Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Dân tộc:

 

Có một không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên rộng hơn thế

NSƯT Vũ Lân | Thứ Ba, 08/10/2013 08:22 GMT +7
Không gian văn hoá Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể nhân loại”. Khái niệm cồng chiêng ở đây được hiểu là một loại nhạc cụ chế tác bằng đồng, có mặt chiêng hình tròn, có núm hoặc không có núm và có thành chiêng bao quanh.

 

JPEG - 78 kb

Mỗi tộc người thiểu số ở Tây Nguyên có cách gọi riêng về những bộ chiêng, loại chiêng của mình. Người Bana gọi là Ching - Chêng, người êđê gọi là Cấing, người M’Nông gọi là Goong - Chưng... Theo cách gọi phổ cập của Việt Nam, loại nhạc cụ này nếu có núm gọi là Cồng, không có núm gọi là Chiêng.

Trong sáu trang tóm tắt và bốn mươi trang hồ sơ mà Viện văn hoá - Thông tin soạn thảo trình UNESCO cũng chủ yếu nói về cồng chiêng được chế tác bằng đồng. Nhận xét đó là đúng nhưng chưa đủ. Bởi ở Tây Nguyên có khá nhiều tộc người quan niệm Cồng - Chiêng còn rộng hơn thế. Hàng loạt nhạc cụ được chế tác từ tre, nứa, gỗ, đá và các vật liệu khác cũng được gọi là Chiêng với tên gọi riêng theo từng tộc người là Cấing, Chưng, Goong...

Các nhạc cụ này bên cạnh việc sử dụng để truyền dạy đánh chiêng, học bài bản chiêng... mà còn có môi trường diễn xướng gắn với thế giới tâm linh, lễ nghi phong tục và sinh hoạt văn nghệ dân gian của nhiều tộc người, tạo nên một không gian văn hoá cồng chiêng rộng hơn.

Chúng ta cùng điểm qua một số nhạc cụ thuộc phạm trù khái niệm Cồng - Chiêng trong các tộc người Tây Nguyên ở Dak Lak.

* Ở tộc người ÊĐê:

- Phổ cập nhất là Cấing Kram (chiêng tre). Đây là bộ chiêng được chế tác từ tre, nứa. Các thanh tre được đẽo gọt theo nguyên tắc ngắn - dài, dày - mỏng tạo nên các âm thanh đúng như hàng âm của bộ Cấing K’nah. Các thanh đàn này lại được cộng hưởng với một cột hơi có âm thanh tương ứng được chế tác bằng các ống tre hoặc ống nứa ngắn, dài khác nhau kê bên dưới thanh đàn. Bộ chiêng tre thường có từ 6 đến 8 thanh đàn. Các thanh đàn ấy mang tên giống như tên gọi của các chiêng trong bộ chiêng đồng. Đó là: (với bộ chiêng 8 thanh) Cấhar, M’Duh, K’nah Di, H’Liang, Khơk, H’Luê Khơk, H’Luê H’Liang, H’Luê Khơk Điêt.

Dùi gõ Cấing Kram thường làm bằng tre hoặc gỗ mềm, có thể bọc vải, bọc cao su hoặc không bọc. âm thanh gõ bằng dùi có bọc tiếng ấm, mềm dịu. Gõ bằng dùi không bọc tiếng vang to, lảnh lót.

Cấing Kram là nhạc cụ quan trọng trong việc truyền dạy, tập luyện trước khi được sử dụng chiêng đồng. Không những thế, trong một vài lễ nghi cúng lúa, mở đất, phát rẫy, người êđê xưa kia cũng sử dụng chiêng tre bên cạnh việc sử dụng chiêng đồng. Môi trường diễn xướng của chiêng tre khá rộng bởi nó không chịu sự ràng buộc của các kiêng nữ nào. Tuy vậy, chiêng tre được sử dụng nhiều nhất là trên rẫy suốt trong mùa làm lúa.

- Một bộ chiêng khác của đồng bào êđê cũng được sử dụng nhiều là Cấing Kok (chiêng Kok). Tên của bộ chiêng này được gọi theo sự mô phỏng âm thanh “kok, kok” của nó. Đó là lối đặt tên khá cổ sơ, kiểu như từ âm thanh “tu-oa” mà thành tên tù và vậy.

Cấing Kok có hai loại, loại chế tác bằng gỗ và loại chế tác bằng tre nứa. Loại chiêng kok bằng gỗ thường chế tác từ cây gỗ nhẹ, xốp tương tự như cây lồng mức, được đẽo gọt ngắn dài khác nhau để tạo ra các âm khác nhau. Loại bằng tre nứa thì cách đẽo gọt tương tự cách gọt ống đàn T’rưng nhưng ống đàn to hơn, dày hơn.

Bộ chiêng kok thường có từ 5 âm đến 7 âm và có tên gọi từng thanh như gọi các chiêng trong bộ chiêng đồng Cấing K’nah.

Chiêng kok bằng gỗ thường được treo lên thành hàng do 1 hoặc 2 người diễn tấu, bài bản tiêu biểu là Tôk kra tôk (đuổi khỉ).

Chiêng kok bằng tre nứa mỗi người đánh một ống như lối đánh chiêng nhưng vừa đi vừa đánh và nhún nhảy theo điệu nhạc. Bài bản tiêu biểu của loại chiêng kok này là juă mdiê (đạp lúa), tit til (tiếng chim).

- Còn có một loại chiêng nứa của đồng bào êđê gắn với thiên nhiên của cao nguyên. Đó là Cấing Angin (chiêng gió), chiêng gió thường gồm 5 đến 7 ống nứa ngắn dài khác nhau, được chỉnh âm rồi treo lên cho gió khua rổn rảng. Với quan niệm “gió gọi mưa về”, ngày xưa người êđê thường treo chiêng gió vào cuối mùa khô, mong mưa về sớm để bà con trỉa lúa, trỉa bắp, cầu mong được mùa.

* Ở tộc ngườI M’Nông:

Tộc người M’Nông sử dụng khá nhiều loại cồng - chiêng không phải chế tác bằng đồng

- Phổ cập nhất là Cấưng Đưng (chiêng ống) chiêng ống có 2 loại.

• Loại thứ nhất: ống nứa “gọt bụng”. Đây là cách gọt nhạc cụ tương
tự như cách gọt đàn T’rưng của người Giẻ Triêng, Xê Đăng và Bana ở Kon Tum. Đó là từ một ống nứa lớn, dài, một đầu có mắt bịt kín, ở giữa được khoét một lỗ hình chữ nhật tạo ra hai cột hơi. Một cột hơi kín (ở đầu có mắt bịt) và một cột hơi hở (ở đầu rỗng). Chỉnh độ dày, mỏng của 2 thành lỗ thủng giữa ống, ta tạo được sự tương ứng giữa âm tự thân vang của ống nứa với cột hơi làm cho ống đàn vang lên.

Bộ chiêng ống Cấưng Đưng gồm 6 ống, có âm thanh của hàng âm và tên gọi đúng như các chiêng trong bộ chiêng Cấưng Bor: Me, R’nul, N’dơt, Loa, Thơ, Thêt.

Diễn tấu chiêng ống như đánh chiêng đồng, tức là đứng đánh mỗi người một ống. Bài bản chiêng ống cũng chủ yếu là bài bản của chiêng đồng như: Cấưng ngăn (chiêng thường) Pêt tôr Jun (tiếng nai kêu) Bang bah (đua tài)...

• Loại thứ hai: ống nứa “gọt lá”

Cách gọt này tương tự như gọt đàn T’rưng của người J’rai.

Từ một ống nứa một đầu có mắt bịt, ở độ dài thích hợp gọt đi một nửa ống nứa, tạo ra một cột hơi và một “lá” nứa. âm tự thân vang của thanh đàn cộng hưởng với cột hơi ở ống bịt tạo cho âm thanh vang lên theo hàng âm của bộ chiêng.

Loại Cấưng Đưng này cũng có 6 ống nhưng cách diễn tấu khá lạ. 6 ống đàn do 3 người chơi, mỗi người 2 ống cầm ở 2 tay và gõ ống đàn xuống một thanh gỗ tròn kê trên đất làm dụng cụ kích âm.

Điều đặc biệt là bộ chiêng ống này chỉ được sử dụng trong đám tang, nhất là đám của người chết vì tai nạn “bất đắc kỳ tử”. Riêng trong đám tang của người nghi là do bị ma lai làm hại (theo quan niệm mê tín dị đoan) thì chiêng thứ 2 và thứ 5 phải đổi cho nhau.

Theo quan niệm xa xưa, người M’nông cho rằng đám tang “bất đắc kỳ tử” đánh chiêng ống nứa Cấưng Đưng thì các ma xấu chê nghèo, ngao ngán bỏ đi không làm hại gia đình nữa. Còn tráo 2 thanh đàn là để nói sự xáo trộn, bất thường của đám “chết xấu”, “bất đắc kỳ tử”.

• Cũng trong đám “chết xấu” đặc biệt là nghi bị ma lai làm, người

M’nông còn dùng một bộ chiêng rất thô sơ, đơn giản, đó là Cấưng Cấuôl (chiêng chén, bát). Sáu chiếc tô, bát bằng sành, sứ được chỉnh âm bằng tro bếp trộn nước đắp trong lòng đất tạo ra hàng âm như bộ chiêng đồng. Thường là 2 người đánh Cấưng Cấuôl bằng dùi gõ là đũa tre. Mỗi người cầm 3 dùi, tay trái 1 dùi, tay phải kẹp 2 dùi gõ vào bát. Aõm thanh của Cấưng Cấuôl đục, ngẹn, rất hợp với không khí một đám tang. Bài bản tiêu biểu của bộ chiêng này là “yeờ yeờ cờac sa kon nai” (xua đuổi lũ ma lai).

• ở tộc người M’nông còn có hai bộ cồng chiêng khá độc đáo. Trước
hết là Goong Luờ (cồng đá) năm 1995, tại suối Đăk Kar huyện Đăk Rlấp, đã phát hiện bộ đàn đá gồm 3 thanh. Aõm thanh của đàn là các nốt nhạc FA, SOL, LA hoàn toàn trùng hợp với hàng âm của bộ cồng có núm mang tên Goong Pêh hay còn gọi là Goong pep lơp (cồng 3 cái).

Người M’nông diễn tấu cồng đá theo hai cách. Cách thứ nhất là kê các thanh đá trên hai thanh tre để gõ. Cách thứ hai là dùng dây mây treo các thanh đá lên một ống tre gác ngang trên cây. Dụng cụ kích âm cũng rất độc đáo. Có thể dùng một cục đá to cỡ bằng nắm tay để gõ vào thanh đá hoặc dùng dùi bằng gỗ cứng để gõ đều được. Tuy vậy, theo các nghệ nhân cao tuổi, trong các bài bản Goong Luờ để cúng, người ta thường dùng đá để gõ hơn dùng dùi. Có 2 loại bài bản Goong Luờ. Bài cúng là “Pach pel”, bài thường là “Pel pach”. Tên gọi này cũng rất cổ sơ, lấy ngay âm điệu phát ra khi diễn tấu mà thành tên bài.

Cũng còn có bộ Goong Luờ 6 thanh, 9 thanh nhưng ở Dak Lak đến nay chưa sưu tầm được.

• Khái niệm khá bất ngờ về chiêng người M’nông là ở bộ Cấưng ôấh
(chiêng thổi), còn có tên gọi là H’Nung Pro (ống thổi 6). Nhạc cụ này gồm 6 ống nứa nhỏ có gắn lưỡi gà (hay còn gọi là lam) mỗi ống được lồng trong một quả bầu khô. Tên gọi, hàng âm và bài bản của bộ chiêng thổi này cũng trùng khớp với bộ Cấưng Bor bằng đồng.

Ngày xưa, trong lễ cúng trước khi dọn rẫy hoặc trỉa lúa, Cấưng ôấh được 6 chàng trai vừa thổi vừa đi quanh tất cả các đám rẫy của mọi gia đình trong cộng đồng với một nguyên tắc là âm thanh không bao giờ được đứt quãng một lúc nào. Trong lễ rước hồn lúa (yang ba) về kho cũng không thể thiếu âm thanh của chiêng thổi. Sở dĩ Cấưng ôấh được dùng nhiều trong các lễ nghi nông nghiệp vì bà con quan niệm tre, nứa, bầu đều là chị em, họ hàng của hồn lúa. Với âm thanh của chị em, họ hàng ấy, hồn lúa sẽ không giật mình, sợ hãi mà thích thú, vui lòng ở với buôn làng, làm cho mùa lúa bội thu.

* Ở tộc người J’RAI:

Phổ biến nhất là bộ chiêng chế tác từ nứa có tên gọi Cấing Đing (chiêng ống). Các ống nứa lớn, dài được cắt gọt như cách gọt đàn T’rưng tạo ra âm thanh. Với 12 hoặc 13 ống từ lớn đến nhỏ, hàng âm của Cấing Đing hoàn toàn giống như dàn Cấing Arap bằng đồng. Chính vì vậy có nơi gọi bộ chiêng nứa này là Cấing Đing Arap M’ô (chiêng ống Arap nứa).

Hệ thống bài bản của chiêng ống rất phong phú. Với cách đánh mỗi người một ống như đánh chiêng, ngoài những bài bản của dàn chiêng Arap có những bài riêng như Kdoờ lăm sang (muá trong nhà), Cấua Ea (vùng đầm lầy)...

Có nhận xét cho rằng chiêng ống chính là tiền thân của Đàn nước và Đàn T’rưng sau này, các nhạc cụ rất phổ biến của các tộc người J’rai, Bana, Xê Đăng, Giẻ Triêng ở vùng Tây Nguyên.

Chỉ điểm qua một số nhạc cụ tre, nứa, gỗ, đá được quan niệm là cồng chiêng của các tộc người êđê, M’Nông, J’rai ở Dak Lak ta đã thấy thật đa dạng, phong phú và độc đáo. ở nhiều tộc người khác trên Tây Nguyên cũng có hiện tượng này.

Các bộ chiêng nói trên thường có cách chế tác đơn giản, chỉnh âm rất dễ dàng. Nếu âm thanh bị “lạc” chỉ cần chuốt một vài đường dao là đã chỉnh xong. Hàng âm, cách diễn tấu và bài bản cũng giống như chiêng đồng nhưng không bị một kiêng cữ, cấm kỵ nào. Ngoại trừ Goong Luh (đàn đá) các nhạc cụ tre nứa khác hầu như chơi ở đâu cũng được, lúc nào cũng được.

Các bộ chiêng tre nứa cũng là phương tiện quan trọng trong việc truyền dạy, tập luyện cách đánh chiêng, hướng dẫn các bài bản chiêng. Đây là một điều có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn, gìn giữ và sáng tạo các bài bản chiêng, yếu tố “phi vật thể” của giá trị cồng chiêng.

Rõ ràng là, theo quan niệm của khá nhiều tộc người ở Tây Nguyên, không gian văn hoá cồng chiêng không chỉ được tạo nên trong tổng hoà các mối quan hệ, môi trường diễn xướng; hệ thống bài bản, cách diễn tấu... cũng như các hoạt động liên quan đến cồng chiêng bằng đồng mà còn được tạo ra bởi một mảng hết sức đa dạng và rộng. Đó chính là các giá trị vật chất, tinh thần (vật thể - phi vật thể) được tạo ra trong môi trường diễn xướng các bộ chiêng độc đáo ở Tây Nguyên: Chiêng tre, chiêng nứa, chiêng ống, chiêng gỗ và đặc biệt là cồng đá, chiêng thổi.

Sưu tầm, tìm hiểu, nghiên cứu và khai thác lĩnh vực cồng chiêng độc đáo ấy cũng là mở rộng hơn, thấu đáo hơn không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị của một kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại đã được UNESCO công nhận.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}