Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Đào tạo, biểu diễn, tác phẩm múa Ballet ở Việt Nam

Nguyễn Quỳnh Lan (Trường CĐ múa VN) | Thứ Bảy, 05/10/2013 05:05 GMT +7
 
JPEG - 17.9 kb
Một cảnh trong vở Ballet kinh điển "Hồ Thiên nga"

Quá trình hình thành nghệ thuật múa Ballet Việt Nam

Ballet, loại hình nghệ thuật múa có nguồn gốc xuất xứ từ châu Âu cách đây hàng trăm năm. Vào giai đoạn khởi phát, múa Ballet được giới thượng lưu, quý tộc các nước Ý, Pháp, Anh, Đức, Nga…đánh giá rất cao, bởi tính thẩm mỹ, tôn vinh vẻ đẹp hình thể con người. Ngay từ thời phục hưng, Ballet đã tạo những dấu ấn to lớn trong đời sống văn hóa cung đình châu Âu, những đột phá mạnh mẽ về sự hoàn thiện kỹ thuật Ballet (đối lập với chuyển động tự nhiên của con người). Để tạo nên hệ thống kỹ năng đặc biệt, đòi hỏi diễn viên Ballet ngay từ nhỏ phải trải qua quá trình rèn luyện vô cùng gian khổ, chỉ như vậy mới thể hiện một cách hoàn hảo các động tác của Ballet. Trong biểu diễn Ballet, nữ Ballet gọi là ballerina, còn nam là ballet dancer (vũ công).

Sự xuất hiện múa Ballet ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX chủ yếu dành cho người Pháp (binh lính, thương gia…) và công chức ngoại quốc làm việc ở Bắc, Trung và Nam kỳ. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, Ballet chỉ tồn tại trong khối cộng đồng người nước ngoài (Pháp là chủ yếu) ở các đô thị lớn, vì người Việt có môi trường nghệ thuật dân gian bản địa vô cùng đặc sắc, phù hợp với truyền thống giá trị văn hóa tinh thần, do đó múa Ballet không mở rộng ra được, điều này là sự hạn chế nhất định cách thưởng thức ngôn ngữ múa kinh điển châu Âu lúc bấy giờ.

Sau khi hòa bình lập lại, từ năm 1954 Đảng và nhà nước ta đã cử những nghệ sỹ đầu tiên học chính quy chuyên ngành múa Ballet, múa cổ điển tại Bắc Kinh- Trung Quốc. Đây là thế hệ đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật múa châu ở Việt Nam như: NSND Đoàn Long, NSND Thái Ly, NSƯT Hoàng Châu, NGƯT Hoàng Điệp, NSƯT Hồng Linh, Sa Kim Đoá, Đinh Thị Yến, Bùi Đức Trực, Ngiêm Chí.

Trước năm 1959, các chuyên gia Triều Tiên sang Việt Nam giảng dạy một số khóa học ngắn hạn về múa ballet cho diễn viên các đoàn nghệ thuật như: Chu Huệ Đức, Kim Tế Hoàng, Hoàng Châu…tuy vậy, chủ yếu giới thiệu, làm quen múa Ballet. Sau khi trường Múa Việt Nam được thành lập năm 1959, múa Ballet trở thành môn học chính quy, có hệ thống, bài bản. Toàn bộ chương trình, giáo trình, trực tiếp giảng dạy, phụ trách ôn luyện… do chính thế hệ giảng viên đầu tiên học ở Trung Quốc phụ trách. Đây chính là những viên gạch làm nền tảng, cơ sở vững chắc cho nghệ thuật múa Ballet ở Việt Nam hình thành và phát triển. Trong giai đoạn này, nhiều nghệ sĩ múa Việt Nam được cử đi học ở Liên Xô như: Xuân Định, Minh Tiến, Trần Đình Quỳ, Công Nhạc, Kim Quy, Kim Dung, Thu Nguyệt, Quốc Cường, Thanh Thuỷ, Văn Hoè, tiếp theo là Trịnh quốc Minh, Vũ Dương Dũng, Vương Linh, Đặng Hùng, Đặng Sơn. Ngoài ra còn có đội ngũ các chuyên gia Liên Xô như G.Brunăk, Mustaiép, IBrahim, Kulbubu. Đến những năm 80 thế kỷ XX có Vladimia Pak và M.Kap sang Việt Nam truyền dạy kỹ thuật, biên đạo, dựng tác phẩm múa Ballet. Sau khi những học sinh thời kỳ đầu của trường múa Việt Nam học đại học chuyên ngành huấn luyện tại Liên Xô trở về, họ hoà vào thế hệ giảng viên thứ hai của Trường múa Việt Nam, đem lại cho trường múa Việt Nam kho tàng tri thức hoàn hảo, tỉ mỉ, cập nhật và khoa học. Điều này giúp sinh viên học tập dễ dàng, các giảng viên biết vận dụng trong thực tiễn công việc giảng dạy bộ môn múa Ballet. Từ quá trình lên lớp, dạy và học được chuẩn hóa, quy củ, nội dung chương trình phong phú, thường xuyên được cải tiến.Nhiều phương pháp giảng dạy mới được áp dụng và hoàn thiện nhằm phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trong thế hệ giáo viên thứ hai này luôn có sự giao thoa kiến thức ngành nghề, trao đổi học tập giữa người được học hành cẩn thận với người chưa có điều kiện. Thế hệ giảng viên thứ hai có công đào tạo nhiều thế hệ diễn viên cho các nhà hát, đoàn nghệ thuật trong cả nước. Nhiều học sinh trong số đó tiếp tục được cử đi học tại trung tâm đào tạo về múa trên thế giới, bổ sung tiếp tục vào danh sách giảng viên (thế hệ thứ ba) của trường múa Việt Nam.

Sau năm 1975, nhiều thế hệ học sinh được cử đi học ở nước ngoài, trong đó chủ yếu là ở Nga (Liên Xô cũ). Liên Xô không chỉ đào tạo cho Việt Nam về huấn luyện, biên đạo múa mà còn đào tạo liền mấy khoá diễn viên. Sau khi về nước, một số diễn viên trở thành múa chính tại các nhà hát vũ kịch trong nước như Trúc Quỳnh, Thảo Dung, Quỳnh Như, Phương Lịch…

Thập niên 80 thế kỷ XX đánh dấu thời kỳ thành lập khoa Múa của trường đại học Sân khấu Điện ảnh, nhận trọng trách đào tạo giảng viên múa Ballet trình độ đại học. Ba giảng viên tu nghiệp ở Liên Xô gồm Nguyễn Thị Hiển, Trương Lê Giáp, Trần Đình Quỳ góp phần lớn công sức đào tạo những biên đạo múa trình độ đại học. Khoa múa áp dụng những kiến thức nghề của Liên Xô cũ với hệ thống lí luận kết hợp với những nguyên tắc trong thực tiễn, vừa mang tính kinh điển đồng thời thích hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tiếp sau đó, các trường như: đại học văn hoá nghệ thuật Quân đội, trường Cao đẳng múa việt Nam, đã liên tục mở các khóa trình độ cao đẳng Ballet, gần đây là khóa học chuyển đổi từ cao đẳng lên đại học chuyên ngành huấn luyện múa Ballet. Điều này cho thấy nhu cầu về đào tạo múa Ballet ở trình độ cao là bước phát triển tất yếu của sân khấu múa, trong đó trường cao đẳng múa Việt Nam đóng vai trò quan trọng.

Hiện nay, thế hệ thứ ba của trường cao đẳng múa VN là những giảng viên được đào tao chính quy, bài bản chuyên ngành huấn luyện múa bậc đại học ở ngoài nước như: Vũ Dương Dũng, Trịnh Quốc Minh, những giảng viên có trình độ cao, là tấm gương cho thế hệ sau. Thế hệ đang nối tiếp là đội ngũ giảng viên trẻ: Vũ Anh Quân, Hải Minh, Cao Chí Thành, Phương Duy, cô Minh Hà,Thu Hồng, Quỳnh Lan, Ly Ly, Minh Ngọc, Thanh Hương. Tất cả được đào tạo chính quy đúng chuyên ngành trong nước và quốc tế như Nga, Pháp, Hồng Kông… Đây là thế hệ trẻ tuổi, có lòng nhiệt tình, hăng say, dám nghĩ, dám làm, tư tưởng sáng tạo, luôn say mê học hỏi nâng cao trình độ, tạo nên ấn tượng tốt, chiếm được lòng tin của thế hệ đi trước. Tuy vậy, cần tránh những nhược điểm như quá tự tin, muốn khẳng định cái tôi nên dễ lạc hướng. Hiện nay cùng với nhiều cơ sở đào tạo chính quy Ballet trong cả nước, trường cao đẳng múa Việt Nam đang sẵn sàng chuẩn bị để bước sang trang sử mới.

Nửa thế kỷ của ngành múa Việt Nam nói chung và múa Ballet nói riêng là chặng đường từ tiếp nhận đến định hình, phát triển. Đây là khoảng thời gian không dài nếu so với nghệ thuật múa thế giới, nhưng cũng không ngắn đối với Việt Nam, đất nước vừa trải qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại. Đã đến lúc cần tự khẳng định về trình độ nghệ thuật múa Ballet Việt Nam đối với các nước trong khu vực Đông Nam Á, xa hơn là Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Trung Quốc…những đất nước có nền nghệ thuật múa Ballet có điều kiện phát triển hơn.

Trên đây là một số dẫn giải sơ lược sự hình thành, phát triển nghệ thuật múa Cổ điển châu Âu (Ballet) từ thế giới đến với Việt Nam. Ở nội dung tiếp theo, người viết trình bày một số cơ sở đào tạo và nhà hát biểu diễn, và nhìn lại những tác phẩm Ballet ở Việt Nam.

Trường cao đẳng múa Việt Nam- chiếc nôi đào tạo múa Ballet ở Việt Nam

Ngày 25 tháng 10 năm 1959, trường múa Việt Nam được thành lập theo quyết định 153-VH/QĐ của Bộ Văn hoá- Thông tin với nhiệm vụ: Đào tạo và bổ túc nâng cao trình độ cho cán bộ, diễn viên múa để cung cấp cho các ngành, các địa phương, đáp ứng yêu cầu phục vụ chính trị, phục vụ nhân dân trong giai đoạn Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Miền Nam. Trên 50 năm (từ năm1959 đến nay), trường múa Việt Nam trở thành cánh chim đầu đàn của nền nghệ thuật múa. Nhiều thế hệ diễn viên, biên đạo, huấn huyện múa ra trường và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử giao phó. Trong giai đoạn 1959-1975, những nghệ sĩ, diễn viên múa xung phong vào miền nam phục vụ chiến sĩ, đồng bào. Bằng chính tài năng, những nghệ sĩ múa luôn thấm nhuần tử tưởng của Bác Hồ văn hóa cũng là mặt trận, anh chị em cũng là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Bằng tình yêu, những diễn viên/chiến sĩ múa đã dựng nên nhiều tác phẩm múa cổ vũ tinh thần yêu nước, tấm gương chiến đấu anh dũng hy sinh của bộ đội cụ Hồ, của nhân dân 2 miền Nam, Bắc niềm tin vào thắng lợi giành độc lập, thống nhất non sông.

Sau ngày giải phóng (1975), trường múa Việt Nam trải qua những khó khăn chung của đất nước trong chế độ bao cấp, sau đó thích ứng dần với cơ chế đổi mới. Sự bền bỉ, nhẫn nại sẵn sàng vượt qua gian khổ để đào tạo, ngày 05/04/2001 căn cứ theo quyết định 164/QĐ-BGDĐT-TCCB của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường múa Việt Nam nâng cấp, đổi tên gọi là trường cao đẳng múa Việt Nam với nhiệm vụ được giao Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn trên lĩnh vực nghệ thuật múa. Nghiên cứu khoa học phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây là sự thay đổi cơ bản nhất trong suốt quá trình phấn đấu trên 50 năm theo xu thế phát triển chung của đất nước, khẳng định được vị trí hàng đầu trong huấn luyện, đào tạo tài năng nghệ thuật múa ở Việt Nam.

Hiện nay (năm 2013) trường có trên 400 học sinh, sinh viên (HSSV) đang học tại các chuyên ngành: Cao đẳng biên đạo múa (3 năm), Cao đẳng huấn luyện múa (3 năm), Trung cấp diễn viên biểu diễn kịch múa (6 năm), Trung cấp diễn viên biểu diễn múa dân gian dân tộc (4 năm, 3 năm, 2 năm). Ngoài yêu cầu bắt buộc hoàn thành kiến thức văn hoá (tốt nghiệp PTTH), HSSV ngành múa được học các môn lý luận, âm nhạc một cách cơ bản nhất. Hệ thống cơ sở vật chất, phòng học, phòng tập của trường hoàn thiện đầy đủ tiện nghi hướng đến tính tích cực, chủ động học tập của tất cả HSSV trong trường. Đồng thời, hàng năm đại đa số HSSV của trường tham gia vào những chương trình biểu diễn nghệ thuật lớn của ngành, của đất nước. Đây là cơ hội để các em tăng cường thực hành bài học một cách tốt nhất, rút ra nhiều kinh nghiệm, phong cách biểu diễn chuyên nghiệp. Nhiều thí sinh của trường ôạt giải cao trong các cuộc thi tài năng trong nước và quốc tế là minh chứng cụ thể cho chất lượng đào tạo của nhà trường như:

- Cao Chí Thành đoạt giải Tư cuộc thi Ballet Quốc Tế tổ chức tại Phần Lan năm 2005.

- Nguyễn Quỳnh Lan đoạt giải Nhất cuộc thi Tài năng biểu diễn nghệ thuật múa Toàn quốc năm 2002.

- Nguyễn Tuyết Minh đoạt giải Nhì cuộc thi Tài năng biểu diễn nghệ thuật Múa Toàn quốc năm 2002.

- Lê Minh Thu đoạt giải Nhì cuộc thi Tài năng biểu diễn nghệ thuật Múa Toàn quốc năm 2002.

- Cao Đức Toàn đoạt giải A cuộc thi Tài năng biểu diễn nghệ thuật Múa Toàn quốc năm 2008.

- Nguyễn Mạnh Hùng đoạt giải B cuộc thi tài năng biểu diễn Nghệ thuật Múa Toàn quốc năm 2008.

- Phạm Ngân Huyền đoạt giải C cuộc thi Tài năng biểu diễn nghệ thuật Múa toàn quốc năm 2008…

Không chỉ phát hiện, nuôi dưỡng các tài năng biểu diễn, nhà trường còn tích cực phối hợp, liên kết cộng tác với các nhà hát, đoàn múa trong, ngoài nước để biểu diễn nhiều chương trình giao lưu, trao đổi văn hoá. Từ những hoạt động nghề đã xuất hiện nhiều diễn viên, biên đạo trẻ rất tài năng.

Trong suốt chặng đường phát triển, cán bộ, giáo viên, học sinh trường cao đẳng múa Việt Nam từng bước trưởng thành, góp phần thúc đẩy chuyên môn ngày càng cao. Hiện nay qui mô đào tạo của trường đang được mở rộng, chất lượng đào tạo được chuẩn hóa, những HSSV sau khi tốt nghiệp đã và đang phát huy có hiệu quả trên các cương vị công tác khắp mọi miền tổ quốc. Đây là sự đóng góp không nhỏ cho sự hình thành, lớn mạnh của nhiều đơn vị nghệ thuật múa chuyên nghiệp trong cả nước, đồng thời khẳng định là cơ sở đào tạo chủ lực đóng góp vào sự hình thành, phát triển nền nghệ thuật múa Việt Nam hiện đại, giàu bản sắc dân tộc.

Một số tác phẩm kịch múa tiêu biểu ở Việt Nam

Sau đại hội văn hóa toàn quốc năm 1048, những đoàn nghệ thuật đầu tiên ở chiến khu Việt Bắc như đoàn nghệ thuật chuyên nghiêp Văn công nhân dân trung ương và đoàn văn công quân đội được thành lập. Tiếp đến là nhiều đoàn nghệ thuật khác trong cả nước ra đời, đánh dấu tuổi đầu tiên của nền nghệ thuật múa chuyên nghiệp Việt Nam. Lúc bấy giờ chưa có múa Ballet mà chỉ có múa dân gian cổ truyền.

Với lịch sử Kịch múa sân khấu Việt nam, từ năm 1950 đã có tác phẩm Lục tuần đại khánh do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác âm nhạc nhân dịp chúc mừng sinh nhật lần 60 của Bác Hồ. Thật ra đó mới chỉ là một cảnh ca múa nhạc. Năm 1960 được biên đạo Thái Ly dựng lại thành tổ khúc thơ múa, âm nhạc chủ yếu là những ca khúc và được giới thiệu là kịch múa ngắn thời bấy giờ. Tuy nhiên xét trên khía cạch chuẩn mực thì tác phẩm vẫn không thể xem là kịch múa bởi quy mô tầm vóc và bản chất tác phẩm vẫn mang nặng hình thức ca múa nhạc.

Đến năm 1960, kỉ niệm 30 năm thành lập Đảng Lao Động Việt Nam, nay là Đảng Cộng Sản Việt Nam và 15 năm Quốc Khánh, chuyên gia Triều Tiên Kim Tế Hoàng chỉ đạo cho 2 nhóm biên đạo: lớp biên đạo của cục tuyên huấn Tổng cục Chính trị dựng vở kịch múa dân tộc VN đó là vở ngọn lửa Nghệ Tĩnh, đề tài cách mạng về cuộc khởi nghĩa vô sản đầu tiên. Đoàn ca múa nhân dân trung ương thì dựng vở Tấm Cám, đề tài lấy từ chuyện cổ tích dân tộc. Trong giai đoạn đầu tiên đó, hai vở kịch múa đầu tiên ấy đã được sự tiếp nhận của nhân dân. Sau này, đến năm 2000, hai tác phẩm được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Ngọn lửa Nghệ Tĩnh là công trình sáng tạo tập thể của nhiều nhạc sĩ: Lương Ngọc Trác, Huy Thục, Nguyễn Thành… cùng các biên đạo múa: Trần Minh, Minh Tiến, Ngọc Canh, Ngọc Minh, Bùi Tòng, Thành Đức, Ngọc Hân… Các nhạc sĩ phân công viết từng đoạn rồi ráp lại, sửa chữa lúc dàn dựng. Tác phẩm có phần âm nhạc qui mô, hoành tráng và phong phú. Sau nhiều lần biểu diễn, Ngọn lửa Nghệ Tĩnh đã được các đoàn nghệ thuật quân đội tập trung nâng cao chất lượng và quay thành phim. Đây cũng là bộ phim đầu tiên về nghệ thuật Ballet của Việt Nam.

Vở Tấm Cám là một vũ kịch dân tộc dựa trên chuyện cổ tích cùng tên. Âm nhạc của Tấm Cám mang nhiều âm hưởng của Chèo Bắc bộ. Vở diễn đã cố gắng thoát ra khỏi những cách diễn của sân khấu truyền thống để làm rõ nét một hình thức thể loại mới du nhập – ballet.

Những thành công của Ngọn lửa Nghệ Tĩnh và Tấm Cám đã khích lệ tinh thần các nhạc sĩ, biên đạo múa để họ tiếp tục sáng tạo ra những kịch múa đều đặn trong suốt thập niên 60.

Một số Đoàn dựng kịch múa ngắn như Theo ngọn cờ giải phóng của cố NSND Xuân Cống và cố nghệ sỹ Đức Thuận.

Năm1962 NSND Thái Ly dựng kịch múa dân tộc đầu tiên Bả khó. Đề tài dân tộc nhưng sử dụng nhiều chất liệu múa ballet kết hợp với chất liệu dân gian Thái. Đây là một vở kịch múa đúng nghĩa của nó, đánh dấu sự phát triển của kịch múa Việt Nam.
Đoàn Công an Nhân dân vũ trang nay là Đoàn nghệ thuật bộ đội biên phòng được NSND Trần Minh dựng vở kịch múa dân tộc Rừng thiêng núi nhớ ca ngợi anh hùng lực lượng vũ trang Trần Văn Thọ đã hy sinh ở miền núi Tây Bắc.

Đoàn ca múa Hà nội nay là Nhà hát thăng Long dựng vở Chuyện ông Gióng của biên đạo múa Trần Lệ Cung.

Trường múa VN dựng vở Bà mẹ Miền Nam của cố NSND Thái Ly

Kịch múa lúc đó có nhiều vở hay lẫn không hay nhưng đã ghi nhận được sự nỗ lực của anh em văn nghệ sỹ vì nghề nghiệp hết mình trong bối cảnh dất nước còn chiến tranh, lạc hậu.

Ngay từ những năm sáu mươi, nhiều chuyên gia Liên Xô đã sang Việt Nam dàn dựng các trích đoạn và vở diễn nổi tiếng như Người đẹp ngủ trong rừng, Hồ thiên Nga, Spactacus, cô tiểu thư và tên du đãng cho nhà hát giao hưởng hợp xướng nhạc vũ kịch Việt Nam.

Sau khi NSND Xuân Định học ở Liên Xô về, ông dựng ba vở Trên dòng Hương Giang, Chị Sứ và vở Cây đèn biển theo phong cách Ballet Nga.

Sau giải phóng, NSND Xuân định tiếp tục dựng vở Sơn Tinh Thuỷ tinh và Chiến thắng mùa hoa đào. Hai vở này đã khai thác đề tài dân tộc, kết cấu vẫn chịu ảnh hưởng của ballet cổ điển Nga.

Mặc dầu trong kháng chiến còn nhiều gian khó, chưa thật có nhà hát Ballet chuyên nghiệp, chỉ có một Nhà hát giao hưởng hợp xướng nhạc Vũ Kịch nhưng ballet được hào hứng đón nhận. Các đoàn tuy còn yếu về chất lượng chuyên môn nhưng vẫn gồng mình lên, cố gắng dựng được ballet.

Từ đầu thập niên 70, các vở kịch múa bắt đầu vắng bóng. Tuy thời điểm này chúng ta có rất nhiều biên đạo múa giỏi như Thái Ly, Đặng Hùng, Phùng Nhạn, Y Brơm, Xuân Định, Trần Minh, Lệ Cung…và rất nhiều nhạc sĩ sáng tác có khả năng viết nhạc cho kịch múa. Suốt thập niên 70, 80, lác đác một vài kịch múa như Hồ Gươm(Trần Đình Quỳ, Cao Việt Bách), Cánh chim biên giới (Minh Tiến, Nguyễn Đình Tích), Ăngco bất diệt (Lê Huân, Phan Ngọc). Năm 1985, đoàn ca múa Thanh Hoá dựng vở Đốm lửa hang treo (Xuân Định, Đàm Linh), như là một cánh én lẻ loi đặt dấu chấm hết cho một thể loại đã có thời vàng son.

Mãi đến giữa thập niên 90 thế kỷ XX, kịch múa bắt đầu khởi sắc trở lại. Chúng ta thấy xuất hiện một số vở như: Vĩnh biệt hoa Anh Túc (Hoàng Hải, Vũ Duy Cương), Bông lau trắng (Ứng Duy Thịnh, Minh Quang, An Thuyên, Đặng Hùng).

Năm 1997, thành phố Hồ Chí Minh thành lập Nhà hát giao hưởng Vũ kịch thành phố Hồ Chí Minh. Đã dựng các vở: Gisel, một số màn trong vở Hồ Thiên Nga, Thằng gù nhà thờ Đức Bà, Ngọc trai đỏ (Việt Cường). Năm 1999 dựng vở Lục vân tiên – Kiều Nguyệt Nga (Việt Cường) Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam dựng các vở: Huyền thoại Mẹ của NSND Công Nhạc; Hồng hoang của NSƯT Bằng Thịnh Trường đại học văn hoá nghệ thuật Quân đội dựng Nhật ký trong tù- kịch bản của NSƯT Vũ Lân, do nhóm biên đạo lớp Cao đẳng biên đạo múa khoá 2 và 3 dựng.

Một thể loại bước vào thời được gọi là hoàng kim từ thập niên 60, chưa đạt được một thành tựu gì quan trọng đã sớm lụi tàn và khởi sắc trở lại vào những năm cuối của thập niên 90. Sau đó chúng ta lại tiếp cận với trào lưu múa Ballet hiện đại Úc, Pháp, Cuba, Thuỵ Điển, Hồng Kông…, đã bắt đầu nghĩ tới một nền Ballet Việt Nam có nội hàm dân tộc và hiện đại. Những tác phẩm do Nhà hát Nhạc vũ kịch dàn dựng thời gian gần đây có những bứt phá để thích nghi với thời đại và phù hợp với nhu cầu xã hội mới trong khi vẫn cố gắng hết sức giữ gìn ngôi đền thiêng của nghệ thuật Ballet cổ điển. Việc chúng ta xây dựng một nền nghệ thuật Ballet Việt Nam giàu tính đương đại kết hợp với các yếu tố dân tộc sẽ là một hướng đi đúng đắn. Sự kết hợp đó sẽ mang lại những tác phẩm Ballet hiện đại với đề tài gần gũi, dễ xem, dễ cảm nhận.

Kết luận

Ballet có nguồn gốc xuất xứ ở Ý và được nâng tầm phát triển tại Pháp rồi đến Nga và lan tỏa rộng khắp thế giới với vị trí là đỉnh cao của Nghệ thuật Múa. Ballet được du nhập vào Việt Nam từ thập niên 60, được đón nhận và hết sức trân trọng. Suốt 50 năm qua, Việt Nam đã định hình xây dựng được bộ môn nghệ thuật này trở thành hệ thống chính quy được đào tạo tại các trường múa chuyên nghiệp trong cả nước. Đến nay đã đào tạo được 40 khóa học sinh hệ diễn viên kịch múa (6 – 7 năm). Đó là nguồn nhân lực chủ yếu cho hai Nhà hát vũ kịch duy nhất ở hai đầu đất nước: Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam và Nhà hát giao hưởng nhạc vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh. Trong suốt chặng đường dài định hình và phát triển Ballet tại Việt Nam, ngành múa Việt Nam đã có được những thành công ban đầu đặc biệt là ở thập niên 60 - được gọi là thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật múa, trong đó Ballet là một dấu son đỏ chói. Tuy nhiên, thời gian không ngừng trôi, vạn vật cần phát triển theo chiều tỉ lệ thuận. Nhưng Ballet tại Việt Nam đã có những khoảng “chững” mà đến bây giờ là thời điểm cần nỗ lực xóa mờ đi khoảng thời gian bị “chững” lại đó, để đuổi kịp với Ballet khu vực, châu lục và thế giới. Công việc cần phải thực hiện cho nhiệm vụ cao cả này là quá nhiều, nhưng chúng ta cần bình tĩnh xác định lại một cách khách quan nhất điểm hiện tại và điểm cần phải đến, để tìm những giải pháp thiết thực thông qua nghiên cứu, lập luận có hệ thống mang tính khoa học, nhằm từng bước đưa nghệ thuật Ballet của nước nhà bước sang giai đoạn “hoàng kim” mới.


Tiếng Việt
1. IU.A.BAKHUSIN. 2002. Lịch sử kịch múa Nga. Viện Sân khấu – Trường ĐH Sân khấu và Điện ảnh Hà nội. Người dịch: Trương Lê giáp.
2. B.COSTRAVITTAKAIA – A.PISAREP. 1995. Múa Cổ điển Châu Âu. NXB Văn hóa Thông tin Hà nội. Người dịch: Trương Lê Giáp. 
3. LÊ NGỌC CANH. 2002. Đại cương nghệ thuật múa. NXB Văn hóa Thông tin Hà nội.
4. LÊ NGỌC CANH. 2006. Nghệ thuật múa Thế giới. NXB Văn hóa Thông tin – Trường Cao đẳng Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiếng Anh 
5. GRETCHEN WARD WARREN. 1989. Classical ballet technique.
6. JANICE BARRIGER, SARAH SCHLESINGER. 1997. The point.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}