Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Chùm thơ (2)

Thứ Tư, 25/09/2013 06:01 GMT +7

Trẩy hội chùa vàng

Hoàng Lệ Minh
(Hội VHNT Quảng Bình)

Cùng em đi trẩy hội chùa
Quanh co dốc lượn... gió đùa cùng mây
Vô tình... tay nắm bàn tay
Men theo Thác Bạc... một ngày cuối xuân

Vẳng nghe tiếng suối đổ gần
Nghe chim hát giữa thiên đường ngàn mai
Nghe chuông buông nhịp ngân dài
Ta như vào chốn thiên thai... nao lòng

Mái chùa vẽ những đường cong
Lẫn vào bãi trúc, rừng thông ngút ngàn
Vén sương, cưỡi gió làm thang
Ta lên với Chùa Thượng Ngàn trong mây

Sân chùa ai khéo sắp bày
Vui chi tượng Phạp giang tay múa xòe
Nghiêm trang... trầm mặc say mê...
Các vị La Hán ủ ê nét buồn

Phật Bà tọa giữa đài sen
Nỗi lo nhân quả tận miền thế gian
Chuông ngân rừng trúc đổ vàng
Ráng chiều như ánh huyền quang qua chùa

Vẳng xa lời khấn nam mô
Chìm trong tiếng mõ... gió đưa khắp rừng
Chùa Vàng chốn ấy Cửa Thiền
Trai thanh gái lịch trăm miền về đây
Du xuân... niệm Phật giãi bày
Nỗi niềm riêng... chốn trần ai muộn phiền.

Một chút Huế

Từ Nguyễn
(Liên hiệp các Hội VHNT Thừa Thiên – Huế)

Không biết người về có nhớ một chiều xuân?
Đường Phượng bay lá cũng ngập ngừng
Cấm cung nặng niềm chi mưa đổ
Thêm rêu dấu cũ rưng rưng!

Không biết người về có nhớ một dòng sông
Đêm lung linh, thầm thì lời cổ tích
Sóng xô mạn thuyền câu hò lỡ nhịp
Xuyến xao mấy khúc tạ từ

JPEG - 32.3 kb

Một chút Huế có khi là rất nhẹ
Như tơ giăng như gió thoảng hiên ngoài
Dịu dàng thấm trong điệu cười giọng nói
Nét Xuân hiền đậu cánh vàng mai

Một chút Huế có khi là sương khói
Cổ xưa lặn vào đáy mắt nâu
Âm thầm đó mà muôn ngàn tiếng gọi
Ai chờ ai, có ai biết ai đâu!?

Chút mẫn cảm của mùa

Lạ lùng chưa? Tam Đảo cũng nhiều mưa
Đâu chỉ Huế mới hay hờn, anh nhỉ?
Mịt mù giăng che mắt người tri kỷ
Âm thầm dáng núi lặn vào đâu...

Em lơ ngơ tìm ảo ảnh sắc màu
Đâu biết đời thường quá thật 
Phố núi người thưa mà vẫn chật
Hào nhoáng chỉ riêng dành cho những thoáng mưa mau...

Lạ lùng chưa? Tam Đảo cũng biết đau
Cam, quyết thường chua, không dễ tìm quả ngọt
Khách sạn, villa trên cao chót vót
Vườn su, rau trái dưới thung sâu...

Ly cà phê sóng sánh giọt sâu
Em rót vào sương mờ quánh đặc
Từ nơi ngọn cao vời xứ Bắc
Nhớ Huế mình, sông núi dịu dàng thương...

Nhớ phùng quán

Tưởng nhớ nhà văn Phùng Quán

Nguyễn Văn Tám
(Hội VHNT Đà Nẵng)

Những câu thơ đã đẩy ông về đây
Góc khuất Hồ Tây sương mờ lau lách
Mái chòi lá lút sâu trong ngõ cụt
Trồi sụt nhà hàng lều bạt vây quanh

Những buổi chiều sương trắng dăng mành
Gốc phượng già mùa Đông trơ trụi lá
Tiếng chuông đổ phía đền Trần Vũ
Tản Viên mờ xa nâng chén rượu ngang trời*

Tiếng cuốc còn kêu khắc khoải những chiều?
Người ngồi thả xuống hồ những giấc mơ bình dị?
Những con chữ rần rần chạy trong cơ thể
Những câu thơ loang đỏ mặt hồ

Vừa như thoáng gặp ông gánh phân, khuân đất, trát tường
Nhọc nhằn vác cây Thập tự chinh nghiệt oan đè nặng
Những câu thơ đã làm nên ông, mơ hồ giữa hào quang và cay đắng
Cái thời ông sống cơ cực tha phương

Tôi lần về đây thắp cho ông nén hương
Hà Nội nhấp nhô và đám thanh niêm tóc xanh, tóc đỏ
Một góc Hồ Tây dùng dằng có người quên, người nhớ
Một con người cựa quậy sống cựa quậy yêu!

Ý thơ của Phùng Quán

Tùy bút Phong Châu

Bùi Công Minh
(Hội VHNT Đà Nẵng)

I

Đất Tổ ngày lặng trời. Như đang trong mơ
Giật mình nhận ra áng mây trene đầu
là mây trời Nghĩa Lĩnh
Mẫu Thượng ngàn phả về cơn gió ấm
Như sống lại thời hồng hoang
Bước chân ngỡ ngàng trên đất làng Cổ Tích
Xa xa kia dãy Thậm Thình
99 voi chầu hướng về đất Tổ
Chuông chùa xa, vẳng trong hồn quấn quýt
Khói hương bay cuộn trắng đỉnh trời.

Cháu con sáng nay về đây đông đủ cả
Giọng nói tự trăm miền sao nghe vẫn thân quen
Những gương mặt gặp lần đầu ngỡ bà con ruột thịt
Tất cả như chào nhau bằng tiếng thuở Vua Hùng

Những bước chân nghiêm trang đặt lên từng bậc đá
Này đây Đền Hạ
Ngày tổ mẫu Âu Cơ chuyển dạ
Gió mây có vần vũ thế này chăng
Này đây Đền Trung
Hương nếp như còn thơm trong lớp bánh chưng 
Chàng Lang Lieue dâng tổ phụ
Này đây Đền Thượng
Cột đá thề sững sững giữa trời mây.

Những lớp người cuộn như sóng
Người áo nâu sồng 
Người khăn rằn vắt vai
Người áo lính chiến trường sờn bạc
Nối nhau nối nhau nối nhau
Lẫn trong đội hùng binh lạc hầu lạc tướng
Mây ngũ sắc mang dạng rộng hình phượng
Bây chim Lạc rợp sân đền
Người vạn vạn năm xưa với người của hôm nay 
Trao nhau lễ vật
Lâm râm câu chào lẫn vào kinh kệ
Tất cả chung một lời cầu dân an quốc thái
Ánh mắt nhìn nhau ngời gương mặt mẹ Âu Cơ

II

Vắng trong hồn câu hỏi tự ngàn xưa
Cớ sao tổ tiên đến đất này dừng lại
Chọn nơi đế vương muôn đời 
là Nghĩa lĩnh non thiêng
Bên kia ngọn Ba Vì, nơi này Tam Đảo
Đất ngã ba sông hợp lưu giao thổ
Sông Thao đỏ, dòng Lô xanh
Dải lụa mềm bao bọc
Sông lượn núi vờn gió nước vây quanh...

Có gì đâu, vua anh minh tự bao giờ là vậy
Xây cơ nghiệp ngàn đời tụ khí bốn phương
Cho cháu con nối dài thêm mãi
Chọn người nối ngôi không màng dâng sơn hào hải vị
Không gà chín cựa ngựa chín hồng mao
Chỉ khen chàng Lang Liêu tấm bánh chưng 
bánh dầy dân gian
Cả Đất rộng cả Trời cao, đầy đặn vuông tròn.

Có gì đâu, vua anh minh tự bao giờ là vậy
Đi với thần dân sống giữa thảo dân
Định đô nơi rừng thiêng
Đẵn tre già đan phên thưa ngả lưng bên suối nước
Nghe muôn tiếng dân gian khóc cười
Gạo dẻo cho vào ống đốt chín thơm
Thịt săn thú rừng nướng trên lửa ấm
Hòa rượu nồng cạn chén với ba quân
Ngày tốt tháng lành cùng dân đi cày ruộng
Vua anh minh ngàn đời vẫn vậy, có gì đâu.

III

Tổ Quốc hôm nay Tổ Quốc vạn ngày sau
Sẽ chẳng thể Vua Hùng có mặt
Thời thế hưng lại vong, bao vương triều còn mất
Mái đền xưa cũng gió táp mưa sa
Nước chảy đá cũng mòn non Tản
Nhưng những con dân Vua Hùng
Những người từng lên rừng xuống biển
Những gương mặt chữ điền
Những tấm áo nâu sồng, 
những chiến binh sờn vai áo trận
Sẽ mãi còn đây cũng vạn đại thiên niên
Vật sẽ đổi sao sẽ dời
Nhưng khói hương vẫn lồng lộng trời cao Đất Tổ
Giữ mãi hồn Tổ Quốc thiêng liêng
Không kẻ nào chia cắt
Không kẻ nào chia cắt
Không kẻ nào đến đất này chia cắt
Bao thế hệ cháu con
Đi từ đất Tổ
Tụ về cùng đất Tổ
Lời thề xưa giờ hóa đá
Hóa sóng vỗ bờ
Từ nơi này vang vọng đến Hoàng Sa.

IV

Ngày mai ngày mai
Những người áo nâu sồng, khắn rằn vắt vai, 
áo lính bạc sờn lại trở về cùng muôn nẻo quê hương
Người quai búa thợ rèn quê trạng Bùng 
một thời đánh giặc
Người vượt thác những con sông dữ miền Trung
Người về chài lưới bên dòng Cửu Long chín khúc
Dẫu không được tắm nước giếng Ngọc trong lành 
mẹ Âu Cơ từng tắm cho những người con trước ngày theo mẹ lên rừng, theo cha đi về hướng bể
Nhưng vẫn kịp mang theo đây bao áng mây trời
Ánh ngũ sắc trên non thiêng Nghĩa Lĩnh
Mang hơi ấm từ bàn tay Mẫu thượng ngàn mầu nhiệm
Khói hương này cũng từ đất Tổ bay đi
Bát hương tổ đình mấy nghìn năm 
chưa một ngày nguội lạnh
Dẫu trải qua bao thăng trầm từ Triệu Đinh Lê Lý Trần Lê.

Con ở tận miền xa
Tháng Ba mồng Mười này Phong Chaua không về được
Rời đất Tổ sáng nay giữa đại ngàn xanh biếc
Mỗi bước chân đi quay đầu bái biệt
Theo dáng núi tượng hình xưa chín mươi chín vòi chầu.

Tags : hội chùa
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}