Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Dấu ấn người Thăng Long trong công cuộc khẩn hoang tại đảo Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh

Phạm Thị Thu Hà | Thứ Hai, 30/11/2015 14:46 GMT +7
Từ lâu, người ta thường nói nhiều đến dân các miền hội tụ về Thăng Long - Hà Nội, ít nói dân Thăng Long - Hà Nội di cư. Tuy nhiên, trong lịch sử đã ghi nhận nhiều đợt di cư của dân Thăng Long – Hà Nội. Một trong số đó là việc người Thăng Long đến khai phá lập nghiệp vào TK XV trên vùng đảo Hà Nam hoang sơ của trấn An Bang (thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh ngày nay). Trải qua gần 600 năm, với vị thế địa lý đặc biệt của mình, cư dân đảo Hà Nam vẫn luôn bảo tồn, lưu giữ những dấu ấn văn hóa cổ truyền của người dân Thăng Long – Hà Nội, của vùng đất kinh kỳ.
 
Khái quát về vùng đảo Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh
 
Quảng Yên là thị xã ven biển nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh. Phía Bắc giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ. Phía Nam giáp đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu. Phía Đông giáp thành phố Hạ Long. Phía Tây giáp huyện Thủy Nguyên của thành phố Hải Phòng.
 
Địa hình chủ yếu của thị xã Quảng Yên là đồng bằng và bãi bồi ven biển có xen lẫn đồi núi thấp của những dãy núi cánh cung Đông Triều chạy ra biển. Toàn bộ Quảng Yên gần như nằm trọn về phía một nửa đồng bằng bồi tích của sông Bạch Đằng mà nửa kia thuộc về Hải Phòng. Nhìn chung, địa hình thị xã Quảng Yên được chia làm 2 vùng có diện tích gần tương đương nhau là Hà Nam và Hà Bắc với sông Chanh làm ranh giới.
 
Vùng Hà Nam là vùng có địa hình đồng bằng thấp được bồi đắp bởi phù sa của hệ thống sông Thái Bình. Đảo Hà Nam trước kia là một vùng đất bãi triều âm u, dưới rừng sú vẹt, trên cửa sông Bạch Đằng, thuộc trấn An Bang, phủ Hải Đông. Vùng đất này là cả một pho truyền tích về một thời lấn biển, khai hoang của những cư dân Thăng Long đầu TK XV.
 
Các nhóm cư dân Thăng Long khai phá vùng đảo Hà Nam, Quảng Yên - Quảng Ninh
 
Đảo Hà Nam của thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xưa kia là một bãi triều lớn ở cửa sông Bạch Đằng. Khi nước triều lên, cả bãi bồi ngập nước mênh mông. Vào đời vua Lê Thái Tông, niên hiệu Thiệu Bình (1434) đến thời vua Lê Hiến Tông (1498 - 1504), có nhiều nhóm dân cư ở kinh thành Thăng Long và vùng đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình đến vùng đất này quai đê lấn biển, khẩn hoang đất đai lập làng, tạo nên khu đảo Hà Nam trù phú như ngày nay. Những người có công đầu tiên mở đất lập làng được nhân dân trong vùng gọi là tiên công. Các nhóm tiên công khai khẩn Hà Nam năm 1434 theo 2 phương thức: khai canh tập thể, tức là nhiều gia đình hợp lại cùng quai đê lấn biển lập làng, ruộng đất chia đều cho từng suất đinh tham gia khai khẩn, 3 năm đổ chương chia lại ruộng đất; khai canh theo kiểu thủ lĩnh, tức là các Tiên công chiêu mộ mọi người, chỉ huy họ quai đê lấn biển lập làng. Khai canh theo phương thức tập thể được thực hiện bởi 17 vị tiên công, là người cùng quê ở phường Kim Hoa (nay là phường Kim Liên), huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, phía nam thành Thăng Long. Họ là những người lao động, những kẻ sĩ, sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp và đánh cá ven hồ, ven sông Kim Ngưu ở Thăng Long. Về lý do di cư lập nghiệp từ Thăng Long về vùng đảo Hà Nam, Quảng Ninh, theo gia phả họ Nguyễn Thực, Nguyễn Nghệ (là gia phả sớm nhất ở xã Yên Hải viết lại vào thời Cảnh Hưng (1740-1786)) thì năm 1434, để xây dựng đất nước, vua Lê Thái Tông (1434-1442) tiếp tục mở rộng kinh thành Thăng Long, hạ chiếu khuyến dân dời đi chỗ khác làm ăn sinh sống, đi đến đâu được phép thấy đất hoang thì khai khẩn, lập nên làng mạc đến đó. 17 vị tiên công đã rủ nhau cùng xuôi thuyền dọc sông Hồng, qua sông Bạch Đằng, đến cửa biển trấn An Bang thì gặp bãi sú vẹt rừng ngập mặn, đã đắp đê, khai khẩn đất hoang, lập nên hương ấp đầu tiên. Rồi từ Hà Nam trở về, các tiên công đưa họ hàng cùng gia quyến đi thuyền xuôi dòng sông Hồng, qua sông Luộc về phía vùng biển Hải Phòng ra Quảng Ninh. Theo bằng sắc Khải Định thứ 9 (1925), các tiên công khi mới đặt chân xuống đây đã có 5 người là Quốc Tử giám sinh và 3 người đỗ Hiệu sinh.
 
Vào khoảng năm 1434 - 1442, ở ấp Trà Lũ, tổng Đại Hoàng, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương có các họ: Hoàng, Vũ, Trần, Nguyễn gốc từ Thăng Long lánh nạn Hồ Quý Ly về sinh tụ tại Trà Lũ, lập các làng Văn Lang, Vũ Lăng, Trà Lũ, Đại Hoàng, Tiểu Hoàng. Họ Hoàng là một họ lớn trong vùng. Cũng vào khoảng năm Thiệu Bình, các phủ ven biển là Nam Sách, Giáp Sơn, Thái Bình, Kiến Xương nước lên, đê ngăn bị vỡ, lúa bị ngập, dân chết đói nhiều. Các huyện ở đầu nguồn và ven biển thuộc Nghệ An cũng bị thủy tai. Bấy giờ tiên công Hoàng Kim Bảng, gốc họ Hoàng, ở tổng Đại Hoàng đã cùng với người em kết nghĩa là Đồng Đức Hấn, thấy vùng cửa sông Bạch Đằng có người kinh thành xuống quai đê lập làng trù phú, bèn chiêu tập người quai đê lấn biển khai lập thôn Vị Dương, sau thành xã Vị Dương theo phương thức khai canh có thủ lĩnh.
 
Cũng vào khoảng đời vua Thái Tông, niên hiệu Thiệu Bình, hai tiên công Đỗ Độ và Đào Bá Lệ chiêu tập người đến vùng đất phía đông xã Phong Lưu quai đê lấn biển, lập nên xã Lương Quy, sau này đổi thành xã Lưu Khê. Khoảng năm 1498 – 1504, hai anh em Tiên công Phạm Nhữ Lãm và Phạm Thanh Lảnh, quê ở Quang Lang, Hà Nam, Hải Dương cùng một số người quai đê lấn biển lập nên xã Hải Triều và xã Vị Khê (1).
 
Như vậy, trong bốn nhóm tiên công đến vùng đất này khai canh vào năm 1434 đến năm 1442, trừ nhóm tiên công Đỗ Độ và Đào Bá Lệ lập nên xã Lưu Khê là chưa rõ quê quán còn lại ba nhóm tiên công (21 vị) đều có gốc gác Thăng Long thành. Đặc biệt là nhóm 17 vị tiên công cùng với gia đình ra đi từ phường Kim Liên, Thăng Long đã thành lập nên xã Phong Lưu, là xã lớn nhất tại khu đảo Hà Nam thời bấy giờ. Qua gần 600 năm (1434 – 2015), vùng đất bãi triều hoang vu thời Hậu Lê đã xuất hiện những mảnh ruộng, những cánh đồng, 34 km đê biển kiên cố được lát mái kè đá, tường chắn sóng bao quanh, hàng trăm héc ta sông ngòi, đầm nước ngọt nuôi trồng thủy sản. Hà Nam có gần 6 vạn dân cùng hàng vạn người đã tỏa đi xây dựng các vùng kinh tế mới, đắp đê lấn biển, gieo cấy, đánh bắt, nuôi trồng thủy, hải sản và phát triển rất nhiều nghề phụ như vận tải sông biển, thợ nề, thợ mộc, đan lát, dạy học, buôn bán nhỏ, buôn bán đường dài, có hàng chục chiếc thuyền đinh cỡ lớn buôn bán trên các sông đồng bằng Bắc Bộ, Trung Bộ và tận Sài Gòn - Gia Định, nhiều tập đoàn tàu thuyền vận tải giao thương với các tỉnh đông nam Trung Quốc, có nhiều xưởng đóng và sửa chữa tàu thuyền trọng tải từ 100 – 2000 tấn.
 
Dấu ấn của văn hóa Thăng Long tại vùng đảo Hà Nam, Quảng Yên, Quảng Ninh
 
Thực tế ở vùng đảo Hà Nam cho thấy, đến nay, các thuần phong mỹ tục trong lễ nghi, hội hè, tang ma, cưới xin, trong ứng xử với thiên nhiên và cộng đồng làng xóm thuở xa xưa ở Thăng Long thành giờ vẫn còn nguyên vẹn ở xã Phong Lưu xưa (nay là phường Cẩm La, Phong Cốc, Phong Hải và Yên Hải) nơi cửa biển đông bắc của tổ quốc.
 
Tuy là vùng quê làng đảo, nhưng Hà Nam còn lưu giữ được tới 130 di tích lịch sử và văn hóa như hệ thống đình chùa, đền miếu, nhà thờ tổ các dòng họ, trong đó đã có 30 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh; nhiều lễ hội, nhiều vốn văn hóa dân gian, phong tục tập quán của làng Việt cổ liên quan đến các trang sử quốc gia, thành Thăng Long xưa vẫn đang được kế thừa, phát huy. Phong tục tập quán, văn hóa cổ truyền của người Hà Nam mang đậm dấu ấn của dân kinh thành xưa. Đó là tín ngưỡng, hội hè nơi đình trung: lễ minh niên, lễ đại kỳ phước, lễ kỵ ngày sinh, ngày hóa của thành hoàng, lễ chạp tổ và ra cỗ họ ở các từ đường để truy ơn tổ tiên, nhớ về cội nguồn nơi Thăng Long phát tích,... Tết cổ truyền, nét xưa của đất Hà thành vẫn được gìn giữ. Đi cùng với các tín ngưỡng đó là các nghi lễ tế tự, các trang phục đoàn tế lộng lẫy, các nghi thức cúng tế trang trọng.
 
Có nhiều ngôi đình cổ lớn và đẹp hiếm có của vùng đồng bằng Bắc Bộ cả về mặt kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc, hàng chục dòng họ sinh sống trong cộng đồng hầu hết đều có nhà thờ riêng, có 21 nhà thờ được cấp bằng di tích quốc gia. Vào các dịp Chạp tổ, họ đọc văn tế các dòng họ, nêu bật nguồn gốc thủy tổ của họ, để con cháu tự hào, kế thế, lưu giữ, truyền tụng rất nhiều câu đối, đại tự, bài thơ cổ về gốc tích như: “Cơ cừu thiệu tích tự Thăng Long. Kỷ niệm tiên công tứ xã đồng. Trúc hải thành điền lưu hậu đức. Khai cương lập ấp ngưỡng tiền công” (2).
 
Hà Nam có lễ hội tiên công, lễ hội xuống đồng được duy trì và phát triển, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa vùng miền. Lễ hội tiên công là một lễ hội rước người, tôn vinh tuổi thọ. Có thể nói đây là Lễ hội lớn nhất trong năm của cư dân Hà Nam. Các cụ ông, cụ bà thượng thọ 80 tuổi được rước bằng võng đào; 90 hoặc 100 tuổi thì rước bằng kiệu lên miếu tiên công ở phường Cẩm La vào ngày mồng 7 tháng giêng âm lịch hàng năm để bái yết tổ tiên.
 
Người Thăng Long chuộng học hành, vì vậy mỗi thôn làng nơi đảo Hà Nam đều có một văn từ để thờ Khổng Tử và những người học hành đỗ đạt, là nơi chăm lo cho việc học của làng. Các văn từ đều có bia lịch triều khoa bảng ghi những người đỗ đạt cho con cháu trong làng noi theo. Từ khi có trường học của phủ Sơn Định (năm 1849), văn từ của các làng xã nơi đây được tu bổ khang trang hơn. Các làng có người đỗ đạt, gọi là người hiền, được làng lập bia đá, khi mất được thờ phối ở văn từ. Các bậc khoa bảng được thờ cúng ở đây chia làm 3 hạng: hạng nhất là những người đỗ đại khoa (tiến sĩ) và những người làm quan từ tam, tứ phẩm trở lên, được thờ ban giữa, trước bài vị của Khổng Tử, Tứ phối và Thập triết tiên hiền; hạng nhì là những người đỗ trung khoa (cử nhân) và những người làm quan từ lục, thất phẩm trở lên, thờ ban bên trái; hạng ba là những người đỗ tiểu khoa (tú tài) thờ ở ban bên phải. Nhiều làng ở Hà Nam rất trọng về đường khoa mục, hễ có đỗ đạt mới được ghi vào bia người hiền ở văn từ, còn như chỉ làm quan thì dẫu đến tam, tứ phẩm mà không đỗ đạt cũng không được ghi vào văn bia.
 
Nhà ở vùng Hà Nam cũng là một đặc trưng văn hóa Thăng Long cổ xưa hiện hữu ở vùng cửa biển. Nhà gỗ kiến trúc kiểu ba gian hai chái; vì kèo kiến trúc theo kiểu có khóa giang nối các cột cái và cột quân, trên có chữ công đỡ hoành và thượng lương, nối đầu cột có kẻ chuyền, đầu bẩy; cửa chính có cửa giại che nắng; khuôn viên có nhà ngang, nhà bếp, sân gạch, tường hoa bó hè, vườn cây, cổng có mái lợp. Bài trí trong nhà có ngai thờ và bài vị thờ tổ tiên, các đồ thờ, câu đối, đại tự sơn son thiếp vàng khuyên dạy cháu con giữ gìn gia phong gia tộc, có hòm cái đựng bát đĩa phục vụ những ngày cúng giỗ.
 
Người Thăng Long đã hiện diện và khai phá vùng đất hoang ở đảo Hà Nam, Quảng Yên gần 600 năm. Họ có vai trò trung tâm, tiên phong trong công cuộc chống giặc, bảo vệ quê hương, đất nước. Điều quan trọng nữa là tại đây hiện còn bảo lưu khá nguyên vẹn văn hóa cổ truyền của người Kinh kỳ cách đây 600 năm. Văn hóa vật thể, phi vật thể của cư dân vùng đảo Hà Nam, nếu được bảo tồn, tôn tạo và phát huy sẽ phục vụ rất tốt cho du lịch về nguồn, cho hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Người Hà Nam ở Quảng Yên vẫn phát huy truyền thống mở đất xây dựng quê hương, truyền thống đấu tranh và văn hiến Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội.
_________________
 
1. Bùi Xuân Đính, Về số lượng vị tiên công ở khu Hà Nam trong những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1995, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1996.
2. Lê Đồng Sơn, Văn hóa Yên Hưng - di tích văn bia, câu đối, đại tự, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.
 

Nguồn: Tạp chí VHNT số 377, tháng 11-2015

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}