Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Đào Tấn - Cội mai tuyệt đẹp trong lòng dân tộc

Chủ Nhật, 02/11/2014 08:24 GMT +7

Nguyễn Thế Khoa
 
          Sáng 30 tháng 10/2014, tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thứ trưởng Vương Duy Biên, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN Lê Tiến Thọ, đại diện Văn phong Bộ, Cục Nghệ thuật Biểu diễn, Vụ Kế hoạch Tài chính đã họp nghe GS Hoàng Chương, Tổng Giám đốc và một số cán bộ của Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc trình bày đề xuất về việc tiến tới kỷ niệm 170 năm sinh của, Đào Tấn, danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc. Theo đề xuất, sẽ có các hoạt động tôn vinh danh nhà thơ lỗi lạc, nhà hoạt động sân khấu vĩ đại, hậu tổ của nghệ thuật tuồng, như sau: Lễ kỷ niệm cấp nhà nước, hội thảo khoa học “Đào Tấn trong nghệ thuật Việt Nam và thế giới”,  Liên hoan các vở diễn của Đào Tấn. Các hoạt động này dự kiến sẽ được tổ chức trong một tuần lễ tại TP Quy Nhơn, Bình Định vào tháng 8/2015.Thứ trưởng Vương Duy Biên và Chủ tịch Lê Tiến Thọ thay mặt Bộ và Hội rất cảm ơn, ủng hộ những đề xuất của Trung tâm, đề nghị Trung tâm kết hợp với tỉnh Bình Định xây dựng kế hoạch chi tiết sớm trình Ban Bí thư, Chính phủ để xin chủ trương và sớm phối hợp với Bộ và Hội triển khai thực hiện. Từ số báo này, cùng với chuyên mục tiến tới kỷ niệm 250 năm sinh Đại văn hào Nguyễn Du, VHVN sẽ mở chuyên mục tiến tới kỷ niệm 170 năm sinh Hậu tổ sân khấu Đào Tấn. Mở đầu, xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Khoa trích trong cuốn sách “Đào Tấn – Nguyễn Diêu, một thời đại tuồng” sẽ xuất bản đầu năm 2015...
 
Câu thơ trong bài thơ “Hành bộ ngẫu đắc” (Điều tâm đắc chợt nhận ra trên đường) Đào Tấn viết trên đường công cán ở cương vị tổng đốc An Tĩnh, nguyên văn chữ Hán “Thanh khoáng ngâm hoài tự thử trung” được nhà thơ Xuân Diệu dịch là “Trong sạch lòng thơ với nước non”, có thể được coi là câu thơ gói gọn cả một đời làm người và làm nghệ thuật vì nước non của Đào Tấn.

Thanh khoán - trong sạch, chắc chắn là chí hướng sống trọn đời của Đào Tấn. Ông đặt tên hiệu là Mộng Mai, (giấc mộng hoa mai), khi sống ông luôn muốn là một đóa mai (mai hảo ưng như cựu), còn khi chết, ông “ưng hữu mai hoa tác mộng hồn” (ước hồn hóa thành đóa mai). Nếu danh sĩ Cao Bá Quát, “nhất sinh đê bái thủ mai hoa” (một đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai), thì hơn thế, Đào Tấn muốn cái loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao, trong sạch của con người luôn trong giấc mộng mình, luôn trong tâm hồn mình. Ông không chỉ cúi đầu trước hoa mai mà còn muốn mình thực sự là một đoá mai.

Thế nhưng trời chẳng dễ chiều lòng người, “bắt phong trần phải phong trần/cho thanh cao mới được phần thanh cao”, để theo đuổi cho được giấc mơ thanh khoán ấy, cuộc đời Đào Tấn đã phải trải qua bao năm tháng ngập chìm vùng vẫy trong chốn bụi lầm: Cái cũ vội vội đi/Cái mới xăm xăm đến/Gặp nhau ngã ba đường/Thương thay đều lấm bụi …

Cái thứ bụi mà Đào Tấn nói trong bài thơ trên và trong nhiều bài thơ và từ khác của ông thực ra không phải là bụi đường mà là bụi đời, hay đúng hơn là bụi chốn quan trường, nơi ông sống gần nửa cuộc đời mình. “Ngã yểm phong trần trì nhất xa”, (Ta đã như một chiếc xe lỡ lao vào gió bụi), Đào Tấn từng đau đớn thốt lên như thế trong một bài thơ trò chuyện với người em họ mình ở quê nhà ra thăm ông nơi cửa quan chốn Hoan Thành.

Được vời vào triều từ năm 26 tuổi và chỉ rời triều khi sắp bước vào tuổi 60, Đào Tấn có hơn 30 năm làm quan qua ba đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái. Xét theo cái nhìn thông thường của người đời, Đào Tấn thật hết sức “công thành danh toại”. Với các chức tổng đốc, thượng thư, Đào Tấn đã có các chức quan vào hàng nhất phẩm, nhị phẩm triều đình. Thời Tự Đức, về đức làm quan, ông được vua nêu danh “Thanh, thận, cần” “bất uý cường ngự”, về tài làm tuồng thì được vua bút phê là “kỹ thuật thần diệu”. Đến thời Thành Thái thì Đào Tấn đã thành tâm phúc của vị vua trẻ yêu nước, khi sắc phong tước “Vinh quang từ” cho Đào Tấn (1902), Thành Thái dành hẳn một bài chế để nêu gương ông khắp “trong triều, ngoài quận”. Trong bài chế ấy có hai câu “Văn chương chúa mến, nghiệp bút nghiên giỏi việc trung thư/Đức độ dân thương, tài cai trị trội hơn tam phụ”. Như vậy cả nghiệp bút nghiên và tài cai trị của Đào Tấn luôn được các vua Nguyễn, dù là vị vua để mất nước như Tự Đức hay vị vua nuôi chí phục quốc như Thành Thái, đánh giá rất cao. Nhìn bề ngoài, đời làm quan của Đào Tấn đáng xem là hết sức viên mãn dù cũng lắm thăng trầm.

Thế nhưng, nếu xem thơ và từ của Đào Tấn như cuốn nhật ký tâm hồn ông như nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu, thì trong tâm hồn của vị quan đầu triều, đầu tổng ấy, đời hoạn lộ, chốn triều trung chỉ là chốn bụi lầm, ô trọc, nơi đầy rẫy những “beo”, những “mọt”, mỗi khi tiếng “quan”, tiếng “thần” vang lên thì kèm theo đấy bao giờ cũng là những tiếng “thẹn”, tiếng “hổ” (Thẹn lắm nghe ai gọi cựu thần, So với nàng ta thẹn xiết bao, Ngồi già trên sông Hương/Thầm hổ với vầng trăng...). Suốt ba mươi năm làm quan, ông thượng quan “Mộng Mai” luôn cảm thấy cô đơn lạc loài vô hạn, luôn ôm một “hương mộng” và khắc khoải ngày đêm một mơ ước “hoàn hương”, để được rời xa chốn dối gian nhơ nhuốc, chốn hang hùm nọc rắn đó.

Tuy trong một câu đối tặng bạn thời bắt đầu bước “hoạn lộ”, Đào Tấn từng nói rằng mình vào triều chỉ vì “cơm áo nuôi mẹ già”, nhưng giới sĩ phu đương thời ca ngợi rằng Đào Tấn làm quan không hề vì danh lợi mà chỉ để thi thố chí lớn. Quả thật, nếu không có cái chí lớn ấy thì có lẽ không gì giữ chân được Mộng Mai tiên sinh ở lại chốn quan trường. Cũng như Cao Chu Thần, con người chỉ biết cúi đầu trước hoa mai, Đào Tấn, con người mang giấc mộng hoa mai, là những con người hành động, tranh đấu, tuy mỗi ngươi một hoàn cảnh khác nhau, một con đường khác nhau.

Tâm hồn Đào Tấn cũng tràn đầy một “hùng tâm”, một niềm tự hào dân tộc lớn lao, một ý chí cứu nước cháy bỏng. Ông từng viết “Cự Bắc bình Tây kim cổ chấn/Tứ phương danh động ngã Tiên Long”(Dẹp Bắc, bình Tây chấn động kim cổ/bốn phương vang danh nòi giống Tiên Rồng),“Bạt kiếm khiêu đăng đối tửu ca/Tâm trung duy ái ngã sơn hà/Anh hùng mỗi độc ngô Nam sử/Thùy bất thâm thù Phú Lăng Sa? (Tuốt gươm, khêu cao ngọn đèn, nhìn chén rượu mà hát/lòng ta chỉ yêu núi sông ta/anh hùng mỗi lần đọc sử nước Nam, ai không thâm thù giặc Pháp) và “Thủ vãn sơn hà tâm vị tử/thân kỳ Cơ Vĩ khí do sanh” (tay giành lại sơn hà lòng chăng chết/ thân gửi sao Cơ sao Vĩ khí tiết còn sinh sôi mãi).

Nếu Cao Chu Thần đoạn tuyệt quan trường, dựng cờ khởi nghĩa, khi sa cơ vẫn ngẩng cao đầu trên đoạn đầu đài thì Đào Tấn vẫn ở lại triều làm quan. Các sĩ phu đương thời coi ông là “kẻ ở ẩn tại triều”, kiểu “đại ẩn” đầy hy sinh của một nhân cách lớn. Quả thật, Đào Tấn sẵn lòng chịu bao nhục nhã tai tiếng với người đương thời và cả hậu thế, ở lại bên vị vua trẻ Thành Thái trong một kế hoạch bí mật phục quốc, liên kết các văn thân, sĩ phu Nam Bắc, tạo điều kiện hoạt động cho những nhân tài cứu nước và âm thầm làm một thứ tuồng hát nghệ thuật cao cường tố cáo lũ cướp nước và bọn tay sai bán nước, luyện đức hy sinh, luyện chí anh hùng, cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân.

Không được làm một đoá mai giữa đất trời thanh sạch, con người mang hiệu Mộng Mai ấy đã lặng lẽ làm một đoá mai giữa chốn bụi lầm. Giữa đám tham quan ô lại, ông ngời sáng một đức thanh liêm, trọn đời tay trắng thanh bần. Giữa rất nhiều danh sĩ bó gối xuôi tay, tuyệt vọng, con người “Thậm cảm hưng vong chuyện nước nhà” ấy vẫn sẵn sàng “Vì vương mang gánh nghĩa gánh tình/phải lịu địu tay bồng tay ẵm”, âm thầm và quyết liệt hành động vì một bình minh tươi sáng cho non nước thân yêu sau đêm trường lạnh cóng.

Chính nhờ thế, giữa thời buổi nhiễu nhương tủi nhục bậc nhất trong lịch sử đất nước, chúng ta đã có Đào Tấn vừa là một nhà yêu nước lớn vừa là một “nhân tài nghệ thuật đặc biệt” (chữ dùng của nhà thơ Xuân Diệu), bậc hậu tổ của nghệ thuật tuồng với những kiệt tác tuồng và thơ làm rung động lòng người, làm rạng danh dân tộc.
Những gì có thể làm cho nước non, cho nghệ thuật vì nước non, Đào Tấn đã làm và chính thế ông mới có thể hoàn toàn thanh thản để viết câu thơ “Trong sạch lòng thơ với nước non”.


Hơn một thế kỷ trước, ngày Đào Tấn mất, các văn thân Nghệ Tĩnh đã gửi câu đối thành kính viếng ông: “Hiền tướng phong lưu, Hoan quận thập niên do truyền thảo/Danh viên tiêu tức, Lại Giang thiên lý ức hàn mai” (Vị tướng nhân ái phong lưu, mười năm ở Hoan quận đã để lại bao tác phẩm đáng truyền tụng/Tin buồn lan đi từ khu vườn danh tiếng, nhớ mãi cội mai khí tiết nơi sông Lại ngàn dặm).

Cội mai khí tiết sông Lại, có lẽ với Đào Tấn không gì thoả nguyện hơn khi được gọi như thế. Ông chỉ ước được hóa thành một đóa mai nhưng đã thực sự là cả một cội mai tuyệt đẹp, bất tử trong lịch sử dân tộc, trong tâm hồn mỗi chúng ta hôm nay./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}