Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ký ức những người cộng sản Pháp

Ths. Phạm Hoàng Điệp | Thứ Ba, 22/10/2013 07:19 GMT +7
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, người bạn lớn của nhân dân thế giới. Đối với nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho quan hệ hữu nghị giữa hai Nhà nước, hai dân tộc Việt Nam và Pháp.

 

JPEG - 30.8 kb
Bác Hồ tại Đại hội Đảng Cộng sản Pháp (1920). Ảnh TL

Đặc biệt, Người là thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng đường lối chống chủ nghĩa thực dân, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Nhân kỉ niệm 123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những kỉ niệm của các đồng chí cộng sản Pháp - những người đã từng được làm việc hoặc gặp gỡ, tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Người đầu tiên mà chúng tôi gặp gỡ là đồng chí Đalila Caxenli - thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời gian Người ở Pháp năm 1946. Ông chia sẻ: “Trong cuộc đời hoạt động cách mạng 43 năm của mình, tôi đã có hạnh phúc được ở gần năm chiến sĩ cộng sản lỗi lạc là Mascxen Casanh, Pôn Vayăng Cutuayriê, Môrixơ Tôrê, GiắcĐuyclô và Chủ tịch Hồ Chí Minh, và tôi coi đó là một trường học phong phú biết bao đối với một chiến sĩ cách mạng.

Tôi là thư ký của Người suốt thời gian cuộc thương lượng ở Phôngtennơblô năm 1946. Chúng tôi ở khách sạn Ngôi sao. Hàng ngày tôi sắp xếp báo chí mà Người theo dõi. Chúng tôi thảo luận về những diễn biến của cuộc đàm phán. Qua những lúc trò chuyện, tôi cảm thấy Người yêu quý đất nước của mình hơn hết, và Người âu yếm biết bao các cháu thiếu nhi. Người nhắc đến những cái đó với biết bao nhân ái. Gương mặt Người rạng rỡ lên. Người hiền hòa, lanh lợi, rất tế nhị, đồng thời rất kiên quyết”.

Ông C-harles Phourniaux – Nhà sử học, nhà báo, cựu Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp - Việt cũng không khỏi bồi hồi, xúc động kể lại những kỉ niệm được gặp gỡ và tiếp xúc với Bác Hồ:

“Tôi nhớ có một lần sau năm 1965, tại một trong những ngôi nhà xinh xắn, tại Phủ Chủ tịch, tôi ngồi đợi Chủ tịch Hồ Chí Minh tới. Người. Người đã tới, mặc bộ quần áo nâu, đầu đội mũ vải, tay chống gậy nhỏ. Giọng nói của Người yếu hơn những lần trước tôi được gặp hồi năm 1964 – 1965, nhưng đôi mắt vẫn tinh nhanh như xưa, vừa hóm hỉnh, sâu sắc, vừa hiền từ. Thấy tôi, Người nói đùa ngay một câu về mái tóc ngày càng bạc trắng của tôi. Giọng nói của Người rất tự chủ, lúc nào cũng đi thẳng vào vấn đề, không một chút nghi thức. Chúng tôi bắt đầu vào công việc.

Cũng vẫn là con người tôi đã được biết cách đây mấy năm, con người mà sự có mặt phi thường như choán hết cả gian phòng, thái độ ân cần hết sức lịch thiệp và hòa nhã của Người đối với khách làm cho người ta trong những phút đầu thấy đôi chút lúng túng, nhưng sau đó lại tạo ra một bầu không khí thân mật, thoải mái.

Giờ phút tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm ấy là một trong những giờ phút đáng ghi nhớ trong đời tôi. Chúng tôi nói chuyện về Lênin, Người không tìm cách dạy tôi những bài học về đạo đức hay chính trị, mà kể lại những chuyện cũ năm xưa, nhưng càng nghe tôi càng thấy Người không chỉ nói về một vấn đề lớn của đất nước, mà còn dạy cho tôi một bài học luân lý và chính trị.

Điểm làm tôi chú ý đặc biệt là trong đề cương tôi đưa cho Người là Người đã gạch tất cả những cách thể hiện tiêu cực để thay bằng những cách thể hiện tích cực cùng nghĩa, Người không viết: “Không có chủ nghĩa xã hội thì các dân tộc không thể đi đến giải phóng hoàn toàn” mà viết: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể đảm bảo cho các dân tộc được giải phóng hoàn toàn”… Đây không phải là một thói quen trong cách sử dụng ngôn ngữ mà đây chính là một nếp suy nghĩ của Người. Nếp suy nghĩ ấy thể hiện ra như vậy, làm cho người ta thấy rằng trong tất cả mọi tình huống dù là đen tối nhất, Người đã phân biệt rõ cái gì là tích cực, cái gì là hướng về cuộc sống và tương lai”.

Chúng tôi còn được gặp gỡ một luật sư, hoạt động trong Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, tham gia Ban Biên tập báo Người cùng khổ, ông Max Clainville Blongourt. Ông cũng không kìm nén được cảm xúc khi kể về những kỉ niệm tiếp xúc với Bác Hồ:

“Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Chính phủ Pháp ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân thuộc địa và đẩy họ đi làm bia đỡ đạn trên chiến trường châu Âu. Những người dân thuộc địa đi lính cho Pháp hồi đó bị đưa đi đánh quân Đức và phải chịu nhiều nỗi khổ cực. Chiến tranh kết thúc, nhân dân các nước thuộc địa Pháp được giác ngộ hơn và nhiều phong trào chống thực dân Pháp đã diễn ra khắp nơi. Trong hoàn cảnh đó, những người dân thuộc địa cư trú ở Pháp đã tập hợp lại và tổ chức ra “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa”. Tổ chức này đã thu hút những người Mađagaxca, Đahômây, Xênêgan, Ghinê, Ăngtin, Goađơlúp, Mactiních, Haiti, Angiêri, Đông Dương… Và tôi đã gặp anh Nguyễn Ái Quốc trong buổi thành lập Hội đó. Đó là một ngày vào năm 1922 ở Pari. Tôi nhớ rõ lần đầu tiên quen biết anh trong buổi họp của Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, tôi thấy anh người gày gò, mảnh khảnh, với giọng nói nhỏ nhẹ, anh tự giới thiệu là người Việt Nam, làm nghề thợ ảnh, đã đến ở Pari trước tôi ba năm, hiện đang sống ở ngõ Côngpoanh. Anh nói tiếng Pháp thành thạo và khi tiếp xúc, tôi thấy đây quả thực là một người đáng mến.

Anh Nguyễn đi họp và đi dự các buổi mít tinh của Hội rất đều. Anh nghèo nhưng ăn mặc chỉnh tề. Hoạt động với anh, tôi thấy anh là một người hăng hái đấu tranh cho việc giải phóng các dân tộc thuộc địa, không riêng dân tộc Việt Nam của anh mà tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Anh có lòng tin mãnh liệt ở thắng lợi cuối cùng và anh cho rằng muốn giải phóng dân tộc phải làm cách mạng, không có con đường nào khác. Tôi có cảm tưởng, ở anh, ý nghĩ đấu tranh giải phóng dân tộc luôn luôn khắc sâu trong tâm trí và quán triệt suốt cuộc đời của anh. Một lần nghe tin thực dân Pháp khủng bố tàn sát nhân dân ở Đahômây, tôi thấy anh căm phẫn, xúc động, đau đớn như chính việc đó xảy ra đối với nhân dân Việt Nam. Anh là một con người đầy tình nhân đạo và tinh thần quốc tế. Không bao giờ thấy ở anh một nét nhỏ nào của sự ích kỷ. Và càng hoạt động, chúng tôi càng yêu thương nhau, càng thấy các dân tộc thuộc địa phải đoàn kết với nhau chống kẻ thù chung. Anh đã trở thành người bạn thân và tin cậy của tôi… Đấy là một người bạn tốt, dịu dàng, đáng mến, lo xa, yêu thương đồng đội, chịu khó giúp đỡ người khác.

Tôi sung sướng vì thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng tạo ra nền độc lập của nhân dân Việt Nam, là người đã đưa cách mạng Việt Nam đến thành công hết sức vẻ vang. Tôi sung sướng vì thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn đầu trong số những nước thuộc địa châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh giành lại chính quyền cho nhân dân mình.
Quen biết Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lúc còn thanh niên, tôi luôn giữ trong lòng một cảm tưởng sâu sắc, một hình ảnh không bao giờ phai nhạt: “Đó là một đồng chí tốt bụng, trung hậu, dũng cảm với lí tưởng đấu tranh vô cùng cao quý và đẹp đẽ”.

Trong số những người cộng sản Pháp mà chúng tôi được gặp, có bà Marie Claude Vaillant Couturier, vợ cựu Chủ nhiệm báo Nhân đạo, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Pháp và Hội Liên hiệp phụ nữ dân chủ quốc tế, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp, nghị sĩ Quốc hội Pháp. Bà kể lại: “Tôi nhớ mãi không quên hai lần tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hai lần gặp ấy càng làm tôi nhận thức sâu sắc hơn về Người. Lần gặp đầu vào năm 1946 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pari nhân dịp Hội nghị Phôngtennơblô. Đấy là lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Pháp sau năm 1923. Lần này, Người trở lại Pari với tư cách là nguyên thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ tuổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó mời cơm một số lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp tại khách sạn Roayan Môngxô. Chủ tịch còn cho mời chị Matin Pêri và tôi cùng đến dự vì muốn tỏ lòng thương nhớ tới hai người bạn Pháp đã ủng hộ nhiệt tình cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam và đã quá cố. Đó là Gabrien Peri, chồng chị Matin, và Paul Vaillant Couturier, chồng tôi.

Trong bữa ăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh gợi lại những kỉ niệm của mình về nước Pháp, về những năm hoạt động cách mạng, về tình hình Việt Nam, về mối quan hệ giữa nhân dân Pháp và Việt Nam. Tôi nhớ lại hồi nhà tôi còn sống, nhà tôi có kể chuyện về đồng chí Nguyễn Ái Quốc cho tôi nghe. Paul nói với tôi: chính nhờ đồng chí Nguyễn Ái Quốc mà ông hiểu ra vấn đề chủ nghĩa thực dân Pháp và biết thêm về sự đàn áp, bóc lột của thực dân Pháp ở thuộc địa. Và Paul cho rằng việc quen biết đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã giúp ích rất nhiều cho ông trong việc nắm chắc hơn vấn đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.

Lần thứ hai tôi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bắc Kinh năm 1959. Lúc đó Người dẫn đầu Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang dự Quốc khánh lần thứ 10 của Trung Quốc, còn tôi thì tham gia Đoàn đại biểu Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế. Một hôm, tôi nhận được giấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến ăn cơm. Một chiếc xe hơi đến đón và đưa tôi tới biệt thự của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời tôi đến ăn cơm cùng với Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp do đồng chí OandécRôsê dẫn đầu. Nhưng khi tới nơi, tôi ngạc nhiên khi chỉ thấy có mình tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Người cho tôi biết: “Tôi đã mời bốn đồng chí Pháp đến ăn cơm vào một buổi khác. Tối nay tôi muốn gặp cô để nói chuyện về người bạn cũ của tôi là Paul Vaillant Couturie”.

Chủ tịch nói rằng nếu Paul Vaillant Couturie còn sống, ông sẽ vui mừng biết chừng nào khi thấy nước Việt Nam ngày nay đã thoát khỏi ách thực dân và đang xây dựng cuộc sống mới mặc dầu bị chiến tranh tàn phá. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói đến sự tin tưởng vững chắc của Người ở thắng lợi cuối cùng của nhân dân Việt Nam.

Tôi vô cùng cảm động về lần gặp này vì tuy bận việc nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả một buổi tối để nói chuyện trên phương diện tình cảm con người về một người bạn cũ đã qua đời 22 năm về trước. Đấy là một trong những tính cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một con người nồng hậu, cởi mở”.

Một người nữa mà chúng tôi muốn nhắc đến là đồng chí Léo Phighe – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới. Bằng những kinh nghiệm của bản thân, ông xúc động kể:

“Đặc điểm nổi bật của đồng chí Hồ Chí Minh là đức tính nhân hậu và thái độ ân cần, niềm nở của đồng chí đối với mọi người, do đó, đồng chí đã gây được thiện cảm đối với họ ngay từ những giây phút đầu gặp gỡ. Người ta thấy ở đồng chí một vốn sống dồi dào, một sự hiểu biết rộng lớn, với trình độ văn hóa của một người mà không ai quên rằng, người đó đã là một nhà báo, một nhà văn và một nhà thơ trong số những nhà báo, nhà văn và nhà thơ ưu tú nhất của Việt Nam. Từ con người của đồng chí tỏa ra ánh sáng của người chiến sĩ cách mạng đã hoạt động tích cực ngay từ những ngày còn trẻ tuổi, đó là ánh sáng của một nhà yêu nước, yêu dân tộc, yêu xứ sở mình, và suốt đời chỉ có một mục đích là làm sao cho dân tộc và đất nước mình được tự do. Lần đầu tiên tôi được gặp đồng chí là vào năm 1946, khi đồng chí lãnh đạo Đoàn đại biểu của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại hội nghị Phôngtennơblô mà vì những quyền lợi ích kỷ, thực dân Pháp rốt cuộc đã làm cho thất bại.

Hình dáng mảnh dẻ của đồng chí với vầng trán cao, cái nhìn sắc sảo và nồng nhiệt, bộ râu làm nổi bật nét mặt của vị Cha già, đã để lại cho tôi lúc ấy một cảm xúc rất sâu sắc. Một điểm khác cũng làm cho tôi hết sức chú ý là những hiểu biết của đồng chí về nước Pháp và mối thiện cảm của Người đối với nhân dân Pháp mà Người đã tìm hiểu trong những cuộc đi biển trên các tàu Pháp, qua những lần tiếp xúc với những thủy thủ, những công nhân bốc vác ở các bến cảng và nhất là trong thời kỳ đồng chí sinh sống ở Pari năm 1914.

Ở đồng chí, tất cả đều giản dị. Nhà lãnh đạo kiệt xuất ấy mặc chiếc áo truyền thống của nông dân Việt Nam và đi đôi dép lốp. Đồng chí là một người Việt Nam sống giữa những người Việt Nam. Đồng chí làm tất cả mọi việc mà những người Việt Nam đang làm trong thời kỳ ấy… Đồng chí rất khiêm tốn, sống thanh đạm, yêu lao động, đồng chí tăng gia sản xuất như mọi người. Uy tín hiển nhiên của đồng chí vừa do sự sáng suốt trong lĩnh vực chính trị, lại vừa do tác phong gương mẫu, đồng chí dùng uy tín của mình được xây dựng trên cơ sở đạo đức và tác phong gương mẫu đó để phục vụ cho vấn đề đoàn kết giữa các dân tộc. Vì rằng nhà yêu nước hết sức nồng nàn ấy đồng thời cũng là một chiến sĩ cách mạng quốc tế”.

Người cộng sản Pháp cuối cùng mà chúng tôi muốn nói đến trong bài viết này là bà Jeannette Vermersch Thorez, vợ cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Maurice Thorez, cựu Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Pháp, cựu nghị sĩ Quốc hội Pháp, cựu Ủy viên Ban Thường vụ Hội Liên hiệp phụ nữ dân chủ quốc tế. Bà chia sẻ:

“Trong 40 năm hoạt động cách mạng, tôi không thường xuyên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng tôi hết sức xúc động khi nhớ lại những kỉ niệm về Người, một người cha, một người anh, một người bạn thân thiết, một người cùng tư tưởng, cùng học thuyết, cùng một mặt trận đấu tranh - mặt trận chống đế quốc, vì hòa bình và chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tôi cũng như đối với hàng triệu người Việt Nam là “Bác Hồ”.

Một trong những đạo đức thành truyền thuyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà tôi có dịp thấy tận mắt là sự giản dị của Người. Bác sống hết sức giản dị trong một căn phòng trống trải, trong đó chỉ có một cái giường con và một chiếc bàn làm việc. Người không ở trong dinh Toàn quyền cũ, dinh đó chỉ dành riêng cho khách. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mặc chiếc áo khoác ngoài cũ, đi đôi dép cao su, không có gì hơn thế. Giữa bạn bè, người ta không biết lấy gì biếu Chủ tịch. Hình như Chủ tịch không cần điều gì khác hơn sự ủng hộ chính nghĩa cho Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không ôm đồm giấy má, sổ tay, bút viết. Người biết nên nói những gì cũng như Người biết nghe người khác nói. Người nói chuyện một cách giản dị, chân thành, không cầu kỳ. Người không bận tâm vào những chi tiết nhỏ mà nhớ những điều thực chất. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà hiền triết. Sự chân thành, thẳng thắn, sự trong sạch và lòng tin ở phong trào giải phóng dân tộc, ở chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là sức mạnh của Người. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người tin tưởng chắc chắn nhân dân Việt Nam sẽ toàn thắng. Trong câu chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ nói về bản thân, về những nhà tù mà Người trải qua, về những việc làm và công trạng của Người. Người cũng không để lộ những suy nghĩ của Người về những vấn đề muôn mặt của cuộc sống hàng ngày và của đời hoạt động cách mạng. Bao giờ Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói đến những đau khổ của nhân dân, tinh thần dũng cảm và đức tính hi sinh của dân tộc Việt Nam, về tinh thần anh dũng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng phụ nữ. Người tin tưởng ở phụ nữ và đối xử rất bình đẳng. Người cho chúng ta cảm tưởng là Người sống hoàn toàn vì sự nghiệp độc lập của các dân tộc, vì hòa bình và chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà ái quốc, một chiến sĩ cách mạng quốc tế chân chính; một người có tính nhân đạo lớn lao và là một ngọn cờ”.

Qua những lời kể vô cùng xúc động của các đồng chí cộng sản Pháp, có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại trong ký ức của họ những tình cảm hết sức tốt đẹp và mối thiện cảm vô cùng sâu sắc. Đối với họ, cũng như với tất cả những người bạn quốc tế đã từng có cơ hội gặp gỡ và tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Hồ vừa là người đồng chí dũng cảm, kiên cường vừa là người bạn thủy chung, nhân ái.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}