Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Cổng trời mây trắng

Ký của Vũ Tuyết Mây | Thứ Tư, 20/11/2013 15:58 GMT +7
Trong tâm trí tôi, vùng cao là những dãy núi đá cheo leo, những cánh rừng rạm rạp, lạnh lẽo, những mái nhà xám ngắt, ủ dột đeo bám vào sườn núi. Người vùng cao sống  lặng lẽ, nhẫn nại và tẻ nhạt, chẳng đam mê và cũng chẳng buồn phiền. Vùng cao trong tôi sẽ mãi mãi là vùng đất xa lắc, nếu không có một lần tôi đến với vùng cao, điểm chóp nón của dải đất mang hình chữ S, vùng cực Bắc của Tổ quốc, vành đai biên giới phía bắc, dãy núi đá cổ, cao nguyên đá thuộc tỉnh Hà Giang.

Một góc Cao nguyên đá Đồng Văn- Hà Giang
Vượt qua 317 ki lô mét chiều dài quốc lộ số Hai, rồi bắt vào con đường Hạnh Phúc có độ dài ngót hai trăm ki lô mét, lượn lờ, leo dốc vằn vèo từ thị xã Hà Giang vắt lên tận điểm đầu của Tổ quốc (núi trán rồng, Cột cờ Lũng Cú) ngút ngàn mây trắng và gió đùa.

Cùng đi với chúng tôi là nhà báo, nhà văn Nguyễn Quang. Nguyễn Quang quê miền xuôi (Ninh Giang, Hải Dương), mười tám tuổi đã xung phong đi thanh niên xung phong, trực tiếp tham gia đào núi, chuyển đá làm con đường mòn Hoà Bình đi Sơn la (những năm đầu của thập kỷ 60). Cơ duyên trời định, sau khi hoàn thành con đường, anh đi một vòng từ Bắc vào Nam, rồi lại từ Nam ra Bắc. Trải một quãng thời gian hàng chục năm hết làm người lính cầm súng ra chiến trận, đến tham gia nhiều công việc thuộc ngành văn hoá, cuối cùng lại quay về Hà Giang làm nghề viết báo, viết văn. Sống trên đất Hà Giang gần 50 năm, có tới trên 30 năm đi và viết, để lại hàng trăm bài báo, hàng chục đầu sách văn, thơ, đoạt nhiều giải thưởng từ tỉnh đến Trung ương, nên anh tự hào khoe với chúng tôi rằng, chỗ nào ở mảnh đất địa đầu cũng có dấu chân anh.

Từ lúc xe trườn lên đến dốc Quản Bạ, chúng tôi chỉ nhìn thấy núi. Chưa qua qua núi này đã thấy núi khác sừng sững ngay trước mặt. Núi ken núi, núi kề bên núi, núi chồng lên nhau, ngất ngưởng, lung linh, mờ ảo tưởng như sắp chạm tới đỉnh trời.

Vượt hết đèo, dốc Quản Bạ (dốc Bắc Sum, dốc Lao Và Chải, dốc Chín Khoanh, cua M)… lại tiếp cua và dốc. Thật nhiều con dốc, thật nhiều vòng cua, mới lên đến đỉnh Mã Pì Leèng (ngựa phải quỳ) độ cao 2.000 mét so với mặt nước biển, niềm kiêu hãnh của hơn 10 vạn đồng bào bốn huyện biên giới thuộc tỉnh Hà Giang: Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn. Có nghĩa là chúng tôi đang đứng giữa vùng cao nguyên sừng sững những núi đá cao ngất trời. Ngoảnh nhìn lại phía thị trấn Tam sơn,  giữa 2 khe núi phía xa mờ, hun hút một biển mây.

- Cổng trời kia kìa, mọi người có nhìn thấy không? Nguyễn Quang đứng doạng chân, vươn người chỉ tay lên vòm trời, làm chiếc xe 16 chỗ đang mãi miết bon bon cũng vội dừng lại. Cửa xe bật mở, chúng tôi tất thảy đều nhảy xuống xe, đều ngoảnh nhìn theo hướng chỉ tay của Nguyễn Quang. Hướng ấy, trời và đất chỉ còn cách nhau vài bước.

Phía ấy, trên đỉnh núi và giữa lưng chừng núi, mây từng tầng, từng trảng khổng lồ, trắng xốp, ngút ngàn, đang trôi như những dòng sông mây chảy về phía sau cổng trời.

 Nhìn xuống dưới chân, lại thấy mây trắng lấp đầy thung sâu, khe núi và trải kín mặt sông, lấp vùi mặt suối. Phía trước mặt, mây quấn vào cây, trùm lên đá, phả vào những mái nhà ngói ống cheo leo trên sườn núi. Lắng tai nghe thấy tiếng mây âm âm trong đá, trong sương. Ai đó trong đoàn cao hứng cất lên lời của một bài ca “Đường đi trên mây lên tới cổng trời, ôi Hà Giang mến yêu của tôi…” nghe sao thân thương mà lãng mạn.  Bỗng lời hát bị cắt ngang bởi những luồng cảm xúc bất chợt:

- Dưới mây là đá!
- Ôi! Toàn đá!
- Đá lẫn trong mây!
- Thiên nhiên kỳ vĩ quá!

Trong xe, xung quanh xe xôn xao.

 - Dưới mây là đá- Tôi đứng lặng lẽ quan sát. Cả một vùng trời xanh, đá xanh,  sạch đến từng mi li mét. Đá ngạo nghễ vươn đến đỉnh trời, đá giấu mình trong sương, trong mây. Lớp lớp đá đứng, đá ngồi, nghiêng ngả, duỗi dài. Phiến tròn trịa như có bàn tay kỳ công mài giũa, phiến sắc nhọn như mặt bàn chông, phô bày, trầm tư giữa thanh thiên bạch nhật. Tôi chưa từng thấy nơi nào trên thế gian này nhiều đá đến thế.

Cao nguyên rét thấu ruột, cứ ra khỏi xe độ dăm, mười phút, hai bên mang tai đã tê buốt, ù ù. Nghe tin hai hôm trước ở đây nhiệt độ xuống đến o độ C. Trong khi miền xuôi vẫn bình thản ở trên 10 độ.

Nguyễn Quang luôn thể hiện niềm tự hào với những cảnh vật ở quê hương thứ hai của mình. Anh kể cho chúng tôi nghe bao chuyện về đá, về cuộc sống của người dân trên đá dưới cổng trời. Gói gọn là đồng bào ở dưới cổng trời giữa cao nguyên đá cũng như đá, sức chịu đựng bền bỉ như đá, bản lĩnh như đá, họ đã sống bẵng cuộc đời đời bất tử. Bất tử bắt đầu từ con đường chúng tôi đang đi. Đường Hạnh Phúc.

 Từ thuở sơ khai, con đường khi xưa chưa có tên Hạnh Phúc gập ghềnh, cheo leo và nhỏ hẹp chỉ dành đôi chân con người và chân ngựa. Lên dốc phải vừa đi vừa nghỉ. Gặp trời mưa, đường trơn, dốc phải túm vào cây mà leo, phải chống cái gậy mà đi. Con đường đã in dấu ngàn vạn vết chân trần của trăm, ngàn đời của bà con 22 dân tộc thuộc tỉnh Hà Giang và các tỉnh lân cận qua lại vì mỗi mục đích mưu sinh. Đi hết con đường này chỉ có thể tính được bằng cách tính của người Mông: “ bao nhiêu con dao quăng”, “bao nhiêu cái khăn mặt vắt vai”. Thế tức là bao nhiêu lần cầm con dao đến mỏi, phải đổi sang tay khác? bao nhiêu lần cái khăn mặt ướt vắt trên vai cho đến lúc khô.

Có câu chuyện về con đường vẫn còn lưu truyền: ngày đất nước mới giành độc lập từ tay Thực dân Pháp, ông Vương Chí Sình, con trai cả của ông “Vua Mèo” trên cao nguyên đá Vương Chí Thành, có dinh thự đóng tại trung tâm huyện Đồng Văn, được Bác Hồ mời dự cuộc họp Quốc Hội khoá đầu tiên, đã nằm trên võng cho bốn người thay nhau khiêng, đi ròng rã suốt hai ngày, hai đêm mới xuống đến thị xã Hà Giang, rồi  mới có đường đi được ô tô về Thủ đô Hà Nội.

Những năm đầu của thời kỳ xây dựng đất nước, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Hà Giang quyết tâm làm bằng được con đường, thực hiện chủ trương nối các bản, làng, các dân tộc lại gần nhau hơn, với mục tiêu đưa miền núi tiến kịp miền xuôi. Người được giao tổng chỉ huy làm con đường là đồng chí Sùng Đại Dùng, ông là người Mông, Nguyên là Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh.

Cho đến tận hôm đoàn chúng tôi lên Hà Giang, ông vẫn còn khoẻ mạnh, minh mẫn. Ông Sùng Đại Dùng đã vận dụng tài trí và lòng yêu dân, thương dân ra vận động đồng bào các dân tộc thực thi con đường đầy gian nan, vất vả và thiếu thốn, chỉ bằng một lý lẽ rất đơn giản, cụ thể của người Mông: “Muốn cách mạng thành công, chúng ta phải đoàn kết, đoàn kết như lợn ăn chung một máng”. “Chúng ta phải tiến lên, tiến lên như xe xuống dốc mà không  phanh”.

Cái lý lẽ nghe giản dị như cuộc sống của đồng bào Mông trên đá, vậy mà Sùng Đại Dùng đã hiệu triệu được, hàng ngàn, hàng vạn thanh niên các dân tộc 6 tỉnh Cao-Bắc-Lạng, Thái-Tuyên- Hà, chỉ bằng đôi bàn tay mà xẻ núi,  san nền, bắc cầu. Cuối cùng người Hà Giang đã biến con đường gồm 167 ki lô mét cheo leo, núi cao, vực sâu thành con đường trải nhựa phẳng phiu, mềm như dải lụa, bên dựa vào vách núi, bên ém mình cạnh thung sâu, rồi xuyên qua núi đá, băng qua sông sâu, hết quanh co bên những nương chè, nương ngô, lại vòng vèo quanh những thung lũng "tròn như cạp váy của phụ nữ Mông". Bỏ lại sông Lô, sông Miện, theo sông Nho Quế mà đi lên cổng trời.

 Con đường Hạnh phúc đã đi vào huyền thoại giữa núi rừng Hà Giang và trong lòng các thế hệ đồng bào các dân tộc cả khu vực sáu tỉnh phía Bắc.
Đêm nghỉ lại nhà khách huyện uỷ huyện Đồng văn, Anh Bí thư Huyện uỷ Sùng Đại Hùng, con trai người tổng chỉ huy làm con đường Hạnh Phúc Sùng Đại Dùng, dân tộc Mông, còn khá trẻ, có cặp mắt dài, da trắng mịn như da con gái  trong bộ quần áo chống rét dậy bự, điềm đạm cho chúng tôi biết về cuộc sống của đồng bào trên cao nguyên đá bằng một câu khái quát: đất và người Đồng Văn có năm cái nhất: Nhiều đá nhất, khát nước nhất, nghèo đói nhất, ít chữ nhất và nhiều đồng bào Mông nhất.

Việc thiếu nước không hiếm. Đây đó trên mọi miền vẫn xảy ra chuyện thiếu nước. Nhưng ở cao nguyên đá, nơi toàn đá, cao hơn mặt nước biển gần 2000 mét. Đá ăn sâu tới tận cùng của vỏ trái đất, mỗi năm có tới sáu tháng liền không có mưa. Không mưa tức là không có nước. Phải tích nước, phải để dành nước, phải ky bo nước để sống trong sáu tháng không có mưa.

 - Vo gạo, rửa rau, rồi rửa chân trong cùng một gáo nước, chúng mình vẫn làm thế mà!

Ở một gian chợ xép trên ngã ba đường xã thuộc huyện Yên Minh, bà cụ người Mông mặc chiếc váy lanh dài chấm mắt cá, tay xách một  can nước nhỏ, ngượng ngùng kể khi tôi tò mò hỏi chuyện về nước.

Thiếu nước lâu ngày đá cũng khát. Khát đến vàng cháy. Khát đến mốc meo. Khát những tưởng chỉ cần khẽ chạm vào nhau là kêu lên chí chát.

Sống trên đá, con người phải chống chịu, phải quen dần với cái khát. Chuyện về thiếu nước, có người tếu táo góp vào hai câu chuyện:

 Chuyện ăn rau: Có một bản người Mông, bà con đi làm nương về, trong cái gùi đeo trên vai bao giờ cũng có nắm rau cải. Trước khi xào, nấu, họ không rửa, mà cắp vào nách, rồi rút về đằng trước và bỏ vào nồi. Bởi theo cách nhìn của người Mông, động tác như vậy là đất cát đã rơi hết về đằng sau nách rồi, không phải rửa nữa! Mà lấy nước đâu để rửa?

 Chuyện tắm khô. Với cái lý, không có nước thì không cần tắm bằng nước: Lâu lâu, hôm nào gió to, người trong bản lại  ra đứng nơi đầu gió, cởi bỏ hết quần áo, rồi vừa kỳ cọ, vừa phủi, để cho gió đưa đi hết cái cát bụi và mồ hôi, thế là sạch, sạch được hàng tháng mới lại phải tắm.

 Chuyện tuy có hơi hướng tầm phào, hài hước, nhưng ngẫm lại thấy phần nào có lý, đây đó cũng có thể có người bà con vùng khô khát ít nhất một lần trong đời tắm gió.

Để có nước, đồng bào phải đi cả ngày đường tìm nước. Muốn khoan sâu vào lòng đá để tìm ra nước, nhưng trong tay chỉ có mèn mén (bột ngô đồ xôi) với canh tẩu chúa (canh đậu phụ), không chọi nổi với đá. Đành phải đi thật xa, đi cả ngày đường cũng đi để lấy nước, để sống.

Biết tình thế của dân, năm 2007, sau chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Nhà nước đã quyết định thành lập Dự án hồ treo (hồ đựng nước mưa xây trên núi đá). Thế là đồng bào 4 huyện vùng cao của cao nguyên đá có hẳn 30 cái hồ treo lơ lửng trên núi đá, mỗi hồ có dung tích 5 ngàn hoặc 10 ngàn m3 nước. Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Dù chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhoi, nhưng Chính Phủ đã phần nào làm dịu đi cơn khát trên cao nguyên đá.

- Đói cơm. Cả một vùng toàn đá. Ruộng đá, bờ rào đá, cầu thang đá, trên lối đi cũng bằng đá. Kiếm cái ăn trên đá chẳng khác mấy với kiếm miếng nước giữa mùa khô trên đá. Nguyễn Quang tả: “Con bò gặm cả ngày không đầy bụng cỏ, con gà bới cả ngày không kiếm nổi con giun”. Ngày ngày, tháng tháng bà con đi tìm đất trong hốc đá để gieo trồng. Chỗ nào có được một vài manh chiếu có đất  bà con dùng búa, dìu chặt đá, chuyển đá đi nơi khác lấy chỗ trồng lúa, khoai. Chỗ nào giữa các khe đá còn dính tí đất thì chọc lỗ, gieo hạt đậu, hạt bí, hạt ngô. Không có đất, bà con gùi đất dưới sông, suối lên đổ vào từng khe đá lấy chỗ cài cắm vài gốc sắn, hạt ngô. Nguồn sống cả năm là bột ngô đồ xôi, với canh đậu phụ.

Không ai có thể hình dung thiên nhiên hà khắc như vậy, mà con người đã có mặt và tồn tại bền vững trên cao nguyên đá cổ đã có từ ngàn, vạn năm trước và đã hình thành lên một nền văn hoá cao nguyên đậm đặc chất riêng tư. Đó là những tấm thổ cẩm bền, đẹp đến mê mẩn lòng người, làm tươi sáng cho đá, cho cây; là chợ tình Khau Vai chứa đựng một nền văn hoá lâu đời, thổi thêm lửa vào tình yêu cuộc sống, làm tăng sinh lực cho đời; là tiếng khèn réo rắt, bổng trầm làm đá cũng phải rung động và đâm chồi; là rượu Thanh Vân chưa uống đã say nghiêng ngả núi đồi; là những cô gái Mông, Lô Lô, Pà Thẻn, Dao, Hà Nhì…xinh như trong mộng, khoẻ  như cây rừng, lên dốc ngang chân ngựa, xuống dốc chạy băng băng, như xe xuống dốc mà không phanh.

  Tình của núi, của đá, của mây cứ tự nhiên như trời với đất ngấm vào đời ông, lặn vào đời cha, quyện chặt vào đời con, đời cháu, khiến cho hơn 100 vạn người gồm 22 dân tộc anh em của tỉnh Hà Giang, sát vai chung sống bền vững từ hàng ngàn đời nay, dưới cổng trời, cùng nhau bảo vệ vững bền gần 200 km đường biên cương. Họ hàng ngày, hàng giờ bám chặt vào đá, tìm đất để sống, như tạo hoá cùng sinh ra con người và đá, với một ý chí không thành văn “sống trên đá, chết nằm trong đá”, mà theo anh Phó chỉ huy trưởng quân sự huyện Yên Minh:

 - Vũ khí của dân là lòng yêu quê hương, là tinh thần trách nhiệm, đó là những việc làm tự nhiên, đồng bào bảo vệ biên cương như bảo vệ căn nhà, cái bếp lửa của mình, bằng phong trào “Toàn dân tự quản đường mốc giới”. Đồng bào vùng biên giới còn là những người trực tiếp giữ gìn mối tình đoàn kết bền chặt giữa hai dân tộc anh em Việt Nam- Trung Hoa.

                *     *    *

 Gói lại chuyện đá, chuyện mây và chuyện đời dưới cổng trời, chúng tôi lại hăm hở vượt dốc, đèo, vào cua lên Lũng Cú, đỉnh đầu của tổ quốc.

Núi Rồng, Lũng Cú, 24 giờ trong ngày, cờ Tổ quốc tung bay phần phật trong cái nắng, gió vùng trời cận Bắc của Tổ quốc.

Núi Rồng và Lũng Cú, những cái tên đã ăn sâu trong tâm trí của người Việt Nam: gần gũi, thân thương. Cột cờ Tổ quốc cao 15 mét,  lá cờ tổ quốc rộng năm mươi tư mét vuông, cao, to sừng sững trên đỉnh núi Rồng, ngày đêm tung bay phần phật trong nắng, gió Thượng Phùng, những cơn gió được cho là gió quái, không có chiều cố định, cứ hào phóng, lồng lộng thổi hết ngày, sang đêm không ngừng nghỉ  trên cao nguyên.

Nghe các anh bộ đội biên phòng Đồn Lũng Cú kể: các anh đã tiếp đón rất nhiều người từ mọi miền đất nước đến đây, có người ở tận Hòn Gai, Quảng Ninh chở cả một bao tải đất đỏ của quê nhà, lên rắc dưới chân cột cờ, có ý gửi gắm một phần con tim và máu thịt của họ với biên cương, rồi lại nhặt một túi đá ở chính nơi ấy mang về làm kỷ niệm. Có người lên đến nơi, cứ đứng lặng lẽ bên chân cột cờ nhìn núi, nhìn mây, nghe gió mà lòng rưng rưng đến trào dâng nước mắt. Lại có người cứ ôm lấy chân cột cờ mà khóc nức. Họ khóc vì thương một vùng biên cương hùng vĩ mà gian nan, khắc nghiệt, đói nghèo. Cũng có thể họ khóc vì những kỷ niệm khó phai trong tâm trí người việt. Khóc còn để thoả mãn một lần trong đời lên được đến cổng trời đầy mây trắng, gió đùa, đến một vùng đất thiêng liêng đầy huyền thoại, có những người bà con bền lòng với đá.

Mùa khô đang đi qua, trước khi trở lại con đường Hạnh Phúc để về xuôi, chúng tôi cùng đứng trên núi Rồng, dưới chân cột cờ, ngửa mặt nhìn lên bầu trời lồng lộng, cầu cho cao nguyên đá có thêm nhiều nước, có thêm nhiều đường dễ đi, có thêm nhiều trâu, bò, ngựa, dê để nhà nhà đầy ắp tiếng cười, để bếp lửa toả nhiều hơi ấm, cho điệu khèn thêm réo rắt, cho bước nhảy thêm dịu dàng, uyển chuyển. Và cho những cánh đào trên cao nguyên hồng những tháng ngày nơi biên cương tổ quốc./.

Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}