Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Đền thờ danh tướng Lý Phục Man ở thôn Ba Yên Sở huyện Hoài Đức

Thứ Ba, 28/10/2014 01:21 GMT +7
Trương Sĩ Hùng

Lý Phục Man – Một vị tướng tài đã có nhiều cống hiến, hy sinh vì độc lập dân tộc, vì đời sống dân sinh ở thế kỷ thứ VI, khi đi vào cõi vĩnh hằng  càng được mọi thế hệ người đời tôn vinh ghi nhớ. Mới đây, nhân dân Yên Sở đóng góp công đức, tiền của dựng lại đền thờ Người đã bị đổ nát từ trước thế kỷ XXI.

 
 Danh tướng Phạm Tu đã được lịch sử ca ngợi, đánh giá cao ngay từ khi ông còn tại thế. Sau khi ông qua đời, những truyền thuyết về ông ngày càng được sáng tác dân gian tôn vinh. Vị trí thành hoàng làng của ông đã được các triều đại phong kiến sắc phong công nhận, không chỉ với tư cách nhà nước; mà còn được lòng dân, phù hợp với tâm nguyện của dân nên hơn 1.500 năm sau vẫn giữ nguyên giá trị. Một con người đã từng có nhiều cống hiến, hy sinh vì độc lập dân tộc, vì đời sống dân sinh thì khi đi vào cõi vĩnh hằng  càng được mọi thế hệ người đời tôn vinh ghi nhớ. Song có lẽ do tài liệu thất lạc, hỏa hoạn chiến tranh, thời gian bào mòn đến mức hầu như các ngôi đền thờ Lý Phục Man đã và đang bị hư­ hỏng xuống cấp. Trong khoảng từ đầu năm Giáp Ngọ (2014) đến nay đền thờ tướng quân ở thôn 3, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã được toàn thể nhân dân đóng góp tiền của, vật liệu, công sức, với sự quan tâm chu đáo về mặt tinh thần của chính quyền địa phương.

    Phạm Tu với những danh xư­ng Đỗ Động tướng quân, Lý Phục Man tướng quân và sau khi qua đời ông trở thành đức thánh Giá - một cách kiêng gọi tên húy - gắn danh thần với địa danh quê hương là kẻ Giá, rộng hơn nữa là Thiên Nam thánh như­ vua Lý Thần Tông ban tặng. Khi vua Trần Nhân Tông phong sắc cho Phạm Tu là Chứng An đại vương (1285) thì dân chúng lại kêu cầu là đức Đại Vương. Từ thời Tiền Lý đến thời Nguyễn, các triều đại vua chúa Việt Nam đã ban tặng danh thần Lý Phục Man gần 300 mỹ tự trong 60 lần phong sắc và hiện có trong 74 đền thờ ở gần khắp các tỉnh ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Sinh thời Lý Phục Man – Phạm Tu đã sống hết mình vì sự nghiệp đánh giặc giữ nước, giúp vua giữ gìn danh dự quốc thể. Khi vào cõi trường sinh, Người trở thành thần thành hoàng làng ở khắp các miền quê Việt Nam.

Bản khắc Cổ tích từ bi, dựng năm Vĩnh Tộ thứ hai (1620) ở quê ông đã viết: “người có công với dân với nước thì được người đời tôn thờ, mãi mãi ghi nhớ cho đời sau.” Khoảng thời gian từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX dù đất nước có biến động, nhưng tính danh Lý Phục Man vẫn ngời sáng trong các trang quốc s­ử, nhất là mỗi khi đất nước bị các thế lực ngoại xâm đe dọa. Gần m­ười lăm thế kỷ đã trôi qua, việc tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp Phạm Tu - Lý Phục Man vẫn đang còn hấp dẫn, sao cho những trang vàng chói lọi lịch sử chống ngoại xâm, bảo vệ lãnh thổ do người xư­a gây dựng được toàn vẹn, tiếp tục được phát huy.

   Thời thuộc Lương nhân dân ta căm phẫn chế độ hà khắc của chính quyền đô hộ. Rồi “ thứ sử vũ lâm hầu Tiêu Tư­ quá hà khắc tàn bạo, việc hành chính mất lòng người, dân cưhúng ngấm ngầm tính kế chống lại. Lý Bôn - cách phiên tên khác của Lý Bí -  coi giữ quân ở châu Cửu Đức liên kết hào kiệt chín huyện, khí giới tinh nhuệ, cùng nhau khởi binh đánh cho thứ sử Tiêu Tư­ phải chạy về Quảng Châu. Lý Bôn đem quân đóng ở Châu Thành. Đúng lúc ấy, giặc Lâm Ấp đến cướp đất Nhật Nam. Lý Bôn sai tướng Phạm Tu đánh giặc ở Cửu Đức thu thắng lớn, giặc tan hết, ông liền x­ưng là Việt vương, đặt trăm chức quan, đổi niên hiệu là Thiên Đức, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân.” Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục miêu tả chi tiết “Lý Bôn tài kiêm văn võ làm quan triều Lương...vì bất đắc chí nên về Thái Bình khởi binh. Tù trưởng huyện Chu Diên là Triệu Túc cũng đem quân theo Lý Bôn. Tiêu T­ư biết rõ việc ấy, đem tiền đút lót cho Lý Bôn rồi chạy về Quảng Châu. Lý Bôn liền giữ thành Long Biên.” Cùng lúc đó, Phạm Tu cũng tập hợp lực lượng, huấn luyện một đạo quân, đánh đuổi giặc Lương ở vùng Đỗ Động Đường Lâm đã nổi tiếng từ lâu. Khi Lý Bôn lấy được thành Long Biên, tướng Phạm Tu hòa nhập lực lượng, dấy binh theo cờ nghĩa.

Sử ký của Đỗ Thiện viết “ Lý Phục Man báo mộng cho vua Trần Nhân Tông, có nhắc lại chuyện đời vua Lý Thái Tổ “đến bến Cổ Sở, trông thấy phong cảnh núi sông rất đẹp, tâm thần nhà vua cảm xúc mới rót một ly rượu xuống dòng sông lớn và “mộng thấy một dị nhân cao lớn vạm vỡ, mặt hổ râu rồng, y phục trang nghiêm, khăn giày rành rạnh, đến cúi đầu lạy hai lần và tâu rằng: “ - Thần vốn là người làng này, họ Lý tên Phục Man, đã giúp Lý Nam đế và làm tướng quân, nhờ lòng trung liệt mà đã nổi danh, nên được cho trấn thủ hai dải sơn hà Đỗ Động và Đường Lâm... hóa ra cả một phường đều yên ổn. Đến khi thần thác, đức thượng đế chấm lòng trung ấy, nên cho thần giữ chức nh­ư cũ.” Thuở nhà Đư­ờng sắp làm vua, thần thường đem binh theo Khâu Hòa phá được nghịch tặc là Ninh Trường Chân ở cửa Giáp Sơn, qua đời vua Túc Tông lại phá được giặc Đại Thục Ba Tư­ ở cửa Thần Thạch, sang đời vua Đại Tông lại phá được giặc Côn Lôn Chà Và ở Chu Diên. Lại khi Cao vương phá nước Nam Chiếu, với lúc Ngô tiên chúa phá quân Nam Hán, Lê Đại Hành cả phá Tống binh, mỗi lần xuất quân chinh phạt, thần luôn luôn ở trên không mù mịt đã mang quỷ binh ám trợ kết cuộc đều có công cả. Thần lại đã từng cầm quân binh quỉ thần, dâng mệnh thiên đế, phá được giặc Chiêm Thành ở trấn Giáp Sơn. Đến khi thần mệnh một, linh hồn chẳng tan, thôn dân kính mến, lại sợ không người phòng thủ để ngừa bọn ngoại Lào cướp bóc, nhân thế mới lập đền thờ phụng. Bởi vậy thần còn được dịp nương bóng mà phảng phất trong khoảng trời mây. Hễ khi nào có dùng binh, thì thần lại ám hộ từ trên không, bọn nghịch tặc vào cướp đều bị ngăn chống cả. Hôm nay gặp bệ hạ loan giá quang lâm, thần riêng đến xin bái yết. Đoạn rồi ông có ngâm thơ rằng: “Người đời thường sao nhãng/Nên ta ẩn thanh danh/Nhật nguyệt theo ngày tháng/Làm rạng rỡ chân linh.”

   Vua ch­ưa kịp đối đáp giật mình tỉnh dậy, nói lại tình tiết với mọi người. Quan ngự sử đại phu là Lương Văn Nhậm nói: “- Đó là lời thần có ý muốn hiển linh để mà lập hình trước.”

   Nhà vua truyền lệnh xen keo, thì lập tức thấy ứng nghiệm, bèn sai người trong châu lập đền thờ và tạc một thần trước y như­ vua đã trông thấy trong mộng. Miếu mạo sum nghiêm, làm phúc thần cho cả một phương. Ngôi miếu thờ Lý Phục Man đầu tiên này được nhân dân thôn Ba, xã Cổ Sở (Nay thuộc Yên Sở) lập nên ngay theo lệnh vua. Khuôn viên đền nằm giữa một vùng dân cư thưa thớt, xâm canh chen lấn cùng lau lác ven sông Đáy.

   Nhiều văn bia, thần tích xuất hiện từ đầu thế kỷ XVII trở đi đều căn cứ văn bản Việt điện u linh hoặc Đại Việt sử ký toàn thư­ mà đổi thay chút ít, để biên soạn thần tích cho phù hợp nơi thờ, chỗ dựng bia thánh Giá thờ phụng Lý Phục Man; song hành trạng công tích mà nhân vật lịch sử từ khi còn mang tính danh Phạm Tu đến lúc được vua ban tên hiệu Phục Man và họ Lý của vua, gắn liền với các sự kiện đều thống nhất ở một con người, một triều đại Tiền Lý, được đời đời tôn vinh. Trong hậu cung đền thượng thờ đức Phục Man tướng công Phạm Tu có một pho tượng đức đại vương và hai vị hôn thê. Đền trung có đặt các long ngai bài vị ba vị đại vương, dựng trước hai thần tướng Trương Hống và Trương Hát, là hai vị thần sông nước đã giúp việc đưa thi hài tướng Phạm Tu từ thành Tô Lịch (Hà Nội ngày nay) về quê an táng, nên được phối thờ. Sau năm 1954, hòa mình trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, nhân dân Yên Sở chưa có dịp tôn tạo ngôi đền thiêng thờ đức tháng Giá. Trải mưa nắng thời gian, vôi vữa tự hủy, đồ tế khí mục nát. Vả lại, từ thời Lý trở đi, một điểm thờ cấp tổng khác rộng và hoành tráng hơn do nhà nước chủ trương xây dựng ở ngoài bãi sông mới nổi, nên việc tu bổ ngôi đền nhỏ dựng ngay tại nền nhà thân sinh ở điếm ba tạm thời gác lại. 

  Tuy vậy, đúng như ca dao đã đặt: “Trăm năm bia đá thì mòn/Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.”Trí nhớ dân làng vẫn hằng ghi nhận điểm thờ linh thiêng ấy. Năm 1580 thời vua Lê chúa Trịnh, tiến sĩ Phùng Khắc Khoan – đương chức thượng thư bộ binh – đã về thăm và viết bài thơ viếng thần Lý Phục Man ở thôn Ba rằng: “Cổ Sở danh tam hiểm/Đoài phương tĩnh nhất khu/Trung tâm lưu cổ miếu/Tứ cố đắc âm phù/Di tích tự thiên thu/Sinh anh hùng hào kiệt/Phụ quốc gia Đại Việt/Lưu danh hậu thế truyền.” Nghĩa là: “Xứ Đoài- Cổ Sở quê ta/Một khu yên tĩnh trong ba đất lành/Giữa làng cổ miếu uy linh/Âm phù tất cả xung quanh bốn bề/Dấu xưa muôn thuở còn ghi/Anh hùng hào kiệt nhớ khi ở đời/Phò vua giúp nước một thời/ Tiếng thơm còn để đời đời ngợi ca.” Ngày nay hai câu thơ mở đầu bài thơ ấy của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đã trở thành một đôi câu đối được đắp nổi trước cửa đền.

  Ngày mồng 10 tháng 3 hàng năm, Yên Sở tổ chức kỷ niệm đức thánh Giá  thì cả làng già trẻ trai gái trai cùng đến đền thờ ngài ở điếm Ba cũ, sửa soạn nghênh đón vong linh ngài ra đền thờ lớn ngoài bãi sông xưa, rồi lại trở về an vị nơi thờ cũ mới được dân làng mới lập lại gần đây. Phần mộ của người được đặt cách ngôi nhà ở của gia đình khoảng 200 mét về phía Tây, trên kiểu đất “đầu con rồng thổ” và “cổ con rồng thuỷ”; nhiều nhà phong thuỷ đã từng ca ngợi về huyệt đất đế vương này. Hàng năm nhân dân địa phương thường  trồng cây ở xung quanh mộ. Cây mỗi năm lại lan rộng v­­­ơn cao, chẳng bao lâu khu lăng mộ đã trở thành một rừng cây xanh tốt. Dần dần khu lăng mộ đã lan rộng tới trên 20 mẫu Bắc Bộ, tạo thành một danh thắng ở vùng này và đã trở thành một khu “cấm địa”. Một trong những điều khoản được quy dịnh trong hương ­­­ước làng là “Nam giới đến tuổi 55, nghĩa là đã hết tuổi “hoành đinh”, vọng vào “lão hạ” thì chính năm đó những người ở tuổi này phải cắt cử luân phiên nhau làm nhiệm vụ canh phòng lăng mộ “nhà thánh” mà nhân dân thường gọi là tuổi “tuần rừng”. Từ cành cây đến ngọn cỏ trong khu cấm địa không ai được xâm phạm. Câu thành ngữ: “Rừng Giá cái lá cũng thiêng” là lời răn thiêng liêng đã trường tồn trong lịch sử.

 Các cổ tục, lễ hội, thành tựu xây đắp nên một nền văn hóa dân gian đa dạng và phong phú; một mô hình kinh tế tiểu nông cổ truyền ở kẻ Giá xưa, nay thuộc thủ đô Hà Nội mãi mãi là một bảo tàng sống động trong tâm thức văn hóa người Việt. Hàng năm cứ đến tiết xuân nhân ngày kỷ niệm mồng 10 tháng 3 nhân dân khắp nơi, cùng với người địa phương lại hành hương về Yên Sở, huyện Hoài Đức để bày tỏ lòng biết ơn Người có công với dân với nước. Năm 2014, đền thờ đức thánh Lý Phục Man – Phạm Tu ở điếm Ba, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức được khánh thành, ghi nhận công đức nhiều mặt của Đảng bộ và nhân dân địa phương. Điểm thờ xưa mới được dựng lại ở đây là có thêm một điểm viếng thăm, tưởng niệm, giúp du khách tham quan du lịch có một cản quan nghệ thuật sáng tạo mới khi về với một vùng ven đô./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}