Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Chuyện gia đình

Việt Nga | Thứ Tư, 20/11/2013 13:48 GMT +7
Tôi đang chuẩn bị hành lý để cả nhà đi nghỉ mát Sầm Sơn một tuần thì nhận được điện thoại từ quê. Bác Cả Long báo tin cha tôi mệt nặng, phải về gấp.

Thế là hai vợ chồng cuống quýt, cuộc nghỉ mát biến thành chuyến về quê bất thường. Cu Quân ỉu xìu như bánh đa nhúng nước. Suốt nửa tháng nay cu cậu hí hửng về chuyện được đi biển dài ngày, đến nỗi cứ tối đến là gọi điện khoe lung tung với bạn bè, lại còn cao hứng hứa sẽ mua quà cho đứa này, đứa kia. Nhìn bố mẹ lôi hết áo tắm, thịt hộp, nước ngọt ra khỏi ba lô, nó bịu xịu hỏi như sắp khóc:

- Phải về quê thật hả mẹ?

Tôi cáu:

Chồng tôi nhìn tôi như trách móc rồi ôm con, nhẹ nhàng:

- Đi biển sau con ạ. Nhà ta về thăm ông. Chắc là ông mong bố con mình lắm...

Ngồi thừ một lát như ông cụ non, cu Quân lặng lẽ chui vào màn đi ngủ. Tôi băn khoăn, lo lắng bới tung đống đồ đạc mà chẳng hiểu mình muốn lấy thứ gì.

Đây không phải là lần đầu tiên bố tôi ốm. Thế nhưng bác Cả Long đã phải chủ động gọi điện lên thì chắc mọi việc đang có chiều hướng xấu. Từ ngày mẹ tôi mất, bố tôi sống có một mình. Trong năm chị em tôi, chỉ có một mình chị May ở lại quê, chăm chỉ với nghề làm ruộng. Còn lại, đứa nào cũng cố đi thật xa.

Có lẽ sự vất vả, đói nghèo của cuộc sống quê nhà đã khiến chúng tôi buộc phải biến ước mơ thoát ly thành sự thật. May mắn sao, cả bốn chị em đều thành đạt. Khá nhất là chị Hải, giờ đã đường hoàng là một phó tiến sỹ, viện phó một viện nghiên cứu. Chậm chạp như cái Hoa út ít cũng là một cô giáo cấp ba.

Tôi yên tâm với chức danh kế toán trưởng của công ty, còn chị Hồng cùng chồng mở một công ty trách nhiệm hữu hạn tận Sài Gòn, làm ăn đang phất lên như diều gặp gió. Con cái đứa nào cũng có điều kiện, nhưng mời thế nào thì mời, bố tôi vẫn khăng khăng ở lại quê, nhất định không đi theo ai. Thuyết phục bố tôi không được, cả mấy chị em đồng thanh quay sang chị May nhờ chị chăm sóc bố trong những năm tháng cuối đời. Chị May gật, nhưng vẫn ở cái chòi nhỏ giáp đồng chứ không chuyển vào trong làng với bố. Tôi nghĩ chị còn mang nhiều mặc cảm từ khi thằng Nhẫn ra đời không có cha. Thế nhưng chị Hồng thì bực bội gào toáng lên lúc chị May không có đấy: “Tao đi guốc trong bụng bà ấy rồi. Khác máu tanh lòng mà. Có phải bố đẻ mình đâu mà phục vụ tận tuỵ hôm sớm...”. Chị Hải và cái Hoa im lặng. Chắc ai cũng nghĩ như chị Hồng, có điều chẳng ai nói toẹt ra thế. Mãi về sau, chị Hồng mới bảo: “Chuyện bà May không vào trong làng ở với bố, thế lại hoá hay. Bà ấy mà ở đấy, khi nào bố mất, khéo bà ấy nghiễm nhiên thừa hưởng cả cơ ngơi”. Tôi không nghĩ như chị Hồng nhưng cứ thấy lạ lùng khi chị May từ chối rất quyết liệt chuyện chuyển vào làng với bố. Từ nhỏ, chị đã được dân làng khen là nết na, hiếu thảo...

Trong gia đình năm chị em gái của tôi, chị May là cả, nhưng lại chỉ là con nuôi. Bố mẹ tôi lấy nhau từ thời cả hai vừa qua tuổi mười sáu. Suốt mười năm làm vợ, làm dâu, mẹ tôi vẫn không sinh cho nhà chồng được một mụn con. Mà theo chi trên của họ Phạm Bình, bố tôi là độc đinh. Ông bà nội tôi sốt ruột, rồi sau đó lo cuống quýt. Mẹ tôi khóc thầm từng đêm vì nghe những lời mát mẻ có, xoi mói cay độc có từ tứ phía láng giềng họ mạc. Nào là “cái giống dở đực dở cái, có chồng mà không có con”, nào là “vô phúc” rồi “ăn lắm nên tịt đẻ” (nhà ông bà nội tôi khá giả nhất nhì làng). Bố tôi thở ngắn than dài khi nhìn bạn bè cùng tuổi con bồng con bế bíu ríu đầy nhà. Rồi dần dần ông đâm ra hờ hững với người vợ hiền thục, tảo tần. Cái lý thuyết “phải cưới vợ lẽ để đẻ con” của bà nội tôi cũng đã ngấm vào ông khá nhiều. Chọn mặt làng trên xóm dưới chưa được ai ưng vào làm lẽ nhà bà nội thì có người rủ rỉ khuyên bà đi xem bói. Nghe đâu huyện bên có thầy lập lá số siêu lắm. Thế là bà bỏ ngay buổi chợ, nhất quyết sang nhờ bác Cả Long đèo đi. Thầy bói phán số bố mẹ tôi không phải tuyệt tự nhưng phải xin con nuôi mới mong có người nối dõi. Bà phấn khởi ra về, tạm hoãn kế hoạch cưới vợ lẽ cho bố tôi và bắt đầu ráo riết nhắn nhe, dò hỏi, nhờ tìm một đứa cháu nuôi. Hai tháng sau có người mang chị May tới. Lúc ấy chị mới lên ba, cóc cách và đen đủi. Người ta bảo bố mẹ chị May cũng là dân phiêu bạt giang hồ lấy nhau. Hai người cùng bỏ mạng trong một vụ đắm đò. Về nhà tôi, chị May nhát như cáy, suốt ngày ngồi góc nhà khóc. Hỏi tên, chị không nói, chỉ giương mắt nhìn. Bà nội bảo: “Cứ gọi nó là con May, cho nó lành”. Mới đầu chị May được cả nhà chiều chuộng vì suốt bao nhiêu năm nhà không có tiếng trẻ con. Ông bà nội và bố mẹ tôi cứ hi vọng sự có mặt của chị May sẽ mang lại may mắn cho chi họ Phạm Bình. Chẳng biết có phải do lời thầy bói linh nghiệm hay không mà gần một năm sau, mẹ tôi có mang. Chị Hồng ra đời trong sự hân hoan của cả gia đình. Ông nội làm cỗ mừng to lắm. Làng xóm cũng vui lây với mẹ tôi. Thế nhưng đến chị Hải ra đời, niềm vui ấy giảm đi đáng kể. Ông bà nội mong và cần có đứa cháu trai nối dõi. Một năm sau, tôi chào đời trong tiếng thở dài sườn sượt của tất cả mọi người. Ngay đến bà đỡ cũng chán nản, buông một tiếng gọn lỏn: “Vịt”. Tôi còn nhớ như in ngày em Hoa ra đời (sau tôi đúng năm năm vì bà nội bảo mẹ hãy thư thư, để qua mấy “đốt” con gái may ra kiếm được thằng cu). Hôm ấy ông nội và bố tôi lặng lẽ uống rượu từ chập tối (lúc mẹ sinh xong) cho đến tàn đêm. Tôi không ngủ được, cứ quanh quẩn bên mẹ đòi xem, đòi bế em bé. Cho đến tận giờ tôi vẫn nhớ cảm giác rát bỏng một bên má khi những giọt nước mắt của mẹ rớt xuống. Mẹ đã khóc rất nhiều. Từ đó, mẹ không thể sinh nở thêm một lần nào nữa.

Năm chị em tôi lớn dần. Làng xóm cứ nửa đùa vui nửa ác ý rằng nhà tôi giàu nhất làng vì có máy khâu “năm con bươm bướm”. Bà nội nói xa nói gần vì nỗi có nàng dâu không biết đẻ còn ông nội cứ nhắc đi nhắc lại câu: “Tao bất hiếu với tổ tiên”. Giữa bố mẹ tôi luôn xảy ra lục đục nhưng bao giờ mẹ cũng là người cam chịu. Rồi bố đi lại với một bà goá làng bên. Bà này lại liên tiếp cho ra đời hai cô con gái. Bố tôi như người quẫn, uống rượu và lảm nhảm suốt ngày. Năm đứa con gái út lên hai, mẹ con bà goá dắt nhau vào Tây Nguyên sống với họ hàng xa rồi bặt vô âm tín. Ngôi nhà của gia đình tôi lúc nào cũng phảng phất không khí u buồn. Nghe nói ông bà nội tôi trước khi nhắm mắt đều cố dặn lại bố tôi một điều rằng bằng mọi giá phải có được một thằng con trai nối dõi. Vì thế sau đám tang ông bà, mẹ tôi vẫn còn khóc rất nhiều.

Chị May là con lớn, phải gánh vác nhiều việc, lại không thông minh nên vừa học hết cấp hai đã bỏ. Tôi, chị Hồng, chị Hải và cái Hoa ngoắc tay sẽ học thật tốt để thoát ly, đi khỏi cái làng nhỏ bé, nghèo nàn và phong kiến này. Đứa nào cũng rùng mình khi nghĩ tới tương lai lấy chồng mà không thể sinh được con trai. Ở làng tôi, người ta coi thế là vô phúc, là cái tội lớn của người đàn bà. Suốt những năm học phổ thông, mấy chị em tôi miệt mài hôm sớm bên sách vở, học bằng tất cả quyết tâm, bằng cả những nỗi buồn chất chứa khi nhìn bố lử khử bên chén rượu. Những buổi tối chúng tôi chụm đầu bên chiếc đèn dầu đỏ quạch, chăm chú với từng trang sách thì chị May lại tảo tần sàng gạo với mẹ ngoài sân. Chị thủ thỉ: “Con ở nhà với mẹ thôi. Con không học cao được”.

Tiếng là con nuôi, nhưng mẹ tôi quý chị May không khác gì con đẻ. Mẹ thường bảo chúng tôi: “Nhà này có chị May mới có chúng mày. Đừng có mà xích mích gì”. Cả bốn chị em nghe lời mẹ, hết sức kính trọng chị May. Ngay từ khi vừa mới lớn lên, tôi đã thấy thái độ của bố đối với sáu mẹ con thật lạ, cứ dửng dưng như người thiên hạ không quen biết. Đến lời ăn tiếng nói trong nhà cũng dè sẻn. Chỉ mãi sau này khi bốn chị em tôi học hành thành đạt, bố mới khác đi.

Chị May lớn lên, không xinh đẹp, cũng không hay làm dáng nên trai làng chẳng ai ngấp nghé. Chỉ một lần có người đánh tiếng, hỏi chị cho con ông Hối bên sông, nhưng mẹ tôi không đồng ý. Mẹ bảo: “Nhà ấy thất đức, con cái đánh chửi nhau, đánh chửi cả bố mẹ. Cho con May sang đó làm dâu quá bằng giết con”. Xóm giềng ai cũng khen mẹ tôi tốt tính, yêu thương con nuôi như con ruột. Chỉ bố tôi là không nói gì, coi như không phải việc của ông. Đến khi mấy chị em tôi lần lượt đi khỏi luỹ tre làng, chị May coi như đã quá lứa thật sự. Chị ngoan nết, chăm chỉ, ai cũng quý. Thế mà đùng một cái, chị nhảy xuống giếng Chùa toan tự vẫn, may có người cứu. Mẹ tôi cà cuống gọi tất cả lũ con về. Chị May chỉ khóc. Mẹ cũng khóc, bảo: “Mẹ có đối xử tàn ác với con đâu”.

Chị May quỳ xuống, lạy mẹ như tế sao: “Con bất hiếu. Mẹ tha tội cho con”. Chị Hồng nóng nảy gào lên: “Thế thì chị đừng đổ tiếng ác cho bố mẹ, cho cái nhà này nữa”. Bố không can dự vào cuộc họp gia đình bất thường ấy, như từ trước tới nay ông không can dự vào bất cứ chuyện gì của gia đình, nhưng không hiểu sao suốt đêm hôm ấy rượu say mèm rồi cứ vật vã khóc hu hu. Mấy mẹ con lại được một phen xanh mắt. Tôi lựa lời hỏi han, khuyên nhủ chị May, nhưng chị nhất định không nói lời nào về nguyên nhân vụ tự tử hụt của mình, chỉ sụt sùi khóc. Đến lúc chúng tôi đi, chị vẫn nước mắt ngắn, nước mắt dài, nhưng hứa: “Từ giờ không dại dột thế nữa”. Ngồi trên ô tô, chị Hồng thì thào vào vai tôi: “Tao đoán bà ấy bị điên điên. Gái già không chồng là hay thế lắm.

Chỉ tội cho bố mẹ mình”. Cả bốn chị em, ai cũng áy náy không yên. Vậy mà chỉ vào tháng sau, bốn đứa lại cùng hớt hải nhào về quê sau khi nghe cái tin tưởng như không nào tin được: Chị May chửa hoang. Lần này không phải họp gia đình mà là họp họ. Chị May cứ quỳ rũ rượi, nước mắt đầm đầm nhưng nhất quyết không hé răng trước bao lời lục vấn, khảo tra. Cuộc họp kéo dài lằng nhằng mãi, chẳng đi đến kết luận gì. Khi bác Vấn đề ra ý kiến đuổi chị May đi, vì chị không phải con đẻ của dòng họ này mà lại làm ô danh dòng họ thì mẹ tôi lại là người sụt sùi xin mọi người nghĩ lại. Mẹ già đi nhiều sau sự kiện ấy và chắc là bà cũng khóc rất nhiều. Bố tôi cũng vậy. Nhưng ông vẫn chẳng nói gì. Chị May lạy mẹ rồi xin ra ở riêng ở rẻo đất đầu làng. Chị sinh con trai, cho nó mang một cái họ lạ hoắc, không có trong làng. Mẹ tôi mắng, bắt chị khai sinh lại cho con theo họ của chị (nghĩa là họ Phạm Bình của chúng tôi), chị nhất quyết chẳng nghe lời. Xóm giềng tò mò, cứ hau háu chờ xem thằng Nhẫn con chị lớn lên sẽ giống ai trong làng ấy, nhưng xem ra càng lớn, thằng bé càng giống chị May, từ nước da đen cho đến cái trán gồ lên. Mẹ tôi còn bảo nó có nét phảng phất giống các dì. Chị Hồng cứ giãy lên như đỉa phảo vôi: “Nó có máu mủ ruột già gì với nhà mình đâu mà giống”. Mẹ trách: “Đừng bạc miệng con ạ”. Ngày mẹ mất, chị May khóc thật nhiều, thảm thiết hơn cả bốn đứa chúng tôi. Có người bảo chị khéo khóc, nhưng sau đám tang mẹ, chị May xơ xác, dật dờ như cái bóng. Chị thường ra mộ mẹ, khóc rất lâu...

Khi hai vợ chồng tôi về đến nhà thì chị Hải và cái Hoa đã có mặt. Chị Hồng còn bận nhập khẩu chuyến hàng, có lẽ mai mới bay ra. Đúng như tôi lo lắng, bố ốm rất nặng. Bác Cả Long thì thào: “Có lẽ ông cụ khó qua lắm”. Chị May gằm mặt ngồi ở bàn uống nước, nước mắt cứ rơi lã chã. Có lẽ chị hay khóc nhất nhà. Cái Hoa hốt hoảng cứ đòi đưa bố đi bệnh viện, nhưng bố tôi lắc đầu từ chối. Ông không có bệnh gì rõ rệt, cứ ngày một kiệt sức. Những lần trước đi viện, các bác sỹ cũng chẳng tim ra được căn bệnh gì cụ thể. Có lẽ là do già. Bố tôi tròn bảy mươi, cái tuổi “tri thiên mệnh”, tuổi “cổ lai hy”. Suốt từ khi lớn lên, chị em tôi chưa khi nào được gần gũi bố, được bố ân cần săn sóc hỏi han. Đứa nào cũng mang một niềm sầu tủi rằng mình bị bố hắt hủi chỉ vì trót sinh ra là con gái. Thế nhưng lúc này đây, sợi dây máu mủ thiêng liêng khiến cả lũ hốt hoảng, hoang mang trước bệnh tình của bố. Ông gầy võ vàng, giọng nói rất nhỏ nhưng còn rành rọt. Quà bánh của con cái, họ hàng chất đầy nhưng ông không nuốt được thứ gì. Cứ một lát bố tôi lại hỏi chị Hồng. Các bà bác, bà thím dâu thì thào rằng đó là điềm gở, rằng ông gở chết từ tuần trước, khi cứ khăng khăng lôi thằng Nhẫn con chị May vào ở với mình, cứ tha thẩn đi khắp làng một mình và thỉnh thoảng lại khóc hu hu như trẻ con phải đòn oan. Trước sự mong ngóng đến khắc khoải của bố, tôi sốt ruột nửa muốn chị Hồng về ngay, nửa muốn còn lâu chị mới về. Tôi sợ khi chị Hồng về, bố tôi sẽ thanh thản từ giã cõi đời này trước đông đủ các con. Tôi sợ cả ánh mắt đợi chờ tha thiết của bố cứ hướng mãi ra phía cửa.

Hôm sau chị Hồng về. Không hiểu sao bố nhận ra tiếng bước chân rất gấp của chị từ ngoài cổng để mà run run nói: “Hồng về à con ?”. Chị Hồng quăng túi xách, sà xuống giường bố khóc ồn ào. Bố xua tay yếu ớt. Một lúc sau chị ngừng. Bố bảo gọi cả chị May và cháu Nhẫn lại bên giường. Tất cả kinh ngạc khi thấy chị May quỳ từ ngoài cửa lết vào, rũ rượi, ánh mắt thất thần. Thằng Nhẫn đứng bên chị Hồng, mắt trong veo, lộ rõ nét sợ hãi. Nó mới mười lăm tuổi. Bố tôi dùng hết sức tàn giơ tay nắm lấy bàn tay thằng Nhẫn. Tất cả đều đọc được trong mắt ông sự đau đớn. Tất cả đều khóc. Tôi có cảm giác bố sắp ra đi. Sắp ra đi vĩnh viễn trong lúc bố còn chưa muốn. Cổ họng tôi nghẹn lại. Ngực nặng và tức như có khối đá khổng lồ đè xuống. Tiếng khóc không thể bật ra mà cứ xoáy trở vào. Bố không nhìn chúng tôi, bố chỉ nhìn Chị May và thằng Nhẫn. Rồi ông thều thào: “Khai... sinh... lại... cho... thằng... Nhẫn... Nó là...

con... của... họ... Phạm Bình... Nhớ...”. Có lẽ ông còn định nói gì nữa nhưng không kịp. Chị May lả xuống chân giường còn chị Hồng bất ngờ hét to “Á”. Mấy đứa chúng tôi chết lặng người. Thằng Nhẫn vẫn chẳng hiểu gì, nó khóc oà lay tay cái Hoa: “Ông chết rồi dì ơi”.

Bố mất. Chúng tôi đau đớn vì cái tang lớn ấy một thì đau đớn trước việc bố trăng trối mười lần. Chị May quỳ trước mặt cả nhà, thổn thức: “Các em cứ giết chị đi. Chị khốn nạn quá phải không. Cứ giết chị đi...”. Mặt chị Hồng dại đi, chị cắn môi đến bật máu để khỏi thốt ra lời nào. Ai cũng bàng hoàng trước sự thực vừa được tiết lộ. Thằng Nhẫn là con chị May, là con bố. Thằng Nhẫn là em chứ không phải cháu chúng tôi... Suốt mười lăm năm, chúng tôi không hay biết gì, cả làng cũng không hay biết gì. Suốt mười lăm năm... Bác Cả Long lập bập đỡ chị May: “Họ Phạm Bình còn người nối dõi... Vẫn còn phúc”. Chị Hồng hét lên man dại: “Còn phúc à ? Đấy là cái hoạ”. Chị em tôi đau đớn nhìn nhau. Những ông con rể của bố bối rối nhìn nhau. Chẳng ai biết mình sẽ phải làm gì. Cả làng, cả xã đã ồn lên...

Bốn chị em chúng tôi ra đi sau khi cúng tuần đầu cho bố. Bác Cả Long thu xếp mọi việc, tự tay khai sinh lại cho thằng Nhẫn. Bác nói nhiều, rất nhiều về sự nín nhịn, nhẫn nhục hy sinh của chị May, về lẽ phải trái ở đời và về tôn ti, trật tự trong dòng họ... Chúng tôi ra đi nhưng lòng đứa nào cũng còn nặng trĩu dù rằng đã bớt giận, bớt hận chị May. Chị tiễn cả bốn đứa trong câm lặng. Mãi đến đầu làng, chị Hồng mới quay lại ôm chầm chị May, nghẹn ngào: “Cái số kiếp đàn bà của chúng mình sao khổ thế ?”... Bốn anh em rể nhìn nhau đầy ý nghĩa. Lát sau, chị May quay về. Tôi đi, nhưng cứ ngoái lại nhìn luỹ tre làng đang xa dần, mờ dần và tự hỏi: “Không biết sau luỹ tre kia, còn câu chuyện oái oăm cay đắng dở khóc, dở cười nào tương tự nữa không ?”./.

Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam

Tags :
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}