai cũng quá đỗi gieo neo. Thế nên khi ông ngồi viết chân dung bạn bè cũng phải có một cách hồi nhớ không giống ai vừa siêu việt, vừa dân giã: kỹ càng, tỷ mẩn, chu đáo như tính khí ông cẩn thận coi trọng tình bạn bè. Mình đọc xong, mình nghĩ ngợi và có lần nói với ông anh: Em phục anh, anh viết chân dung bạn bè cực hay, nhất là anh viết về  Nguyên Hồng và  Lê Bầu. Bạn bè được làm nhân vật của anh cũng khoái, cũng sướng. Các anh tôn vinh nhau mà không tâng bốc nhau. Ca ngợi nhau mà không cho nhau đi tầu bay giấy. Bùi Ngọc Tấn viết về bạn bè tự nhiên như thường ngày cần nhau, chơi với nhau, xa xa thì nhớ nhau, giống như  mấy anh sống với nhau có lúc cáu tiết, có khi ôn hoà dễ dãi vậy.

Mình đọc và thích anh Lê Bầu qua cách viết của Bùi Ngọc Tấn mà mình cứ tiếc mãi  là vô duyên chưa bao giờ được gặp anh. Nhiều lúc mình chỉ nghe mấy ông anh kể về Lê Bầu rồi mình cũng hình dung ra anh. Đó  là một người  cần mẫn chu đáo với bạn bè với câu chữ. mỗi lần dịch thuật hay viết lách. Bùi Ngọc Tấn đi đi về về Hà Nội - Hải Phòng đều qua cửa Lê Bầu. Mình khen ông viết phần sau “Chuyện kể năm hai ngàn” quá hay. Ông bảo “Thế à?”, mình bảo “Thật mà. Những chương cuối là những chương xuất thần của một nhà tiểu thuyết quên mình đang viết gì. Hay cực!”. Ông cười cười  bảo thế là mừng. Vì thật tình hồi ấy mình viết mình lên cơn như lên đồng. Văn chương ăn nhau ở cái cốt lõi, ấy là cái sự thật. Sự thật rành rành mà viết không thật được, ấy là vì cái lòng mình vẫn chưa thành thật. Hay nói hụych toẹt ra là còn giả dối, còn sợ hãi. Chứ  nếu mình tình thật thì nó bén duyên với người đọc nhanh lắm. Muốn hình thức gì, muốn trò vè gì, muốn tiền hiện đại hay hậu hiện đại, muôn tân hình thức hay cũ hình thức gì gì mà thiếu tấm lòng thành thật thì cũng rứa cả thôi. Hay. Rồi ông bảo, cứ nhớ lại đi! Mới mười sáu mười bẩy tuổi đầu mà đã viết được Bỉ vỏ, Thời thơ ấu như Nguyên Hồng, hỏi không phải người giời sai xuống trần gian làm cái việc ấy thì là người của ai? Chả lẽ người của phe này, phái nọ à? Hay! Hai mươi sáu hai mươi bảy tuổi đầu làm hết việc của một nhà văn lớn rồi bay về Giời như Vũ Trọng Phụng, Hàn Mặc Tử, hỏi không phải người của Giời thì là người của Ai? Quá đúng! Quá hay! Tôi bảo nhiều khi em nghĩ, cụ Nam Cao yêu quý  mà còn sống đến giờ thì…Ôi thôi thôi, con xin các cụ cho con vái các cụ một trăm vái. Con không dám tưởng tượng lung tung nữa đâu ạ.
         
*
 
         Có hôm trời mưa lâm thâm, rét ngọt, anh Dương Tường gọi điện thoại gợi ý: “Đỉnh ơi, thịt chó đê”. Tôi điện cho Nguyên. Nguyên sốt sắng gầy cuộc nhậu gọi cho anh Phạm Toàn, Xuân Khánh. Hai ông anh là hai cái loa, hai cái ông anh to mồm này  “được nhời như cởi tấm lòng” cũng nhiệt liệt hưởng ứng “phong trào thịt chó” hẹn điểm “chiến đấu” ven đê Nghi Tàm. Chưa ngồi xuống chiếu ông nào cũng nhắc: “Tiếc nhỉ, không có thằng Tấn”. Góc chiếu khuyết Bùi Ngọc Tấn, vậy là Nguyên ta gọi điện thoại, giọng anh Tấn trong điện thoại nghe cũng nhẹ nhàng ân cần không ồn ào như mấy ông anh “hoạt náo viên” kia. Mấy anh uống thì ít, ăn thì ít, mà cười mà nói thì nhiều. Ây là hồi đó các bác cũng đều đã kha khá tuổi rồi, chả hiểu thời trai trẻ thì các bác mần răng hề?  Bây giờ thảy đều U(pper)80 mà các bác vẫn nói say sưa, cười bất tận. Bọn phản động mà nó nghe được chắc nó cũng phải chờn! Anh Phạm Toàn hỏi tôi, Đỉnh ơi, mày mấy nhỉ? Hồi ấy tôi năm mươi nên tôi bảo năm mươi. Đúng hơn, tôi nói: “Em năm sọi”. Ông bảo, úi giời sướng thế. Tao mà năm mươi như mày thì chết với tao! Chả biết ông anh đả được ai mà doạ! Ông bảo ông chuyên tắm nước lạnh. Ngày nào ông cũng bơi hai tiếng. Khiếp! Hồi ấy thì bác mới sáu mươi ngoài. Nhưng thế thì cũng đáng khiếp thật. Sách ngày đọc trăm trang. Bơi hồ ngày vài trăm mét. Chén ba bát cơm rau. Đi xe bus. Ngồi chơi thì nói to cười lớn. Làm gì cũng cật lực, ấy là hai bác Xuân Khánh, Phạm Toàn. Các cụ bảo có tài có tật. Tài đấy, tật đấy. Bác Bùi Tấn có lần bảo tôi, mấy “tay ấy” có tài lớn. Mà tài lớn đáng yêu lớn, thói tật lớn cũng đáng yêu lớn! Chả biết cái thói tật “lớn” nào của các bác, nhưng tài lớn với nghề viết văn đọc sách thì tôi bái phục.

Hồi anh Xuân Khánh cho in  tiểu thuyết “Miền hoang tưởng” mình còn ở trại viết Quân khu V (Đà Nẵng). Cũng may hồi ấy được anh Thái Bá Lợi đem từ nhà xuất bản Đà Nẵng về cho. Đọc, thấy mê li. Đây là cuốn tiểu thuyết cho mãi tới bây giờ đọc vẫn sướng. Lần đầu tiên đọc Xuân Khánh, mình phục lối viết văn đẹp và pha chút huyền ảo đầy gợi cảm. Mình  đang nức nở khen thì anh Lợi hóm hỉnh bảo, nói khè khẽ tí, cuốn này người ta đang “oánh” đấy. Tôi không hiểu. Anh Lợi chua chát bảo: “Hay nên phải oánh!” Càng không hiểu. Tối tăm mãi rồi cũng phải hiểu ra. Sau đọc “Hồ Quý Ly”, rồi “Mẫu Thượng ngàn”;Đội gạo lên chùa” thì càng hiểu anh Xuân Khánh vì sao anh to mồm. Nói to cười to, viết “to”. Viết dài mà sống thì kín đáo khẽ khàng. Nghe đồn trong ngăn kéo của anh còn có bản thảo tiểu thuyết “Trư cuồng” viết đã lâu mà chưa “xuất xưởng” được.

Về anh Phạm Toàn, tiếp theo loạt truyện ngắn “hồi xuân” anh như vừa  được tạo hoá tiếp thêm sức. Báo văn nghệ in của anh mấy truyện “trẻ” liên tù tì. Văn anh cũng đẹp ơi là đẹp. Hình như mấy ông anh này đều có “gu” viết văn đẹp. Đẹp từ cấu tứ đến ý tưởng, câu chữ. Sau này đến tiểu thuyết “Người sông mê” thì mới thấy hình như anh đang mê đang mải tìm tòi. Bắt đầu chuyến mạo hiểm tìm tòi khám phá này chính là sê-ri truyện ngắn “Tình yêu thời @” . Nó lộ diện ông anh “trẻ” này khá chịu chơi, chịu hiểu  lớp con cháu @ sau này. Ông thực sự muốn nhập cuộc một cách hào hứng chứ  không phải chỉ làm cổ động viên.. Nguyên ta đã có một bài thơ dài tặng ông anh cùng họ Phạm này gọi là “Sinh một Phạm Toàn”:
 
trời đất sinh ra một Phạm Toàn
cầm tinh con khỉ chốn rừng hoang
hiếu động nghịch tinh tôn hành giả
quậy tung giáo dục với văn đàn
 
*
Phác hoạ chân dung mấy ông anh U(pper)80 rất đáng yêu mà cũng quá khó. Khó vì mấy ông anh đều là những cá tính xương xẩu. Rất cởi mở nhưng không dễ thoả hiệp. Rất thông minh và sắc sảo, sẵn sàng chơi tay bo tranh luận đến cùng. Thích và yêu các ông anh, nhưng cũng rất chờn mấy ông anh. Các ông anh này phản biện thì em bó tay! Đôi lúc thấy mấy ông anh ngang ngang chương chướng thằng em cũng phải nhu mì. Mà mấy ông anh học thức đều uyên thâm, cái khoản ngoại ngữ thì cao vòi vọi. Ông nào cũng nói tiếng Anh tiếng Pháp veo véo. Đọc thiên kinh vạn quyển. Trí nhớ ông nào cũng siêu phàm. Các vấn đề nghiên cứu của mấy ông anh đều có tính chiến lược. Yêu nghề. Yêu đời, ấy là đặc điểm chung của các ông anh. Anh Toàn có lần bảo mình, tao không sợ thằng sai mà chỉ sợ thằng lười. Thật đúng, gọi mấy ông anh U(pper)80 này là mấy ông anh trẻ mãi không già. Cám ơn  cái duyên cái số mình may mắn được “chơi” với mấy ông anh già già tre trẻ đáng kính này.
 

      
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn
 
Sinh năm 1934 tại Thuỷ Nguyên, Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954. Ông từng là phóng viên của báo Tiền Phong và báo Hải Phòng Kiến Thiết. Bùi Ngọc Tấn đã từng nhận được nhiều giải thưởng của các 
báo Văn nghệtạp chí Văn nghệ quân độiBộ Văn hoáNXB Hội Nhà văn, và giải thưởng văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng) và giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Đặc biệt năm 2012, tiểu thuyết “Biển và chim bói cá” của ông sau khi được dịch ra tiếng Pháp đã nhận được giải thưởng về văn chương tại Pháp mang tên Henri Queffenlec (Pháp). Ông là một trong số ít nhà văn viẹt Nam có tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng.
  
Các tác phẩm tiêu biểu:
Người gác đèn cửa Nam Triệu (truyện ký, 1965)
Nhằm thẳng quân thù mà bắn (truyện ký, 1967)
Thuyền trưởng, (truyện vừa, 1978)
Một thời để mất (hồi ký, 1995)
Một ngày dài đằng đẵng (tập truyện ngắn)
Những người rách việc (tập truyện ngắn, 1996)
Rừng xưa xanh lá (ký chân dung, 2004)
Kiếp chó (tập truyện ngắn, 2007)
Người chăn kiến (tập truyện ngắn,  2014)
Biển và chim bói cá (tiểu thuyết, 2009)
Viết về bè bạn ( ký, 2012)
 
Với tư cách là con người, Bùi Ngọc Tấn đã cống hiến cả tuổi xuân của mình cho cách mạng, mặt khác, cay nghiệt thay, đã trải mọi trầm luân của kiếp nhân sinh, đã uống đến tận cặn ly đắng cuộc đời... Với tư cách là kẻ sĩ, Bùi Ngọc Tấn đã dùng ngòi bút thiên tài, trung thực và từ tâm của mình đóng góp vào văn học nước nhà những tác phẩm để đời, những trang viết làm lay động hàng triệu trái tim độc giả, xứng đáng được xếp vào hàng những tác giả lớn mà cả một thế kỷ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay…
 
Hải Phòng từ nay vắng đi một trong những niềm tự hào của mình, mặc dầu nhiều người chưa hiểu điều đó. Lịch sử công minh, sớm muộn, sẽ đặt những nhân cách lớn trở về đúng vị trí và anh linh Bùi Ngọc Tấn sẽ mãi rạng ngời cùng trời xanh biển đẹp Hải Phòng. Bởi trong lòng những người yêu văn học, yêu những giá trị đích thực truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau, cái tên Bùi Ngọc Tấn đã trở thành bất tử.
 

(Trích điếu văn của nhà thơ, nhà phê bình nghệ thuật Dương Tường trong lễ tang nhà văn Bùi ngọc Tấn)
 
 
Khói
Truyện ngắn của Bùi Ngọc Tấn

Mặt trời khuất sau ngọn núi cao nhất của cả một dải rừng. Trên đỉnh núi nhô lên như một cái vú bầu bĩnh ấy mọc những cây đại thụ, giờ đây không trông thấy chiều dầy của cành lá nữa mà giống như một bức màn mỏng đính vào nền trời xám. Ông Thản khoác khẩu AK đã lên đạn sẵn nhưng được khoá cơ bẩm và ngước nhìn về phía ấy. Chung quanh ông là rừng rậm. (Gọi "ông" Thản là gọi theo cách của tù. "Ông" Thản là một thanh niên chưa quá 19 tuổi).
 
Ông Thản biết trên đỉnh núi cao nhất kia, các đồng chí của ông đang đưa ống nhòm phóng tầm mắt ra bốn phía, tìm trong tán lá rừng già trải ở phía dưới những dấu hiệu khả nghi. Một bóng người lộ ra ở bìa rừng, lối xuống bản đồng bào Mán. Một sợi khói mỏng như tơ. Và lùng sục. Tay giữ chặt dây xích, ghì lại những con béc-giê giống Đức hăng hái lao đi phía trước. Cố tìm ra một dấu vết nào đó như một mẩu vỏ bí dúi vào bụi cây, một hạt cơm vãi bị lá rừng phủ lên, một cành cây gẫy đáng nghi, một chút hơi người trên thảm lá mục. Dân bản cho biết đêm trước một nhà bị mất một quả bí trong vườn, một nhà khác có nồi cơm nguội để dưới bếp bị vét sạch. Vậy là thằng Dương còn quanh quẩn vùng này. Cái tên tù trốn trại ấy. Nó chưa thể đi xa được. Một bán kính 15 ki lô mét quanh trại đã được bủa vây chặt chẽ. Các bến tầu, bến xe đều có người canh gác.
 
Nhưng thằng Dương vẫn bặt tăm hơi. Nó trốn trại vào ban đêm. Đi lối nhà mét. Cũng may, nó trốn cách ấy. Không ai bị quy trách nhiệm cả. Chứ nếu nó trốn trong lúc đi làm thì lôi thôi to. Hẳn bọn ông đã có người khốn khổ.
 
Có tiếng động phía sau lưng. Ông Thản quay lại, cúi nhìn. Không. Không có ai. Hình như là một cành cây gẫy. Còn sáng thế này nó chưa dám đi đâu. Còn chui rúc ở một hang hốc nào đó. Có khi nó lại leo lên cây, ngồi ngay trên đầu mình. Bất thần ông ngước mắt nhìn lên. Rừng rậm. Một thứ rừng quanh năm xanh tươi, không có mùa rụng lá. Những cành cây phủ đầy rêu ken dầy, quấn quít dây leo. Những dây leo vĩ đại lá to như lá cọ, im lặng để rơi những bông hoa hình loa kèn nặng nề, chín nẫu "bộp, bộp" xuống thảm lá mục. Một con chim lớn từ đâu bay tới, đỗ xuống ngọn cây, ông thấy thoáng đôi cánh rộng êm ru ở khoảng trời xám nhạt hiếm hoi lộ ra trên tán lá.
 
Ông lại khoác súng bước đi. Suối chảy róc rách dưới chân chỉ làm tăng thêm vẻ hoang vu tịch mịch của rừng. Ông đi không nghĩ ngợi và cũng chẳng biết mình đang đi đến nơi nào nữa.
 
Bất chợt ông nhìn thấy một nương sắn đã rỡ. Giữa nương sắn có một cái miếu nhỏ hoang tàn và một cây si cằn cỗi nhưng có rất nhiều rễ phụ toả xuống. Vậy là sắp tới nhà bò. Ông biết mình đang đi dần về phía trại. Ông dừng lại, nhìn ngắm. Những buổi chiều cô đơn trong rừng buồn tái tê. Đành rằng có rừng ở chung quanh đấy, nhưng cũng như người, rừng cô đơn. Và cũng như người, rừng im lặng với nỗi cô đơn của mình, không trò chuyện.
 
Ông lại đi. Ông nghĩ tới thằng Dương. Nó là sinh viên năm thứ tư, vào tù vì tội đánh nhau với thanh niên địa phương trường sơ tán. Án tám năm. Đã tù bẩy năm. Chỉ còn một năm nữa. Mà không cố được. Đã vượt qua bẩy năm. Rồi bỗng thấy không chịu đựng thêm nổi một ngày. Thật là khó hiểu. Và ngu xuẩn. Chỉ vì nó mà bao nhiêu người phải khổ. Năm ngày đêm rồi. Không biết năm ngày vừa rồi nó sống bằng gì. Tý cơm nguội. Quả bí non. Lẩn lút chui lủi trong rừng mãi sao nổi. Trước mắt nó chỉ có một con đường: Chịu sự cải tạo.
 
Tiếng suối vẫn khi gần khi xa. Bài ca muôn thuở của rừng. Ông lại nhìn lên đỉnh núi cao nhất như một cái bầu vú, tìm ánh mặt trời còn sót lại. Bỗng ông giật mình: Khói. Phía rừng bên kia có khói. Làn khói mỏng manh thẳng đứng lẫn trong sương tỏa trên tán cây rừng. Ông định thần nhìn lại. Đúng là khói. Phấn chấn hẳn lên, linh hoạt hẳn lên, ông bước sang phía rừng bên ấy, nhẹ nhàng như một con báo. Tay lăm lăm khẩu AK, ông bước khom khom, căng thẳng. Chốt hãm cơ bẩm được nhẹ nhàng kéo xuống. Nếu đấy là thằng Dương, nếu nó chạy, ông cũng không bắn đuổi theo đâu. Ông chỉ bắn chỉ thiên thôi. Vừa là để cảnh cáo bắt nó đứng lại, vừa để báo động cho đồng đội đến mà bắt mà trói nó, giải nó về trại. Nó phải hiểu rằng nó không thể trốn đâu thoát. Dù có ra  khỏi trại. Dù có vượt qua được những cánh rừng bạt ngàn này. Nó đã làm xáo động cả trại. Nó làm bọn ông xiết bao khổ sở. Hôm nay trời khô, còn đỡ. Mấy hôm trước trời đổ mưa dầm. Mỗi cái lá là bao nhiêu nước. Bọn ông lội suối, chui rừng. Người, chó ướt đẫm. Rét cóng. Đói nữa. Vắt bám cả trên gáy, cả dưới nách. Nó hành hạ bọn ông. Cái thằng khốn nạn ấy...
 
Tất nhiên nó phải vào xà lim. Cùm. Húp cháo loãng. Về tội trốn tránh cải tạo. Nhưng trước khi dong nó về trại phải cho nó biết thế nào là trốn trại... Đấy là bực lên thì nghĩ thế, nói thế thôi. Có khi bắt được nó, nhìn vẻ mặt thiểu não, tuyệt vọng, dáng vẻ tiều tuỵ của nó lại thương, lại kín đáo dúi cho nó mẩu lương khô chưa biết chừng.
 
Ông Thản tháo giầy lội qua suối. Nước cắn vào chân từng miếng. Người ông run lên. Chẳng đợi khô chân, ông xỏ vội vào đôi giầy vải. Và nhẹ nhàng rẽ bụi cỏ lau. Bước lên bìa rừng bên kia.
 
Thật sự ông không tin đó là thằng Dương. Chẳng tên tù trốn trại nào lại đi nổi lửa vào lúc trời còn sáng như thế này. Nhưng dù sao làn khói cũng là mục tiêu để ông đi đến. Để ông tìm hiểu. Để ông trò chuyện. Để ông chấm dứt cảnh cô đơn. Và biết đâu từ đám khói lại mò ra tung tích thằng Dương.
 
Trước mặt ông là một đống lửa nhỏ. Nhưng rừng rực than hồng. Hẳn là một loại củi chắc. Một người quần áo xanh xám, thứ mầu vải quá quen thuộc với ông. Mầu quần áo của bọn phạm. Thoáng nhìn ông đã biết ngay không phải thằng Dương. Đó là Thắng chăn bò. Anh ta ngồi trên gốc cây bị cưa cụt, gục đầu vào hai cánh tay, bất động. Lâu lâu nó lại giơ hai tay ra huơ huơ trên đống than hồng hoặc vun những mẩu củi ngắn vào đống lửa. Không thấy anh ta đun nước. Cũng không thấy nấu nướng cái gì đó. Anh ta chỉ ngồi sưởi. Mà cũng không phải là sưởi. Ngồi gục đầu im lặng trước đống lửa. Thế thôi.
 
Gần một năm trời lên đây, ông vẫn không hiểu được vì sao đám phạm rất thích lửa. Đi làm, việc đầu tiên là nổi lửa cái đã. Họ tản ra mỗi người một phía và trở về với những củi gộc, củi cành. Chỉ một thoáng đống lửa đã bốc lên rừng rực. Rét như thế này, họ đốt lửa đã đành. Về mùa nực cũng một đống lửa to không kém.
 
Nhìn đống lửa đã vạc, tự nhiên ông thấy rét run người. Ông thèm được sưởi, được trò chuyện. Ông Thản khoá nòng súng, bước thẳng về phía đống lửa.
 
Anh tù chăn bò giật mình khi thấy ông công an vũ trang khoác súng đi tới. Anh đứng lên, hai tay duỗi thẳng, ép vào đùi:
 
- Chào cán bộ.
 
Ông Thản ra hiệu cho anh chăn bò tự nhiên. Anh tù lễ phép ngồi xuống một cành củi gần đó, nhường gốc cây cụt cho ông vũ trang.
 
- Cho bò về chuồng rồi à?
- Báo cáo ông, vâng.
- Chưa về trại à?
- Thưa cán bộ, tôi sưởi một tý. Hôm nay rét quá.
- Anh tù bao lâu rồi?
- Thưa cán bộ, tám năm rồi.
- Án bao nhiêu?
- Hai mươi năm.
- Anh năm nay bao nhiêu tuổi?
- Thưa cán bộ, năm mươi hai ạ.
 
Được nói chuyện một tý ông Thản thấy vui vui, lại được hơi lửa hắt vào mặt, vào người dễ chịu quá. Ông định tiếp tục câu chuyện, muốn hỏi Thắng mắc tội gì, nói với Thắng rằng bọn ông cũng rất nhớ nhà và nếu ai cũng tự giác cải tạo như Thắng thì bọn ông đỡ vất vả, nhưng một hồi kẻng từ xa vọng lại. Tiếng kẻng đập vào vách núi này, hắt sang vách núi khác như tất cả rừng núi cùng ngân vang. Kẻng cấm một. Nghĩa là kẻng điểm danh. Anh chăn bò là tù tự giác không phải đứng trong hàng cho cán bộ đếm, nhưng cũng phải về trại. Anh tù đứng lên:
 
- Xin phép cán bộ, tôi về.
 
Ông Thản nhìn theo anh tù một tay khoác bị cói, một tay xách cặp lồng đi khuất vào trong rừng.
 
Còn lại một mình ông. Rừng càng hoang vắng, im lặng. Đã nom thấy sương dầy trên thảm lá mục, dưới những gốc cây. Sương hay hơi đất, hơi rừng bốc lên. Không một tiếng động. Chưa đến giờ thú đi ăn. Vậy cũng là chưa đến giờ thằng Dương mò ra khỏi ổ.
 
Ông Thản với tay nhặt những cành cây khô người tù chăn bò để lại cạnh đấy cho vào đống lửa. Ngọn lửa bùng lên. Khói bốc dầy hơn, quyện cùng sương. Ông nhìn lửa, nhìn sương, nhìn khói, nhìn rừng. Rồi ông gục đầu xuống hai cánh tay khoanh trên gối, nghe chiều sâu im lặng của rừng. Ông nghe lửa ấm quen thuộc trên da mặt. Lửa làm ông ấm áp cả trong lòng, giúp ông thấy mình không bị tách rời khỏi cuộc sống, tách rời khỏi gia đình, bố mẹ anh em đang ở một nơi nào xa lắm. Bởi vì lúc này ông nhìn thấy một cánh đồng mùa đông đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ. Mặc cho những con trâu gặm cỏ, ông và các bạn chăn trâu nhổ gốc rạ, đổ thành đống, đốt lửa. Khói bốc lên. Tất cả ngồi chung quanh. Khói tạt về phía nào, đứa ngồi ở phía đó lấy tay xua, miệng nói:
 
Khói về đằng kia ăn cơm với cá
       Khói về đằng này lấy đá đập đầu.
 
Gục đầu trên cánh tay, ông nhìn rõ cảnh ấy.
 
Gục đầu trên cánh tay, ông im lặng chờ tiếng chân thú đi kiếm mồi.
Đến lúc ấy, ông sẽ khoác súng đứng lên, đi sâu hơn  nữa vào trong rừng.   
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}