Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ trên bình diện tự nhiên

Nguyễn Công Danh | Thứ Năm, 03/10/2013 03:11 GMT +7
Tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương chúng ta thấy nữ sĩ có tiếp nhận quan niệm âm dương, nhìn nhận phụ nữ trong quan niệm âm dương của Dịch học.

 

JPEG - 9 kb

Chúng ta có thể cảm nhận một điều là nữ sĩ thường nói về người phụ nữ trong quan hệ với người đàn ông ở các bình diện khác nhau. Trước hết là thơ nữ sĩ nói về chuyện giao phối giữa nam giới với phụ nữ, trực tiếp là nói: "Năm thì mười họa hay chăng chớ. Một tháng đôi lần có cũng không", còn nói gián tiếp là nói bằng các "nghĩa ngầm" qua các bài thơ nói về sự việc: Đánh đu, Dệt cửi, Trống thủng, Đá ông Chồng bà Chồng,… Chính từ điểm này mà một số người cho rằng Hồ Xuân Hương "khủng hoảng tình dục". Họ cho rằng Hồ Xuân Hương trẻ đẹp, đầy sức sống nhưng tình duyên trắc trở, thèm khát dục vọng, mà viết nên những bài thơ dâm ấy. Kỳ thực không phải như thế. Không có sự tương giao giữa âm và dương, không có sự phối hợp giữa giống cái và giống đực, thì sự sống không sinh sôi nảy nở được. Bởi sự sống bắt đầu từ sự phối hợp giữa âm và dương, giữa người phụ nữ với người đàn ông.

Bài Đánh đu trước đã có trong Hồng đức quốc âm thi tập, nhưng bài đó khác hẳn, nó có tính chất nghi lễ, còn ở Xuân Hương đó là bức tranh chơi xuân, trong đó đánh đu là một sinh hoạt vừa có ý nghĩa thể thao vừa có ý nghĩa thẩm mỹ, vui và đẹp. Tác giả bất ngờ gởi vào đó một chút gợi ý cho ta liên tưởng đến động tác tính giao (có khi đây chỉ là sự gán ghép của độc giả phàm tục chứ người làm thơ, thêu dệt một bức gấm như vậy liệu có ý gì quanh co?) nhưng khách quan chữ nghĩa cứ như thôi miên, không liên tưởng vậy thì không được.

Đá ông chồng bà chồng đã hay lại quý. Đá thành người và người đang yêu nhau ở đỉnh điểm. Mà lại là ông và bà, những người già. Tưởng tượng của thi nhân thật đẹp và bao dung biết bao! Bên trên là "đầu bạc" nhưng bên dưới vẫn "má hồng", vần trẻ trung. Cho nên "Gan nghĩa giải ra" và "Khối tình cọ mãi" vẫn là chuyện đá vàng muôn thuở không kể tuổi tác, vì tình yêu không có tuổi. Và câu kết là một lời tuyên bố cho muôn thế hệ tuổi trẻ: cứ yêu nhau đi, ai nỡ trách. Lời thơ thanh tao, trong suốt.

Cái nhìn đối với phụ nữ trong mối quan hệ âm dương ấy đưa ta đến gần với tín ngưỡng phồn thực là một tín ngưỡng thời nguyên thủy xa xưa.

Thời nguyên thủy, khi con người định cư bước vào giai đọan trồng trọt, chăn nuôi, nhu cầu luôn cấp bách của cộng đồng là kết quả của trồng trọt và chăn nuôi ấy, lương thực thực phẩm trông vào đó. Lần hồi kinh nghiệm tích lũy được cho thấy cây hoặc con gì, muốn được nhân lên để có số nhiều thì không ngoài sự phối hợp cái với đực, trống với mái. Bắt đầu từ con người cũng vậy. Tín ngưỡng thần linh nâng việc phối hợp đực cái, trống mái ấy thành tín ngưỡng thiêng liêng. Sự thờ cúng sinh thực khí ra đời. Hơn thế, tín ngưỡng ấy còn được thực hành trong lễ hội vừa vui chơi vừa có tính chất nghi lễ. Các cặp trai gái giao hợp nhau trên nắp thạp đồng Đào Thịnh ngày nay còn giữ được là dấu vết của nghi lễ thời cộng đồng xa xưa ở nước ta. Ý nghĩa của nó là cầu chúc, khấn vái thần linh sao cho trong trồng trọt, chăn nuôi luôn có sự phối hợp hai giống ấy để cho con và cây được sinh sôi nảy nở ngày càng nhiều và chẳng bao giờ ngừng.

Kỳ thực, tín ngưỡng này không riêng gì ở nước ta mà có mặt ở nhiều dân tộc trên thế giới.

Từ lâu, nước ta đã có các hình thức tổ chức các lễ hội dân gian. Đặc biệt, về sự phối hợp của hai giống đực cái, trống mái để cầu chúc cho sự sản xuất được sinh sôi tăng trưởng nhanh chóng, lễ hội dân gian nước ta vẫn bảo tồn và truyền lại cổ tục mang tính phồn thực. Trong ngày lễ, sự phối hợp ấy được tượng trưng bằng sự giao hòa đực, cái - có khi chỉ thể hiện một cách nhẹ nhàng bằng đôi con giống ấp nhau nhưng cũng có khi chọn một đôi trai gái thanh tân cho giao hợp tượng trưng. Ngoài ra, còn cổ tục khác là rước sinh thực khí ở làng Đồng Kỵ (Từ Sơn - Bắc Ninh). Người ta rước từ miếu về đình hai lễ vật bằng gỗ tượng trưng cho sinh thực khí âm - dương.

Người dẫn đầu hát:

Cái sự làm sao cái sự làm vầy
Cái sự thế này cái sự làm sao.

đồng thời làm những động tác đưa hai sinh thực khí vào nhau như hoạt động giao hợp gọi là vũ điệu âm - dương.

Đặc biệt hơn cả là lễ hội múa mo ở xã Đông Sơn (Hà Tây) vào ngày 6 tháng 2 âm lịch hàng năm. Sau khi cúng thần bằng bánh dầy, bánh cuốn, các chàng trai cô gái chưa có gia đình tập trung tại đình để nghe một ca nhi một tay cầm mo cau, một tay cầm khúc tre (tượng trưng cho sinh thực khí âm và sinh thực khí dương) vừa múa vừa hát. Hát xong, ca nhi tung khúc tre lên. Cô gái nào cướp đựơc khúc tre ấy thì sẽ gặp may mắn trong tình duyên và sẽ được các thần linh che chở.

Ở nước ta không có hội cải trang như ở các nước phương Tây nhưng các làng lại tổ chức lễ hội để vui chơi. Đặc biệt, về sự luyến ái giữa nam và nữ, lễ hội dân gian vẫn còn giữ gìn và truyền lại không ít cổ tục mang tính phồn thực, thể hiện cái quan niệm của tổ tiên trong việc nhân giống và bảo tồn theo tự nhiên.

Thời Xuân Hương, cách đây vài trăm năm, chắc các lễ nghi mang tính phồn thực hãy còn sống trong môi trường văn hóa ấy, con người thông minh tuyệt vời ấy với trí tuệ sắc sảo của mình, đã không bỏ qua mà tìm trong đó một khía cạnh phục vụ cho ý đồ sáng tác của mình. Một mặt là nhằm làm nổi lên ý nghĩa cơ bản sâu xa của việc cầu chúc có tính ma thuật để cho sản xuất được bội thu là trở về với một quan niệm đã thành tín ngưỡng đơn giản: cái gốc của sự sinh sôi nảy nở, cái gốc của sự sống là ở sự giao hòa của hai vật khác giống. Kinh Dịch của Nho gia sẽ cho biết thêm hai vật khác giống ấy được quy vào hai khí âm dương. Từ đó những lễ nghi phồn thực chẳng còn có gì là tục tằn, càng chẳng có gì là dâm đãng. Ngược lại, nó thiêng liêng, cao quý vì nó cầu cho con người có được đời sống dồi dào hơn, tốt đẹp hơn.

Với quan niệm như thế, nữ sĩ kết thúc bài "Đánh đu" một cách thoải mái: "Chơi xuân có biết xuân chăng tá, Cọc nhổ đi rồi lổ bỏ không". Có đủ "cọc" và "lổ", tha hồ cho người đọc liên tưởng, còn nhà thơ trước hết chỉ gợi lên nỗi trống không buồn rười rượi sau khi cuộc vui đã tàn, người tìm vui đã đi xa, bỏ lại hiện trường trơ trọi. Mà cuộc sống có biết bao nhiêu thú vui, bao nhiêu cuộc vui chứ đâu chỉ có giao hoan trai gái. Hơn nữa, như trên đã nói, khi sinh thực khí nam và nữ được quan niệm là vật linh, linga và yôni, được thờ cúng với ý nghĩa là hình tượng tượng trưng cho sự sinh sôi của sự sống thì nó mênh mông vô hạn, vô thủy vô chung. Cho nên với cái cột to lớn như cột đá ông Đùng, cái lỗ thênh thang của bà Đà như hang Thánh Hóa, kích thước ấy là tầm cở tạo hóa, tầm cở vũ trụ của sự sống. Tất cả mọi biểu hiện của sự sống, mọi sinh thể trong trời đất đều từ đó mà ra. Còn như cái cọc đóng vào quả mít cho mau chín, cái giếng có con cá mẹ của lũ ròng ròng, cái quạt vua chúa "Yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày" với "da còn thiếu" và "thịt vẫn thừa"… thì nó vẫn là hình ảnh của cái gốc của sự sống, nó mở to ra vô tận cũng đúng mà rút lại tí tẹo cũng thường tình, giãn ra thì nên vạn vật của cả vũ trụ mà thu lại thì ra hạt cải, con vi trùng,...

Thái độ của Xuân Hương đối với cuộc sống là một thái độ quý trọng, yêu chuộng sự sống sâu xa, mãnh liệt, nhưng với Bà, sự sống đang ở dạng tự làm cốt lõi. Điều này, các nhà nghiên cứu thơ của Hồ Xuân Hương đã nói nhiều.

Chính từ sự sống đủ cặp âm dương với nhau như một quy luật bất di dịch của trời đất mà Xuân Hương tiếc cho các cô phụ nữ xinh đẹp là vậy, nào "như in tờ giấy trắng", nào "Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh", "Chị cũng xinh mà em cũng xinh", thế mà thiếu hẳn "cái vui kia", cái vui được có thêm cái dương để trở thành một đôi âm dương để sinh ra sự sống. Bởi không sinh ra được sự sống, người phụ nữ dù có đẹp có xinh đến đâu cũng uổng phí mà thôi. Ấy là chưa nói tới sự phối hợp âm dương rồi kết hợp thành tình yêu mà chỉ nói tới sự thiếu vắng cái dương để cái âm là các cô tố nữ trở nên những sinh thể đủ khả năng sinh ra sự sống cho đất trời được hài hòa, không gây lệch mất một bên, có âm mà không có dương. Lời thơ ở hai câu kết nhẹ nhàng có pha chút hóm hỉnh "Còn thú vui kia sao chẳng vẽ, Trách người thợ vẽ khéo vô tình" tưởng như một mỉm cười thoáng qua nhưng lại vô cùng sâu sắc. Người làm thơ tỏ ra yêu quý sự sống đã đành mà còn làm một tuyên ngôn triết lý về cái đẹp: kiểng đẹp là phải ra hoa, cây đẹp thì phải ra trái, phụ nữ đẹp thì phải có con hay trước đó là phải có lứa đôi. Không có thì như vũ trụ nghiêng đổ. Một quan niệm như vậy quả nhiên là một tư tưởng lớn. Và tấm lòng con người nói lên điều đó có thể coi là tấm lòng tạo hóa.

Khuyên các bạn gai rủi ro mất chồng, Xuân Hương có ba bài, bài nào nghe cũng cảm động, nhưng mỗi bài giọng điệu khác nhau. Dỗ chị chàng khóc chồng - cái tên nghe đã lạ, dường như có ý chê trách. Cô này "Xấu máu" nên ham hố cái gì đó, chắc là cái "đỉnh chung", "Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung", chứ chọn kẻ vừa tầm với mình thì không đến nỗi. Cho nên bảo cô ấy: "Nín đi kẻo thẹn với non sông" chứ không phải thẹn với hàng xóm láng giềng, cái thẹn như vậy là rất nặng. Bởn bà lang khóc chồng đúng là đùa nhưng thường, rất nhân hậu. Đến Khóc ông phủ Vĩnh Tường thì đúng là than cho sự đứt gãy, sự mất cân bằng trong cặp âm dương, vợ chồng, nên trời đất đều như nghiêng đổ theo. Lời lẽ như vậy chẳng phải dành cho một sự mất mát bình thường mà là một sự mất mát quá lớn, trời mất, đất mất, chứ không chỉ người mất. Đúng là một cái chết làm lệch mất cái hài hòa giữa đất trời, cái hài hòa âm dương. Nỗi đau của người còn hóa ra là một nỗi đau bao la, không thời hạn chứ đâu chỉ là cái tình vợ chồng trăm năm và thời gian để tang chỉ hai bảy tháng. Thật là một lời than hiếm có.

Cũng ở mức độ tự nhiên, cái nhìn với phụ nữ trong mối quan hệ âm dương sẽ đưa tới một quan niệm bình đẳng giữa nam giới và nữ giới. Nếu âm dương phối hợp thì sinh ra sự sống, nghĩa là làm nên sự sống ắt phải có âm có dương, có âm thì có dương, có dương thì có âm, hai bên phối ngẫu với nhau trên bình diện ngang nhau, do đó, âm dương hoàn toàn bình đẳng. Từ đó chuyển lên mức độ xã hội, nhất định cũng phải thế.

Xuân Hương không những quý trọng thương yêu sự sống mà nhân đó còn đề cao vai trò to lớn và không thể thiếu được của phụ nữ trong chức năng thiêng liêng là sinh ra sự sống. Sinh ra con người là phải có đàn bà, đâu chỉ có đàn ông.

Vai trò phụ nữ trong sự sinh ra sự sống còn một điều cực kỳ quan trọng nữa là được tạo hóa giao cho chức năng sinh con. Người mang thai, sinh con, cây nhận phấn giống đực, muông thú nhận tinh giống trống rồi tượng ra phôi, ra trái, ra con… trời đất đều giao cho giống cái, nhưng tại sao lại giao cho giống cái? Một sự thật khó chối cãi là nhiệm vụ sinh nở ở phụ nữ là không những nặng nề mà còn nguy hiểm. Chẳng người mẹ nào tự kể cho con, cho chồng chuyện mang nặng đẻ đau. Dân gian thường truyền nhau bao nhiêu lời ca, tục ngữ về điều đó. Những ông chồng thương vợ đều hiểu rõ nông nỗi ấy của vợ mà yêu thương vợ nhiều hơn. Dạy chữ hiếu cho con cũng bắt đầu bằng ơn mẹ mang nặng đẻ đau, ấp iu bú mớm. Đó là đền bù và cũng là phần tưởng lệ. Người làm mẹ nghe được cũng mát dạ. Nhưng đó đã là việc khác rồi.

Ở mức độ tự nhiên, việc phụ nữ mang thai sinh đẻ không chỉ là mang nặng đẻ đau, cũng không chỉ có nguy hiểm chết người mà có khi còn là một tai họa. Đó là lúc dư luận và hành động của xã hội bất nhân giáng vào thân phận người phụ nữ và đứa con đang ở trong bụng mẹ. Đó là trường hợp những người con gái bị xã hội ném cho cái danh "không chồng mà chữa" với không thiếu thứ đối xử độc ác nào. Chính ở tình cảnh này, Xuân Hương đã đứng ở phía tạo hóa mà cúi mình xuống số phận rủi ro ấy, lên tiếng bảo vệ bằng một lời chân thực mà can đảm vô song ở miệng con gái: "Khối tình một mảnh thiếp xin mang". Người con gái "xin mang" lấy cái thai và gánh chịu tất cả những hậu quả thảm hại mà xã hội xưa dội lên đầu mình, lên đời mình, là vì lẽ gì? Chắc chắn là vì cái chức năng sinh đẻ, sinh ra sự sống mà tạo hóa đã giao cho người phụ nữ. Bởi thường tình, lâm vào cảnh dở dang như vậy, người khác tìm cách hủy cái thai đi hoặc tránh đi chỗ khác, còn người con gái trong bài thơ của Xuân Hương thì nói rõ, nói to, nói công khai: xin mang. Mang thai và mang tất cả mọi tai họa, chứ không sợ mà còn ra vẻ thách thức trong cam chịu. Hai câu kết của bài thơ là lời phụ họa thêm của tác giả sau khi đã làm đủ vai trò trạng sư cho cô gái: "Quản bao miệng thế lời chênh lệch, Không có nhưng mà có mới ngoan". Tất nhiên, cam chịu mà gan dạ như thế thì cũng chả cần cái thằng con trai nó chia sẻ làm gì, chỉ nhắn một câu rất phải chăng cho nó nhớ cái nghĩa ở đời là gì, thế thôi!


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}