Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn hóa:

 

Cần bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống của dân tộc

Thanh Vân (thực hiện) | Thứ Năm, 10/10/2013 03:35 GMT +7
Trung tuần tháng 05.2013, Cục Nghệ thuật biểu diễn, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức cuộc thi Nghệ thuật sân khấu Tuồng và Dân ca kịch chuyên nghiệp toàn quốc năm 2013 tại thành phố Tam Kỳ. Nhân dịp này phóng viên Tạp chí Văn hóa Quảng Nam có cuộc trao đổi với giáo sư Hoàng Chương - Tổng giám đốc Trung tâm Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam, kiêm chủ nhiệm Tạp chí Văn hiến Việt Nam, là thành viên Hội đồng giám khảo cuộc thi, xung quanh vấn đề làm thế nào để bảo tồn và phát huy nền nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Văn hiến xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

JPEG - 32.5 kb

P.V: Thưa giáo sư! Được biết giáo sư là người rất tâm huyết với nghệ thuật dân tộc, đặc biệt là nghệ thuật sân khấu truyền thống, chuyên gia hàng đầu về nghệ thuật Tuồng và cho ra đời nhiều công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật truyền thống, xin giáo sư cho một vài đánh giá về đời sống sân khấu tuồng cả nước trong giai đoạn hiện nay.

GS Hoàng Chương: Tuồng (hát Bội) được đánh giá là bộ môn nghệ thuật mang tính cổ điển và bác học, đứng hàng đầu của nền nghệ thuật dân tộc Việt Nam, có thể sánh ngang với các loại hình sân khấu nổi tiếng ở châu Á. Nói như vậy không phải là ta khen ta mà thế giới đã công nhận loại hình nghệ thuật có giá trị này trong kho tàng di sản của Việt Nam. Các nước đã đánh giá cao nghệ thuật Tuồng ngang hàng với Kinh kịch của Bắc Kinh, nghệ thuật Noh của Nhật Bản. Các loại hình nghệ thuật khác phải học kịch bản và cách biểu diễn của nghệ thuật Tuồng. Vì vậy, Tuồng được đánh giá là môn nghệ thuật mang đậm tính nhân văn và triết học rất cao. Phương pháp nghệ thuật là cách điệu, ước lệ và tượng trưng. Tuồng ra đời cách nay khoảng 500-700 năm, tích luỹ vô số tinh hoa văn hoá dân tộc. Một vở tuồng cổ phản ánh quá khứ nhưng mang tính hiện đại, soi rọi con người hôm nay, hội đủ những thiện – ác – trung – nịnh… Trải qua nhiều thế kỷ, bao thế hệ đã sáng tạo vun đắp nên, vậy hôm nay chúng ta kế thừa ra sao? Chúng ta đã mất mát quá nhiều! Tuồng cổ có khoảng 500-600 vở. Không có loại hình nghệ thuật nào có nhiều đến như vậy, nhưng các vở tuồng đó chủ yếu nằm ở Thư viện Hoàng gia Anh. Trong thời kỳ Pháp đô hộ Việt Nam đã cướp, hoặc mua mang về nước, lưu trữ ở các Thư viện trong nước họ. Còn ở ta, các nghệ nhân Việt Nam đã phục hồi được khoảng 100 vở, chừng ấy đã thấy vốn tuồng của dân tộc ta phong phú như thế nào? Vậy chúng ta cần bảo tồn và phát huy vốn văn hóa quý báu ấy ra sao (?). Phải công nhận rằng thời gian qua, chúng ta chưa làm tốt công tác bảo lưu những vở tuồng cổ trong các đơn vị tuồng và những kịch bản văn học tuồng cũng chưa được lưu giữ đầy đủ ở các thư viện trong nước. Những vở tuồng được các nghệ nhân khai thác cũng không được bảo quản một cách bài bản thì thật đáng tiếc. Hiện nay, vốn kịch bản sân khấu Tuồng truyền thống đã phục hồi cũng chưa được bảo tồn đầy đủ, dẫn đến tình trạng mai một rất nhiều. Mặt khác, đội ngũ nghệ nhân giỏi nghề nhưng không có cơ hội để truyền nghề, bị lãng quên, hoặc không có chế độ trả thù lao. Một số nghệ nhân lớn tuổi chưa kịp truyền lại ngọn lửa đam mê của mình, đã mất đi, mang theo cả vốn liếng quý báu không có gì thay thế được. Đó là thực trạng đáng buồn của nền nghệ thuật nước nhà! Đảng và Nhà nước ta luôn ban hành những Nghị quyết về bảo tồn và phát huy nền văn hóa, văn nghệ dân tộc, nhưng cán bộ lãnh đạo chưa thực sự quan tâm bằng hành động thực tế. Tôi nhớ ngày xưa Bác Hồ, các đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu thường xuyên… đến xem các vở tuồng và sau khi xem xong, Bác và các đồng chí thường mời tác giả, đạo diễn và diễn viên chính đến để động viên, trao đổi thân tình về vở tuồng mới được xem. Sự quan tâm, chăm sóc ấy là niềm động viên, khích lệ lớn đối với đội ngũ văn nghệ sĩ, từ lãnh đạo các đoàn cho đến diễn viên. Thời kháng chiến chống Mỹ cũng vậy, biết bao nhiêu việc bộn bề nhưng các đồng chí lãnh đạo vẫn thường xuyên đến xem Tuồng, vẫn quan tâm động viên, khích lệ nghệ sĩ, như thế nhân dân mới hưởng ứng và cổ vũ nhiệt tình đối với nghệ thuật Tuồng.

Thực trạng sân khấu Tuồng hiện nay thưa vắng khán giả. Ở Hà Nội rạp hát sang trọng, nghệ sĩ biểu diễn rất tốt nhưng không bán được vé, thậm chí miễn phí vẫn thưa vắng người xem. May sao ở vùng một số vùng nông thôn, nhân dân vẫn còn hăng hái xem tuồng. Cơ chế thị trường tác động khá mạnh vào nền nghệ thuật truyền thống cùng với nghệ thuật giải trí đơn thuần thu hút giới trẻ làm cho nghệ thuật truyền thống bị cô lập. Phần lớn khán giả không còn yêu thích tuồng nữa. Trong xu thế mở cửa, hội nhập, thị hiếu thẩm mỹ của người dân theo chiều hướng khác, họ thích xem phim Trung Quốc, Hàn Quốc… và ca nhạc hiện đại hơn là đến với sân khấu truyền thống. Từ khán giả không yêu thích đến đồng lương của diễn viên thấp nên người có thanh - sắc sẽ không theo học nghệ thuật truyền thống vì không đảm bảo cuộc sống. Hằng năm, trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội không tuyển sinh được một chỉ tiêu tuồng nào, đội ngũ diễn viên trẻ có thanh có sắc ngày càng hẫng hụt, nguyên nhân là chế độ, chính sách đãi ngộ chưa công bằng. Một diễn viên tuồng đảm nhiệm vai chính đêm đêm ướt đầm mồ hôi trên sân khấu nhưng thù lao cũng chỉ từ 100 đến 200.000 đ/đêm diễn. Còn với ca sĩ một bài hát phải tính từ 5 đến 10 triệu trở lên. Sự mâu thuẫn trong doanh thu với khoảng cách khá xa, nhưng đến nay, nhà nước chưa có biện pháp nào giúp người nghệ sĩ tuồng đảm bảo đời sống để họ dồn sức lực cống hiến cho sự nghiệp bảo tồn sân khấu truyền thống và phục vụ nhân dân. Họ tập luyện vất vả, tốn nhiều mồ hôi, công sức mới có thể diễn trên sân khấu. Nhưng chế độ chính sách, đồng lương không bù đắp được sự lao động sáng tạo nhọc nhằn. Nhưng vì yêu nghề, vì niềm đam mê mà họ phải tập luyện, phải biểu diễn. Một thực tế là hiện nay không có lực lượng sáng tác kế cận, bởi viết kịch bản Tuồng mang tính nhân văn và văn học cao nên cực kỳ khó. Nhiều vở diễn hấp dẫn, nhưng giá trị hàm lượng văn học lại quá khiêm tốn. Đội ngũ sáng tác cho Tuồng chỉ tính trên đầu ngón tay. Một thành phần quan trọng để làm nên một vở tuồng hay, đó là đạo diễn tuồng, mà đạo diễn tuồng lại khác với đạo diễn kịch nói, cải lương hoặc chèo, tức là phải am hiểu thật sâu sắc nghệ thuật tuồng thì mới có thể dàn dựng nên một vở tuồng đích thực. Thực trạng này báo động một điều rằng: đào tạo đạo diễn tài năng, diễn viên giỏi và có vở diễn hay là cực kỳ khó khăn.

P.V: Giáo sư đánh giá như thế nào về liên hoan nghệ thuật Tuồng – dân ca chuyên nghiệp toàn quốc lần này tổ chức tại Quảng Nam. Giáo sư đánh giá như thế nào về vở diễn của đoàn Quảng Nam?

GS Hoàng Chương: Qua cuộc thi lần này, có thể nói rằng chưa có vở Tuồng nào nổi bật, thật sự xuất sắc. Mặc dù, cuộc thi đã được chuẩn bị từ lâu và cũng khá công phu. Các đoàn đã cố gắng đầu tư nhiều, nhưng chưa thật sự thành công. Điều đó cho thấy, đội ngũ sáng tác tuồng rất mỏng. Còn đạo diễn thì đa số dùng thủ pháp kịch nói áp dụng vào tuồng nên làm giảm chất tuồng trên sân khấu rất rõ. Về dân ca kịch thì các Đoàn Bài chòi, ca kịch Huế, ví dặm Nghệ Tĩnh… đều hát hay trong những vở diễn chưa được hay. Diễn viên như là người thi võ, nhưng sân khấu không có đất cho họ trổ tài; đạo diễn chưa phát huy hết thế mạnh của diễn viên dân ca kịch, không cho họ hát, mà nói là chính. Mặc dù, đây là cuộc thi sân khấu Tuồng – dân ca chuyên nghiệp toàn quốc chứ không phải sân khấu kịch nói. Riêng Vở “Khúc ca bi tráng” của Đoàn ca kịch bài chòi tỉnh Bình Định được Ban giám khảo đánh giá là vở hay, rất hấp dẫn, vở đấy người viết kịch bản và đạo diễn đã để cho diễn viên trổ tài; tính bi hùng, bi tráng nhưng không bi lụy, vở diễn đã tạo được đất cho người diễn ca kịch được hát, tạo cảm xúc sâu lắng trong lòng người xem. Vở “Mùa yêu đương” của Đoàn dân ca kịch Huế, vở “Chuyện lạ ở trần gian” của đoàn ca kịch Khánh Hoà cũng gây được cảm tình của người xem vì diễn viên hát hay và diễn xuất rất nhiệt tình.

Riêng đoàn Quảng Nam chọn vở “Biển và bờ”; nói về mối quan hệ giữa biển và bờ và trách nhiệm của thế hệ thanh niên hôm nay đối với Tổ quốc với biển đảo thiêng liêng. Ý nghĩa vở diễn rất hay, từ cái tứ đến ý nghĩa chính trị. Về cơ bản Đoàn Quảng Nam đã thể hiện được chủ đề tác phẩm, diễn viên hát bài chòi khá hay và diễn rất nhiệt tình. Song điểm yếu của vở diễn ở chỗ, đạo diễn đã cường điệu hóa những sinh hoạt đời thường, sa vào chi tiết, bộc lộ những hành động quá đà, mất tính dân tộc. Ca kịch Bài Chòi là loại hình nghệ thuật dân gian, nếu vượt sự thật sẽ gây phản cảm cho nhiều người. Xem sân khấu ca kịch dân tộc bao giờ hành động của nhân vật cũng chỉ xảy ra xung quanh sân khấu, nếu chúng ta xử lý sai, xa rời thực tế, xa rời nguyên tắc, sẽ không hay. Xin nhắc lại, lỗi này không phải ở diễn viên.

Khán giả Quảng Nam đến với sân khấu truyền thống có nhiều khán giả trẻ, thỉnh thoảng tiếng cỗ tay vang lên qua các lớp diễn kết thúc, thể hiện văn hóa của người xem. Tôi cho rằng như vậy là rất tốt. Tuy nhiên, có hôm Nhà hát cũng khá thưa vắng người xem. Giá như chúng ta làm tốt hơn công tác tuyên truyền, sẽ huy động được một lượng khán giả đáng kể. Người dân hưởng thụ văn hóa tốt sẽ nâng cao đời sống tinh thần. Theo tôi, một vở diễn hay, nên diễn nhiều lần ở nhiều điểm để công chúng yêu nghệ thuật có cơ hội thưởng thức, đỡ gây lãng phí cho nhà nước và phát huy được tác dụng. Liên hoan, hội diễn tổ chức ở đại phương nào là người dân ở đó được hưởng thụ văn hoá. Mặt khác người xem càng đông càng cổ vũ khích lệ cho người biểu diễn trên sân khấu. Việc nghệ sĩ cả nước kéo về TP Tam Kỳ thi tài là dịp hiếm có, vì vậy, muốn cho sự kiện văn hóa nổi bật, vấn đề cốt lõi là tuyên truyền, cổ động để thu hút khán giả nói chung. Công tác cổ động, tuyên truyền của chúng ta chưa tốt lắm, đặc biệt, truyền hình Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Các Đài truyền hình kể cả Trung ương và địa phương trước khi phát các vở tuồng và dân ca cần mời chuyên gia nói về cái hay, cái đẹp, cần có sự kích thích ham muốn nghệ thuật để người xem chú ý để thưởng thức nghệ thuật. Tuyên truyền, quảng bá là một công việc cực kỳ quan trọng, nghệ thuật sân khấu ngoài việc viết kịch bản hay, diễn xuất hay còn phải biết cách tuyên truyền để thu hút khán giả. Tuyên truyên quảng bá là một mảng lớn trong công tác lôi kéo công chúng gần đây. Mỗi năm tôi được mời sang Mỹ một lần để giảng về nghệ thuật Tuồng, nếu tôi không đi được thì sinh viên từ bên Mỹ sang Việt Nam để nghe tôi giảng, các bạn thấy đó, thế hệ trẻ tiến bộ bên trời Tây mà họ đã yêu thích nghệ thuật truyền thống của nước mình như vậy, còn ở ta thì đáng buồn! Một bộ phận không nhỏ tuổi trẻ Việt Nam quay lưng với nghệ thuật truyền thống vì họ chưa được hiểu hết cái hay cái đẹp của nghệ thuật tuồng

P.V: Xin giáo sư cho biết hướng bảo tồn nghệ thuật Tuồng (hay là nghệ thuật truyền thống nói chung) của dân tộc. Sự tồn tại của sân khấu phụ thuộc vào công chúng, vậy làm thế nào để thu hút khán giả, nhất là khán giả trẻ, đến với nghệ thuật sân khấu truyền thống?

GS Hoàng Chương: Tổ chức cuộc thi là hình thức để bảo tồn vốn văn hóa, nghệ thuật truyền thống của cha ông. Làm thế nào để thế hệ trẻ hôm nay hiểu để tuồng và dân ca kịch cũng bảo tồn và phát huy vốn nghệ thuật dân tộc một cách hiệu quả nhất. Một điều đáng buồn là hiện nay hát xoan, hát quan họ, rất ít khán giả. Tuồng – dân ca, cũng rất ít khán giả trẻ. Làm thế nào để thế hệ trẻ hiểu mà thưởng thức và bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Đây là vấn đề khó nhưng chúng ta cần phải làm. Giáo dục nghệ thuật truyền thống và định hưởng thẩm mỹ cho giới trẻ là vấn đề cấp thiết hiện nay; ví dụ, văn chương trong các vở Tuồng cổ rất sâu và hay mà các loại hình nghệ thuật khác phải học, không hiểu được cái hay của nó thì làm sao yêu được? Chúng ta cần có những buổi giảng cho lớp trẻ hiểu cái sâu sắc, cái hay của nghệ thuật truyền thống; ví dụ một câu hát Nam trong vở tuồng “Hộ sanh đàn” của Đào Tấn vừa đậm đặc chất trữ tình vừa mang một nội hàm triết luận rất sâu: “Lao xao sóng vỗ ngọn tùng/ Gian nan là nợ anh hùng phải vay”. Nếu không phân tích, giảng giải thì người nghe không thể hiểu được cái hay của câu hát. Điều này chúng tôi đã trải nghiệm qua “Dự án sân khấu học đường” trong hơn 10 năm qua. Nhà nước cần có chính sách đối với sự nghiệp văn hóa dân tộc, đưa nghệ thuật truyền thống vào học đường thì mới có khán giả trẻ. Chúng ta cần có sự đào tạo liên tục, có bài bản, có lực lượng nghệ sĩ truyền lửa, truyền niềm đam mê cho thế hệ trẻ. Hiện nay, đội ngũ những nghệ sĩ lớn tuổi nghỉ hưu rất nhiều, họ cũng muốn truyền nghề, nhưng nhà nước cần có chế độ chính sách cho lực lượng nghệ sĩ nghỉ hưu để họ có động lực để làm tốt công tác này.

P.V: Quảng Nam là một trong những chiếc nôi của nghệ thuật Tuồng truyền thống, đã từng sản sinh nhiều nghệ sĩ có tên tuổi. Tuy nhiên, hiện nay tỉnh không có đoàn tuồng chuyên nghiệp nào… Theo giáo sư, Quảng Nam cần làm gì để duy trì, phát triển loại hình sân khấu truyền thống đặc sắc này?

GS Hoàng Chương: Trong lịch sử, tất cả các nghệ sĩ giỏi về hát bội chỉ có ở Quảng Nam và Bình Định tiêu biểu là vị hậu tổ tuồng Đào Tấn ở Bình Định và cụ Nguyễn Hiển Dĩnh ở Quảng Nam. Hai vị tổ sư này đã đào tạo rất nhiều nghệ sĩ tuồng tài danh. Ở Quảng Nam có “Con Rồng trên sân khấu tuồng”, là Đại biểu Quốc hội khoá IV. Từ năm 1952, Đoàn tuồng Liên Khu V trên cơ sở nghệ nhân ở Quảng Nam và Bình Định và một số nghệ sĩ của Quảng Ngãi tập kết ra miền Bắc họ là lực lượng hát tuồng giỏi nhất của cả nước. Đoàn tuồng Thanh – Quảng nay là Đoàn tuồng Thanh Hoá cũng do các nghệ sĩ tuồng Quảng Nam đào tạo ra từ những năm 60 (TK20). Đến nửa thế kỷ qua mà Đoàn tuồng Thanh Hoá vẫn giữ được phong cách tuồng xứ Quảng Trong xu thế chúng ta đang nỗ lực cho công tác bảo tồn loại hình nghệ thuật tuồng truyền thống thì, Quảng Nam và T.P Đà Nẵng chỉ có một đơn vị tuồng thì chưa đủ. Quảng Nam là vùng đất văn hoá – chiếc nôi sản sinh ra nghệ thuật Tuồng, nhiều nghệ sĩ tên tuổi đã từng vang danh một thời trên sân khấu Tuồng của cả nước như NSND Nguyễn Nho Túy, NSND Nguyễn Lai, NSND Ngô Thị Liễu, NSND Nguyễn Phẩm, nhà soạn tuồng Tống Phước Phổ, GS Hoàng Châu Ký và các NSUT Văn Phước Khôi, Tư Bửu v.v. Vì vậy Quảng Nam thành lập được Nhà hát Tuồng chính là bảo tồn cái gốc của nghệ thuật Tuồng – nơi sản sinh ra nó nhằm phục hồi di sản văn hóa, giữ lại nét truyền thống xa xưa của cha ông. Được biết, Quảng Nam hiện có nhiều CLB Tuồng ở các địa phương đang hoạt động khá mạnh, có Hội bảo trợ Tuồng ở huyện Duy Xuyên. Việc thành lập Nhà hát Đoàn tuồng chuyên nghiệp sẽ thực hiện từng bước, cái gốc ta đã có ở cơ sở (các CLB), Đoàn tuồng chuyên nghiệp của Quảng Nam sẽ giao lưu với các đoàn tuồng khác, sẽ thu hút được nhiều tài năng. Theo tôi làm được như vậy trong thời gian từ 2-3 năm sẽ có Đoàn Tuồng Quảng Nam chuyên nghiệp. Tôi mong được nói điều này với lãnh đạo tỉnh Quảng Nam. Chúng tôi sẽ hỗ trợ hết mình cho việc thành lập Đoàn Tuồng chuyên nghiệp Quảng Nam, dĩ nhiên phải có chuyên gia giỏi vì “không thầy đố mày làm nên”! Một tỉnh có bề dày văn hóa và truyền thống cách mạng như Quảng Nam, lẽ nào không dành được từ 15-20 biên chế để bảo tồn và phát huy nghệ thuật Tuồng xứ Quảng. Điều này làm tôi trăn trở mãi, Quảng Nam đất sản sinh ra nền nghệ thuật Tuồng lại không thành lập được đoàn tuồng chuyên nghiệp (?).

Là người tâm huyết với sự nghiệp bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống dân tộc tôi mong rằng nhân buổi trao đổi hôm nay sẽ là cú hích để lãnh đạo Quảng Nam quan tâm, để rồi trong nay mai Nhà hát Tuồng Quảng Nam ra đời sẽ là nơi bảo lưu di sản văn hóa cho đất Tuồng xứ Quảng.

P.V: Trân trọng cám ơn GS đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}