Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sự kiện:

 

Đà Nẵng, 39 năm nhìn lại

Bùi Văn Tiểng | Thứ Bảy, 29/03/2014 13:29 GMT +7
Ai cũng thừa nhận muốn phát triển thành phố trở thành một đô thị văn minh hiện đại, người Đà Nẵng không thể không chỉnh trang đô thị, không thể không mở những con đường mới, không thể không nâng cấp những con đường nhỏ hẹp...
 
1. Đà-Nẵng-ngày-hăm-chín-tháng-ba cách đây 39 năm đi vào lịch sử từ một khoảnh khắc để đời - 12 giờ 30 phút trưa, lúc lá cờ nửa đỏ nửa xanh sao vàng bắt đầu tung bay trong gió lộng sông Hàn, và tại một địa điểm để đời - Tòa Thị chính trên đường Bạch Đằng.

Từ đây lá cờ nửa đỏ nửa xanh sao vàng của miền Nam giải phóng và tiếp đến là lá cờ đỏ sao vàng của giang sơn thống nhất đã có thể sớm sớm chiều chiều phất phới trên nền trời xanh thẳm của quê hương. Và đúng như đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn từng đánh giá sự kiện lịch sử quan trọng này: “Tấn công và nổi dậy giải phóng thành phố Đà Nẵng có ý nghĩa quyết định sự sụp đổ quân ngụy ở miền Nam”, những chiếc xe tăng và những người lính xe tăng của Quân đoàn 2 vừa thần tốc tiến vào giải phóng Đà Nẵng, nhanh chóng đập tan căn cứ quân sự lớn thứ nhì của đối phương, nhờ vậy chỉ hơn ba mươi ngày sau đã kịp thời có mặt trước cổng dinh Độc Lập. Và đúng vào thời điểm 11 giờ 30 phút ngày-ba-mươi-tháng-tư, một người Đà Nẵng - Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203 xe tăng Quân Giải phóng vừa mới trở lại thành phố quê hương chôn nhau cắt rốn vào ngày-hăm-chín-tháng-ba sau mấy mươi năm xa cách, đã tiếp tục cùng đồng đội rong ruổi cuộc trường chinh tiến về Sài Gòn - và để rồi đường hoàng bước vào phòng khánh tiết trong Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, vinh dự trở thành chứng nhân lịch sử, tận mắt chứng kiến giây phút cáo chung của chính quyền Sài Gòn, chấm dứt hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc. Nhân danh các đơn vị quân đội cách mạng tấn công dinh Độc Lập, Chính ủy Bùi Văn Tùng tự tay thảo lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, buộc Tổng thống - Đại tướng Dương Văn Minh đọc trên Đài Phát thanh Sài Gòn. Rồi cũng chính người Đà Nẵng dạn dày chiến trận này đã thảo và đích thân đọc lời tiếp nhận sự đầu hàng của Tướng Dương Văn Minh: “Tôi, Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn 203, đại diện lực lượng quân giải phóng miền Nam, đơn vị chiếm dinh Độc Lập long trọng tuyên bố: thành phố Sài Gòn đã được hoàn toàn giải phóng. Chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn”.

2. Như vậy Đà-Nẵng-ngày-hăm-chín-tháng-ba cách đây 39 năm trở thành một ngày lịch sử không chỉ riêng của thành phố bên sông Hàn mà còn chung của cả nước. Để ghi dấu ngày này vào lịch sử, người Đà Nẵng từng lấy thời điểm 29 tháng 3 đặt tên một công viên được xem là lớn nhất và không chừng là duy nhất trong thành phố. Có thể nói Công viên 29 tháng 3 là biểu tượng cho khát vọng được đổi đời của người Đà Nẵng từ những năm đầu giải phóng: trên bãi rác khổng lồ mang tên Hầm Bứa - bãi rác trung tâm của Đà Nẵng trước năm 1975 kiểu như bãi rác Khánh Sơn bây giờ, người Đà Nẵng ngày ấy - bằng sức lao động dẻo dai và hào khí ngất trời của hàng vạn thanh niên - đã tạo nên một lá phổi thiên nhiên giữa lòng đô thị, có hồ nước rộng với rất nhiều cổ thụ quanh năm “xòe ô che nắng”... Bằng ngôn ngữ biểu tượng, người Đà Nẵng cố tình đối lập giữa một bên là không gian rác thải bụi bẩn đầy ô nhiễm với một bên là không gian cây xanh nước biếc thật sự trong lành, nhằm thể hiện khát vọng được “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (thơ Nguyễn Đình Thi). Điều này giải thích tại sao người Đà Nẵng hào hứng khi có điều kiện được nhìn ngắm toàn cảnh không gian cây xanh nước biếc của Công viên 29 tháng 3 từ phía đường Nguyễn Tri Phương và không hài lòng, không an lòng khi trông thấy diện tích công trình công cộng có một không hai này đang bị thu hẹp - kể cả bị thu hẹp nhân danh… sự phát triển!  

3. Đà-Nẵng-ngày-hăm-chín-tháng-ba cách đây 39 năm đã chứng kiến sự hy sinh của người chiến sĩ biệt động thành Nguyễn Văn Dự ở đầu cầu Trần Thị Lý - cây cầu lúc đó còn mang tên viên tướng Bình Xuyên Trịnh Minh Thế. Những tưởng đó là người liệt sĩ cuối cùng ngã xuống trong chiến trận. Những tưởng từ đây có thể “trả lại gươm thần” để dành toàn tâm toàn ý xây dựng quê hương. Nhưng rồi máu người Đà Nẵng vẫn tiếp tục đổ trong hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam tháng 1 năm 1979 và biên giới phía Bắc tháng 2 năm 1979, vẫn tiếp tục đổ trong cuộc hải chiến bảo vệ Trường Sa tháng 3 năm 1988. Cũng cần nói thêm rằng Đà Nẵng là địa phương duy nhất trong cả nước có nguyên một huyện - huyện đảo Hoàng Sa - đã bị Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm từ ngày 19 tháng 1 năm 1974 - và sự kiện này dẫn tới một thực tế là thành phố Đà Nẵng tuy được giải phóng vào ngày 29 tháng 3 năm 1975 nhưng Đà Nẵng vẫn nhức nhối nỗi đau: Hoàng Sa còn bị ngoại bang chiếm đóng! Suốt 39 năm qua, dẫu rất thật lòng mong muốn hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc, người Đà Nẵng vẫn phải lên Vọng Hải đài sớm khuya mở to đôi mắt canh giữ giang sơn, vẫn phải tiếp tục cầm lưỡi kiếm đã mài nghìn năm tổ tiên truyền lại ngày đêm đứng trấn nơi hải khẩu chiến lược quê mình. Đương nhiên, người Đà Nẵng nhìn ra biển không chỉ để cảnh giới với mọi hiểm nguy đang lăm le đe dọa đến an ninh quốc gia, bởi Đà-Nẵng-ngày-hăm-chín-tháng-ba cách đây 39 năm còn mở ra cho người Đà Nẵng một tương lai đầy hứa hẹn phía biển Đông, khi Đà-Nẵng-thành-phố-ven-biển đã thực sự trở thành Đà-Nẵng-thành-phố-hàng-hải, và bởi Đà-Nẵng-ngày-hăm-chín-tháng-ba cách đây 39 năm còn đưa Đà Nẵng bước vào một thời kỳ mà “người chiến thắng cũng là người xây dựng mới” (thơ Tố Hữu).

4. Thời kỳ mà “người chiến thắng cũng là người xây dựng mới” về cơ bản là một thời kỳ khác trước. Đòi hỏi của lịch sử về cơ bản đã đổi thay. Mục tiêu “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” đã đạt được bằng chính xương máu của hàng triệu con người, trong đó có hàng vạn người Đà Nẵng. Vì thế vấn đề cốt tử của 39 năm vừa qua là làm sao cho nhân dân được thật sự hạnh phúc, đất nước quê hương nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo, là làm sao cho “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong bối cảnh nhất thiết phải hội nhập cùng thế giới.

Tiếp bước anh hùng trong chiến tranh giải phóng, 39 năm qua người Đà Nẵng vẫn nhớ mãi câu nói nổi tiếng của Jaurès từng được long trọng nhắc lại giữa diễn đàn đại hội của Quốc tế thứ hai năm 1920, lúc Nguyễn Ái Quốc đang cùng với những đồng chí của mình tích cực đấu tranh để chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Pháp, gia nhập Quốc tế thứ ba: “Trung thành với truyền thống (nghĩa là phải) đem hết sức mình tiến về phía tương lai, như dòng sông chỉ có chảy ra biển mới gọi là trung thành với ngọn nguồn của nó”. Với những thành tích trong phong trào thi đua yêu nước suốt 39 năm, vượt qua những thách thức không kém phần nghiệt ngã như trong chiến tranh, người Đà Nẵng đã thực sự góp cho thời mình đang sống những giá trị mới, cũng có nghĩa là đã thực sự tạo ra cho tương lai một số truyền thống mới. Tất nhiên mọi việc không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, không phải lúc nào cũng như mong đợi…

5. Ai cũng thừa nhận muốn phát triển thành phố trở thành một đô thị văn minh hiện đại, người Đà Nẵng không thể không chỉnh trang đô thị, không thể không mở những con đường mới, không thể không nâng cấp những con đường nhỏ hẹp... Ai cũng thừa nhận muốn phát triển thành phố trở thành một đô thị văn minh hiện đại, người Đà Nẵng không thể không hình thành thêm những khu dân cư hoặc những chung cư cao tầng… Trong công cuộc chỉnh trang đô thị với quy mô và tốc độ như thời gian qua, cái được là rất lớn, rất bao trùm; nhưng công bằng mà nói, để có cái được rất lớn, rất bao trùm cho hàng chục vạn người thụ hưởng ấy, cư dân nghèo - trước hết là nông dân - vẫn là những người chịu thiệt thòi nhiều hơn cả.

Vì cái chung, cái lớn mà hàng trăm hộ dân nghèo/nông dân phải thu hẹp thậm chí xóa trắng diện tích canh tác, phải thu hẹp diện tích thổ cư thậm chí phải di dời đến nơi ở mới để bàn giao mặt bằng phục vụ công cuộc chỉnh trang đô thị. Cũng có trường hợp bà con dân nghèo/nông dân được bồi thường tương đối thỏa đáng, cũng có trường hợp nhờ quy hoạch mở đường mà bà con có chỗ ở mới khang trang hơn trước; nhưng phần lớn trường hợp là bà con đã chấp nhận thiệt thòi khi thực hiện chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, sẵn sàng chia sẻ khó khăn trong lúc chính quyền thành phố còn đương thiếu vốn để đầu tư kết cấu hạ tầng. Và dẫu là trường hợp nào đi nữa, bà con dân nghèo/nông dân cũng đều phải chịu mất ổn định trong đời sống thường nhật, kể cả sự xáo trộn liên quan đến đời sống tâm linh, đến những kỷ niệm của đời người; đến nay nhiều người vẫn còn đương lúng túng trong việc chuyển đổi sang các ngành nghề phi nông nghiệp. Chính họ - chứ không phải ai khác - vẫn chưa được hưởng lợi ích từ tăng trưởng kinh tế một cách công bằng. Tuy không phải tất cả song không ít chính sách quản lý đô thị hiện hành vẫn chưa thực sự hướng tới những cư dân nghèo. Cho nên nỗ lực tìm kiếm giải pháp để những cư dân nghèo có cơ hội được hưởng lợi ích công bằng hơn từ quá trình đô thị hóa phải trở thành mối quan tâm thích đáng thậm chí phải trở thành niềm thao thức không yên của chính quyền thành phố.

6. Trong chỉnh trang đô thị, một số dự án triển khai chậm vì khâu giải tỏa đền bù để bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư bị ách tắc, nhưng ngược lại có khi việc bàn giao mặt bằng xong đã lâu mà dự án vẫn chưa có đủ điều kiện tiến hành xây dựng dẫn đến đất đai bị bỏ hoang còn người nông dân thì không thể tiếp tục sản xuất và thu hoạch trên mảnh vườn thửa ruộng của mình. Hoàn toàn có thể hoạch định một chính sách - chính sách hẳn hoi chứ không phải là chủ trương tình thế - phù hợp với thực tế này: người dân vẫn cứ được đền bù và được tạo điều kiện nhanh chóng an cư ở nơi ở mới, đồng thời vẫn được phép cam kết để tiếp tục sản xuất và thu hoạch ngay tại mặt bằng đã bàn giao cho đến khi dự án thực sự khởi công. Rồi phần lớn các trường hợp tái định cư của nhóm cư dân nghèo là phải di dời đến những địa bàn xa trung tâm và không nói ra nhưng ai cũng hiểu là sẽ phải chịu thiệt thòi về nhiều mặt đặc biệt là về học hành và chữa bệnh.

Giãn dân khỏi khu vực trung tâm là cần thiết trong quá trình chỉnh trang đô thị, nhưng nếu thực sự biết hướng tới nhóm cư dân nghèo thì phải có chính sách bảo đảm cho cuộc sống của họ ở nơi ở mới có đủ tiện ích tối thiểu của cuộc sống đô thị như điện, như nước sạch, như phương tiện giao thông công cộng, như trạm y tế và nhất là trường học… Chính sách phân bố đầu tư cho giáo dục-đào tạo hiện nay đang có xu hướng tập trung vào khu vực trung tâm vốn có nhiều thuận lợi. Thật ra nên tập trung ngân sách để đầu tư cho giáo dục ở vùng khó khăn - nhất là các khu tái định cư của nhóm cư dân nghèo thu nhập thấp. Ngân sách nói ở đây bao gồm cả kinh phí dùng để ưu đãi thu hút thầy giỏi chứ không chỉ là kinh phí xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho dạy-học. Về vấn đề này, Nhật Bản cũng từng có một quan niệm tương tự: chính phủ Nhật ưu tiên đầu tư cho những trường nghèo và còn hạn chế về điều kiện nâng cao học vấn cho học sinh chứ không tập trung quá nhiều cho các trường điểm tại những thành phố lớn. Đó cũng là cách góp phần tạo nên sự công bằng trong giáo dục - một khía cạnh rất là cốt lõi của công bằng xã hội./.


Cầu Sông Hàn


Cầu Sông Hàn được xem như một biểu tượng về thành tựu và triển vọng của Đà Nẵng. Ảnh: MINH TRÍ

Cầu Sông Hàn là cầu quay đầu tiên do kỹ sư, công nhân Việt Nam tự thiết kế và thi công, là cầu quay duy nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay, và cũng là chiếc cầu đầu tiên bắc qua sông Hàn kể từ thời điểm 1975.

Cầu Sông Hàn được khởi công ngày 2-9-1998 và khánh thành đưa vào sử dụng ngày 29-3-2000 nhân kỷ niệm 25 năm Ngày giải phóng Đà Nẵng. Báo giới lúc đó đã đánh giá cầu Sông Hàn là “một công trình mang tính bứt phá đã được xây dựng trên trục chính của đường Bạch Đằng, một công trình mà sau này chắc chắn sẽ có một chỗ đứng bền vững trong lịch sử phát triển của thành phố”. Việc bắc cây cầu Sông Hàn qua dòng sông cùng tên được ghi nhận là tác nhân để cho “đường Bạch Đằng được lột xác lần thứ hai trong cuộc đời dài hơn 3 thế kỷ” (Sài Gòn Tiếp Thị).

Đây là công trình lớn đầu tiên của Đà Nẵng được xây dựng theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Cuộc vận động đóng góp xây dựng cầu Sông Hàn có lẽ là cuộc vận động rộng lớn nhất được đông đảo cán bộ, chiến sĩ, đồng bào Đà Nẵng hưởng ứng nồng nhiệt nhất. Ngoài ra, đồng bào Quảng Nam, bà con đồng hương Quảng Nam-Đà Nẵng nhiều nơi, Việt kiều trên khắp thế giới, nhiều bạn bè quốc tế đang kinh doanh, làm việc, học tập ở Đà Nẵng... đã đóng góp, lưu một chút tình cảm với đất và người Đà Nẵng.

Cầu Sông Hàn đã đi vào tâm thức người dân thành phố như một biểu tượng của thành tựu và triển vọng, nó khép lại những năm tháng nghèo khó, mở ra một chân trời mới tràn đầy niềm tin và hy vọng để bờ đông sông Hàn trở mình vươn dậy. Nương theo chiếc cầu thế kỷ, cùng với những tín hiệu vui từ phát triển kinh tế, ánh sáng văn hóa - văn minh sẽ chảy tràn lên những cảnh đời tối tăm, đói rét. Những chuyến đò ngang đầy bất trắc trong những đêm đông mưa bão đã trở thành chuyện của ngày hôm qua cùng với kỷ niệm buồn vui của những người đưa đò một dạo.

Từ ý tưởng bước ra hiện thực, chiếc cầu nối bên ni Hàn - bên tê Hà Thân ấy đã hào phóng đưa cánh tay níu bán đảo Sơn Trà hoang sơ gần lại với nhịp sống đô thị. Từ khi có cầu, từ đường Lê Duẩn sang đến bán đảo Sơn Trà chỉ mất 5 phút xe máy đã rút ngắn một chặng đường vòng 15 - 16km. Hôm nay, đứng trên cầu phóng tầm mắt nhìn bên ni Hàn hay bên tê Hà Thân đều thấy phố xá nghênh ngang, cộ xe như mắc cửi. Nhiều trăm năm thầm lặng đi qua, nhưng chỉ mới hơn mười năm mà Đà Nẵng đã đổi thay đến lạ. So với hơn bốn nghìn năm vàng son của lịch sử dân tộc, đó chỉ là khoảnh khắc, nhưng là một khoảnh khắc làm nên cái vô cùng!

Thật khó mà thống kê hết tác phẩm của các văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu, các nhà báo... đã đón nhận cảm xúc từ chiếc cầu mang tên dòng sông thành phố. Điểm nhấn của đêm Đà Nẵng là cầu Sông Hàn. Trong những kỳ trình diễn pháo hoa quốc tế, cây cầu được cho là biểu tượng của Đà Nẵng này càng đẹp thêm với tông màu ánh sáng trang trí mới. Đoàn thuyền hoa xuôi ngược trên sông, dòng hoa đăng sóng sánh cùng sông nước đã chấm phá thêm nét duyên cho sông Hàn ngày hội.

Trước đây, hằng đêm, vào khoảng 0 giờ 30, phần giữa của cây cầu quay 90 độ quanh trục và nằm dọc theo dòng chảy của dòng sông để thông đường cho tàu lớn đi qua, đến khoảng 3 giờ 30 cầu sẽ quay trở lại như cũ. Kể từ ngày 5-3-2010, thời gian quay cầu có thay đổi: Nếu không có tàu qua lại, mở cầu vào lúc 1 giờ và đóng cầu xong trước 2 giờ cùng ngày; nếu có tàu qua lại, mở cầu vào lúc 1 giờ và hoàn thành việc đóng cầu vào lúc 4 giờ cùng ngày. Nhiều du khách đến Đà Nẵng đã thức khuya để ngắm cây cầu độc nhất vô nhị của Đà Nẵng và cả Việt Nam này quay. Với họ, đến Đà Nẵng mà chưa xem cầu Sông Hàn quay nghĩa là chưa đến Đà Nẵng.

Với tổng kinh phí xây dựng 95 tỷ đồng, trong đó cán bộ và nhân dân thành phố Đà Nẵng và các địa phương khác đóng góp gần 27,5 tỷ đồng, cầu Sông Hàn là vạch nối liền hai trục đường chính của Đà Nẵng là đường Lê Duẩn ở bờ Tây và đường Phạm Văn Đồng ở bờ Đông. Cầu có chiều dài 487,7m, rộng 12,9m, gồm 11 nhịp, mỗi nhịp dài 33m, kết cấu bê-tông cốt thép dự ứng lực và 2 nhịp dây văng có tổng chiều dài 122,7m, kết cấu dầm và tháp cầu chính bằng thép, bản mặt cầu bằng bê-tông cốt thép.

LÊ GIA LỘC
;
 

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}