Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Chuyện về nhà giáo từng là phóng viên quay những cảnh cuối cùng của lính Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Thiên Vương | Thứ Năm, 03/10/2013 01:40 GMT +7
PGS- TS Trần Duy Hinh, sinh năm 1946, từng là trưởng khoa sau Đại học trường Đại học Sân khấu Điện ảnh. Ông là người gặt hái được khá nhiều thành công trong lĩnh vực điện ảnh với tư cách là một người thầy, một người quay phim. Tuy ông đã về hưu, nhưng ông vẫn đi dạy học như là một niềm đam mê nghề nghiệp; lòng tận tụy ấy, không dễ mấy người có được.

 

JPEG - 22.4 kb

Ông từng làm rất nhiều nghề để sống, nhờ có chút hoa tay về hội họa, ông đã đi làm triển lãm, mang máy ảnh đi chụp và vào học khóa III ở trường Điện ảnh. Đến năm 1967, sau ba năm học, ông tốt nghiệp loại ưu và được xưởng phim quân đội nhân dân Việt Nam mời về làm việc. Lúc bấy giờ cuộc chiến tranh diễn ra ngày càng ác liệt, ông được cử vào chiến trường B Trị Thiên làm phóng viên phục vụ cho cuộc kháng chiến. Vừa vào đến chiến trường B, ông đã tham gia quay phim ngay trận đánh làng Vây ở Trị Thiên. Vốn không quen với thủy thổ và thường xuyên phải nằm rừng lội suối nên cuối năm 1967, ông bị sốt rét và phải ra Bắc để điều trị mấy tháng trời mới khỏi. Khi khỏi bệnh ông đã đi rất nhiều nơi ở miền Bắc để quay phim và sau đó trước yêu cầu cần phóng viên quay phim cho chiến trường, ông lại được đưa vào chiến trường B. Ông quay phim ở chiến trường quyết liệt nhất lúc bấy giờ như ở đường 9 Khe Sanh, tham gia chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972, đồng thời quay trở ra miền Bắc tham gia quay phim chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 tại thủ đô Hà Nội.

Kết thúc chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, ông được lệnh tham gia phái đoàn Liên hiệp quân sự bốn bên, thi hành hiệp định Paris đóng quân ở trại David Tân Sơn Nhất Sài Gòn. Nhiệm vụ chính của ông là tham gia quay phim về quân Mỹ và chư hầu rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Ngày 29- 03- 1973, khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam (mặc dù rút hết quân nhưng Mỹ vẫn để lại rất nhiều cố vấn quân sự) thì chính ông là người quay lại những thước phim quan trọng đó. Những bức ảnh, tư liệu, những thước phim đó về sau trở thành những hình ảnh tư liệu rất quan trọng của điện ảnh Việt Nam. Ông đã quay được rất nhiều phim tư liệu quý như quay cảnh trao trả tù binh giữa ta và địch, quay từ sân bay Lộc Ninh, sân bay Thiện Ngôn, sau đó đến sông Thạch Hãn. Vừa quay phim, vừa viết nhật ký, ký sự về trại David Sài Gòn mùa xuân 1973 (về sau in thành sách do nhà xuất bản Lao động in năm 2006).

Năm 1973, khi quân Mỹ rút khỏi Việt Nam, ông đã trở ra miền Bắc, đi khắp miền Bắc để quay phim về quân đội. Năm 1974, ông lại vào chiến trường B3, vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, lên Tây Nguyên quay lại những trận đánh diễn ra ở Nông Sơn, Trung Phước, sau đó đến Quế Sơn, Thượng Đức, đến Đắc Pét.

Cuộc kháng chiến vĩ đại kết thúc năm 1975, ông vào học ở trường ngoại ngữ 1 năm. Năm 1976, tốt nghiệp loại ưu, ông dẫn đầu đoàn lưu học sinh sang Liên Xô học. Từ năm 1976 đến năm 1982, ông học ở trường VGIL (trường Điện ảnh quốc gia Liên Xô), ông học rất giỏi, tốt nghiệp loại ưu, đứng thứ 2 của trường, vừa học vừa quay phim, đoạt được 3 giải thưởng, được giữ lại để học tiến sĩ. Trong thời gian học ở Nga, ông có làm mấy bộ phim nổi tiếng và đạt được giải cao như phim: Lịch sử không lặp lại, tiếng đàn Đặng Thái Sơn. Sau này mang về Việt Nam là sản phẩm của phim quân đội, 2 bộ phim này đến bây giờ vẫn còn nổi tiếng. Còn lúc đó báo chí nước ngoài ca ngợi, viết về 2 bộ phim này cũng rất nhiều.

Trở về Việt Nam với học vị Phó tiến sĩ được đào tạo ở Liên Xô, ông trở thành một trong những nhà quay phim hàng đầu Việt Nam lúc bấy giờ. Ông ra Trường Sa đi với Bộ tư lệnh Hải quân kiểm tra tất cả các đảo, đi hết cả quần đảo Trường Sa, vừa quay phim vừa đạo diễn và khi trở về ông làm được 4 bộ phim nhựa mang tựa đề: "Huyện Trường Sa", "Ra Trường Sa", "Nơi ấy Trường Sa" và "Màu xanh Trường Sa", trong đó có hai bộ phim đạt được khá nhiều giải thưởng trong các cuộc liên hoan phim toàn quốc.

Trở về xưởng phim quân đội nhân dân Việt Nam tại 17 Lý Nam Đế, ông bắt đầu làm đạo diễn nhiều loại phim như: "Bộ đội cụ Hồ", "Mùa xuân toàn thắng", làm phim "Sống dậy một vùng biên giới", "Luật biển quốc tế và chủ quyền biển Việt Nam".

Đến năm 1988, lúc bấy giờ có một yêu cầu cấp bách của trường Đại học Sân khấu Điện ảnh cần phải có một người đứng đầu ngành để mở một khoa sau Đại học, và ông được trường Đại học Sân khấu Điện ảnh làm công văn đề nghị Tổng cục Chính trị điều ông về làm Chủ nhiệm khoa sau Đại học.

Năm 2006, ông được phong hàm Phó giáo sư, về hưu, nhưng ông vẫn tiếp tục phụ trách khoa sau Đại học ở trường Sân khấu Điện ảnh. Ngoài làm chủ nhiệm khoa sau Đại học, ông còn đi dạy cao học ở trường Đại học Văn hóa Hà Nội, dạy Nghệ thuật học cho sinh viên khoa Quản lý văn hóa, khoa Viết văn ở trường Đại học Văn hóa...

Tôi được biết mối tình vô cùng đặc biệt của Phó giáo sư Trần Duy Hinh trong một lần đến thăm thầy tại nhà riêng ở phố Thái Hà (Hà Nội). Chuyện ở đời đúng là “phúc bất trùng lai họa vô chí”, chính trong những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất, đối với người lính ra chiến trường tham gia những trận chiến ác liệt nhất mà không hề hấn gì thì đó cũng là một điều vô cùng may mắn. Vốn là một người tài hoa lại rất đẹp trai nên thời trẻ lúc còn học ở trường Điện ảnh, Trần Duy Hinh cũng có khá nhiều mối tình với rất nhiều người đẹp, ông luôn luôn được các người đẹp vây xung quanh. Trong số đó có một cô rất xinh, khi cô nàng đi sơ tán về Hải Dương, có nhiều hôm từ Hà Nội, Trần Duy Hinh đạp xe đạp Thống Nhất từ Hà Nội về Hải Dương thăm bạn gái. Nhìn thấy mặt nhau được một lúc, thì đêm cũng đã khuya, thế là lại lọc cọc đạp xe từ Hải Dương về Hà Nội. Một cô ở phố Hàng Trống, làm ở bộ Công nghiệp và một cô học cùng trường, tất cả đều rất xinh, chuyện tình yêu tất cả đều là do duyên số không đến được với nhau cũng là chuyện thường tình ở đời. Nhưng có một mối tình, nó đã khiến cho Trần Duy Hinh cảm động nhất và cho rằng đó chính là cái may mắn nhất của đời ông, đó là một cô gái kế toán ở cửa hàng bách hóa. Ngày Trần Duy Hinh vào bộ đội, được tăng cường đi B năm 1967, chính cô gái và bà mẹ của cô đã đi tiễn Trần Duy Hinh ra chiến trường. Vào chiến trường đến cuối năm 1967, Trần Duy Hinh phải trở ra Bắc để điều trị bệnh sốt rét ở bệnh viện 354, nhiều cô gái trước đây vây quanh Trần Duy Hinh, đến nay nhìn thấy thân hình tàn tạ của ông đều bỏ đi không một lời giã biệt. Ông phải nằm điều trị gần nửa năm trời ở bệnh viện 354, nhiều lúc tưởng như không qua khỏi lưỡi hái tử thần, nhưng chính trong cái rủi lại có cái may, người con gái làm kế toán ở cửa hàng bách hóa đã ngày đêm chăm sóc ông, cuối cùng ông đã hoàn toàn khỏe mạnh. Nói về mối tình cảm động của mình, ông cho rằng, người phụ nữ Việt Nam có cái đức hi sinh lớn lắm và cao quý lắm. Nhiều người đàn ông ra trận khi trở về dù bị thương, tàn tật, đui mù, nhưng vẫn được người yêu, người vợ ở hậu phương hết lòng chăm lo, yêu quý. Cái đó chính là một niềm tin sắt đá cho những người lính ra chiến trường. Và chính mối tình, cùng với sự chân thành của cô kế toán làm ở cửa hàng bách hóa đã hoàn toàn chinh phục Trần Duy Hinh. Kết quả của mối tình ấy là cuối năm 1969 họ đã chính thức trở thành vợ chồng và sống hạnh phúc cho đến nay.

Đúng là gái có công thì chồng không phụ. Đời người lính nay đây mai đó, ông phải đi phục vụ quay phim ở chiến trường, vợ sinh con, nuôi con một mình, sống ở phố Huế (Hà Nội) suốt những năm ông đi đi về về vào Nam ra Bắc quay phim, sau đó lại đi học ở Liên Xô, nhưng chính tình cảm của hai người dành cho nhau là rất lớn, nên ở đâu ông cũng cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

Trong các câu nói của các danh ngôn, của các triết gia, các học giả thì câu nói của Lê Nin “Học, học nữa, học mãi” là câu nói mà Trần Duy Hinh tâm đắc nhất, ông đã quyết tâm học, học nữa, học mãi. Bởi vì ông cho rằng, tri thức văn hóa của nhân loại là vô cùng rộng lớn, đối với ông kiến thức rất nhiều rồi, nhưng vẫn phải tự nạp kiến thức mà ở trong mình chưa được rõ, để nạp vào, để khi lên lớp không bao giờ bị hụt hơi, và khi lên lớp giảng dạy cho học viên không bao giờ bị thừa giờ. Đồng thời phải luôn luôn cập nhật kiến thức về ngành nghề, do đó tranh thủ cả ngày đêm để tự học, tối thì xem thời sự trên VTV1 và HN1, buổi sáng thì 5h kém 15 dậy đi tập thể dục, đeo thêm cái đài Catset con con để nghe tin tức buổi sáng của đài Tiếng nói Việt Nam. Chính vì vậy nên không bao giờ Trần Duy Hinh sợ bị lạc hậu, kiến thức không hề bị cũ, dạy từ đại học đến thạc sĩ ông đều hoàn thành sứ mệnh của một nhà giáo.

PGS Trần Duy Hinh còn đưa ra khẩu hiệu vừa đi dạy, vừa học. Học ở tất cả các phim đoạt giải thưởng quốc tế, học ở sách báo, internet, học ngay ở các ý kiến hay ở các học trò. Như vậy thì một người thầy mới có được kiến thức uyên thâm để giảng dạy, mới hoàn thành được sứ mệnh của người giảng viên. Và đặc biệt là người thầy giáo phải có tấm lòng, đưa kiến thức ra không hề bị lỗi thời, đó chính là cái “tâm” của một nhà giáo. Với những đóng góp của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực dạy học, PGS- TS Trần Duy Hinh đã vinh dự được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú.

Từ thực tế đi đến lý luận, nên các cuốn sách của Trần Duy Hinh viết ra đều rất thực tiễn và hữu ích như:

Văn hóa dân gian và nghệ thuật tạo hình ảnh, Nxb Văn hóa 2001.
Góp phần nâng cao chất lượng phim khoa học Việt Nam, Nxb Sân khấu 2003.
Điện ảnh và truyền hình hiện nay, Nxb Văn hóa thông tin 2006.
Trại David Sài Gòn mùa xuân năm 1973, Nxb Lao động 2006.
Giáo trình lịch sử điện ảnh thế giới, Nxb Văn hóa Thông tin 2006.
Nghệ thuật học, Nxb GTVT 2010.
Sắp xuất bản: Giáo trình ngôn ngữ điện ảnh, những khuynh hướng sáng tác trong lịch sử điện ảnh.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}