Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn nghệ sỹ:

 

Dẻo dai, lặng lẽ - Đôn Truyền

Khắc Tuế | Thứ Tư, 09/10/2013 11:39 GMT +7
Đôn Truyền thuộc thế hệ thứ hai của tác giả âm nhạc trong quân đội, cùng với Huy Thục, An Thuyên, Lê Lan, Thuận Yến, v.v.. Đó là lớp kế tiếp Huy Du, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Vũ Trọng Hối, Nguyễn An, Văn An, v.v..
JPEG - 28.7 kb
Cầu Ham Rồng (Thanh Hóa) hiên ngang trong những năm chống chiến tranh phá hoại của không lực Mỹ gắn liền với bài ca "Cây lúa Hàm Rồng" của Đôn Truyền

 

Anh chẳng bao giờ ốm đau bệnh tật. Bạn bè chưa một lần phải vào bệnh viện thăm anh, ở cái tuổi đã áp trót tám mươi rồi mà anh cứ thản nhiên không động đến một viên thuốc dù là thuốc viêm họng. Vì thế anh mới bền bỉ trong công việc sáng tác, sáng tạo. Và chính những việc ấy, anh cũng bền bỉ, ngày qua ngày cóp nhặt từng dòng kẻ âm nhạc, từng trang lý luận. Anh là còn người làm xong rồi mới nói. Cấm bao giờ nói trước điều gì, thậm chí có những tác phẩm được công bố trên làn sóng đài tiếng nói Việt Nam: "Sau đây xin mời các bạn nghe bài: Cây lúa Hàm rồng nhạc và lời của Đôn Truyền" thì mọi người mới biết là anh đã cho ra "lò" một tác phẩm âm nhạc có sức lay động, lan toả đến đông đảo công chúng, bạn bè. Với anh, tôi còn thấy hơi lạ là từ lúc anh mang quân hàm chuẩn uý cho đến khi anh lên đến cấp Đại tá cũng cứ lặng lẽ thản nhiên. Bỗng một hôm, cấp trên công bố: Mời Đại tá, nhạc sĩ Đôn Truyền lên nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật thì mọi người mới biết: à ra là như vậy!?.

Anh thuộc thế hệ thứ hai của tác giả âm nhạc trong quân đội, cùng với Huy Thục, An Thuyên, Lê Lan, Thuận Yến, v.v.. Đó là lớp kế tiếp Huy Du, Hoàng Vân, Nguyễn Đức Toàn, Vũ Trọng Hối, Nguyễn An, Văn An, v.v..

Vốn là một người lính, Đôn Truyền thấm sâu tính kỷ luật; tính nguyên tắc và thiên về lý trí trong sáng tác. Song trong đời sống thường nhật thì anh lại là người khá lãng mạn đâu kém cạnh ai! Cây lúa hàm rồng chẳng phải anh đã phải lòng những công nàng nông dân quê anh? Nên mới trăn trở đêm ngày để có một tác phẩm được cả bộ đội và nhân dân thời đánh Mỹ để bụng cho đến tận bây giờ… Lại nữa: Những ngày Đà Lạt mới được giải phóng anh đến thăm Đà Lạt, Đà Lạt đẹp thật! nhưng anh hơi ngại những thắng cảnh mà lại mang cái tên rất… chán đời như hồ Than Thở?... Nên anh chẳng có cảm xúc gì mà sáng tác. Bỗng một hôm, ông phó Trưởng ty văn hoá Đà Lạt mời anh đến chơi với anh chị em đoàn nghệ thuật Đà Lạt đang gấp rút chuẩn bị chương trình về Sài gòn dự Festival ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Thấy mấy cô gái Đà Lạt dễ mến mà hát lại hay, thế là đêm về anh đã mất ngủ?.. và Đà Lạt khúc ca mới đã ra đời, rồi chỉ một ngày sau đó, các cô đã thuộc bài kể cả bè bối đàng hoàng, đồng thời đà lạt khúc ca mới đã được in hàng ngàn bản mang về Sài Gòn. Một tác phẩm sớm nhất được ra đời sau giải phóng Đà Lạt và tác phẩm đ• nhận giải đặc biệt của Festival.

Lội ngược dòng lai những tác phẩm thành công của Đôn Truyền trong thời chiến tranh khốc liệt, anh có những tác phẩm: "Cô giao liên và đoàn quân ra trận"; "Những miền quê xum họp"; "Tình khúc hai sông" và "Bên Hàng Dương tôi hát" "Niềm tin thắm đỏ" và nhiều ca khúc của anh đã cùng đoàn quân ra trận. Có khi là qua các đoàn nghệ thuật chuyên và không chuyên biểu diễn, cũng có khi là phát trên làn sóng điện của Đài phát thanh Quân đội nhân dân; Đài tiếng nói Việt Nam.

Rất vui là Đôn Truyền không nằm trong danh sách: "Nhạc sĩ một bài" lại vui hơn nữa là anh cũng không trong danh sách của những "Nhạc sĩ ca khúc". Các thể tài của anh rất phong phú: Từ ca khúc đến liên khúc, đến hợp xướng và đến cả Giao hưởng: "Tổ quốc và dũng sĩ" Nghệ sĩ ưu tú Kim Tiến đã dựng múa trên nền của Giao hưởng này. Giao hưởng thơ "đường ra trận" do dàn nhạc giao hưởng quân đội thực hiện. Giao hưởng "âm vang lời Bác" thơ Võ Văn Trực do dàn nhạc đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện.

Đôn Truyền cũng thuộc loại "Bác học" anh đã là sĩ quan, cũng đã có số vốn kha khá về tác phẩm, anh mới được làm sinh viên trường Đại học Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam).

Đôn Truyền rất kỹ tính trong sáng tác. Khi dựng những tác phẩm nhạc không lời như Tam tấu (Trio) Nguyễn Văn Trỗi. Những người thực hiện bản nhạc không lời này anh đã tìm cho kỳ được ba tay đàn tầm cỡ là Giáo sư - Nghệ sĩ ưu tú Bích Ngọc Violon 1. Giáo sư Bùi Gia Tường Violon cello (Trầm) và Nghệ sĩ ưu tú Tuyết Minh, cây đàn piano có hạng của Nhạc viện Quốc gia Việt Nam thực hiện. Bản hợp xướng Giá từng thước đất thơ của Chính Hữu. Khi dựng xong, Đôn Truyền đã mang đến tặng nhà thơ. Lúc này sức khoẻ của nhà thơ đã chớm có "vấn đề" ông nhận "quà" của Đôn Truyền với tình cảm đồng đội Đồng chí… ít ngày sau ông nói với bà Lịch (vợ ông) chờ mấy bữa nữa cho cả thằng Bắc (cậu con trai duy nhất của ông) cùng nghe. Nghe xong ông quá xúc động, mắt rơm rớm, đôi má ông nháy, rung liên tục. Ông chống hai tay đỡ đầu, nhắm nghiền mắt lại! Vợ con ông hơi hoảng!! Ông phẩy tay: "Không sao, không có chuyện gì. Đây là bản hợp xướng miêu tả đúng tâm trạng của tôi, có những chỗ đã đánh động và khơi dậy những suy tư thầm kín, ít ai để ý đến những chiều sâu của người làm thơ". Đôn Truyền khá là cẩn thận!! Một thời gian sau, nhà thơ đã ra đi vĩnh viễn. Bà Lịch kể lại biết bao nhiêu kỉ niệm về những bài thơ của ông đã được các tác giả Huy Du; Hoàng Hiệp, trong đó có Đôn Truyền làm ông nhớ và ông nhà tôi luôn nhắc đến các anh ấy cho đến những ngày lâm bệnh nặng nhất ông ấy vẫn nhắc đến những nhạc sĩ đã đưa ông lên tận 9 tầng mây. Đó là làn sóng của Phát thanh tiếng nói Việt Nam.

Và cho đến hôm nay, Đôn Truyền vẫn cứ lặng lẽ, đều đuề sáng tác không chỉ có ca khúc, không chỉ có nhạc không lời, anh còn đóng góp vào mảng âm nhạc cho múa, cho kịch, cho phim, đặc biệt là cho Chèo. Đối với nhạc Chèo thì người "xô đẩy" anh vào cái "mê cung" này là Tào Mạt. Với bộ ba Bài ca giữ nước gồm:

- Lý Thánh Tông chọn người tài

- ỷ Lan coi việc nước

- Lý Nhân Tông học làm Vua

Hai vở trên Tào Mạt tự ứng làm nhạc dân gian, tự ghép những đoạn những phần nối khác nhau khác nhuần nhuyễn. Nhưng đến vở thứ ba: Lý Nhân Tông học làm vua thì Tào Mạt đặt lên bàn để "tuyển chọn" trong giới nhạc sĩ ai có thể giúp ông làm nhạc cho vở Chèo này?... Đôn Truyền? Tào Mạt đã chiêm nghiệm, nghe gặp, xem đủ các hội diễn Chèo, đủ tác giả âm nhạc viết cho Chèo. Nhưng ông thấy ở Đôn Truyền có thể gửi gắm được nên ông đã vỗ vai ông bạn có thâm niên sống bên nhau. Nhưng Đôn Truyền cũng dẫy nẩy vì cảm thấy quá sức bởi động vào Chèo của Tào Mạt đâu phải chuyện… dễ!!! Thế rồi vị nể mà Đôn Truyền đã "bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa". Cái đức tính dẻo dai bền bỉ của Đôn Truyền đã tìm ra được ẩn số của Tào Mạt. Anh đã chứng minh bằng kết quả có thật là khi ráp từng đoạn đều ăn khớp với kịch bản khớp với lòng mong mỏi của tác giả Đạo diễn Tào Mạt.

Vở diễn ra mắt đúng dịp Đại hội đảng toàn quốc lần thứ V diễn ra tại Trường Đảng - Nguyễn ái Quốc. Vở diễn được chọn vào phục vụ Đại hội. Bà Nguyễn Thị Định đã reo lên, hô hào "còn ai chưa coi thì vào coi kẻo uổng!". Thế là các đại biểu cả ba Miền không còn sót ai, các vị vừa xem vừa tán thưởng nhiệt liệt nhất là màn "Chôn Hề". Uỷ viên Bộ chính trị - Lê Văn Lương hỏi Tào Mạt: "Cậu sáng tác vở này bao lâu?". Dạ, em nghiên cứu Nghị quyết của Trung ương từ khoá trước cho đến lúc dàn dựng là vừa trọn 5 năm. Nhưng thực thi chỉ có 15 ngày.

Tào Mạt đã có một "bữa cơm" ngon, song bữa cơm ngon đó lại có "bát canh" của Đôn Truyền…

Tiếp nối thành công của nhạc Chèo Lý nhân tông học làm vua, Đôn Truyền đã có bước tới những tác phẩm nhạc cho các vở Chèo không kém phần hóc búa: Kính chiếu yêu; Nàng Thiệt Thê; đến những vở Chèo nói về Bác Hồ: Những vần thơ thép; đêm trăng huyền thoại và rất nhiều những vở Chèo khác không kể hết. Điều đáng kể lại là những đầu sách mà anh đã rút ra những thực tế trong sáng tác nhạc cho Chèo hồn quê trong di sản do nhà xuất bản văn học ấn hành và đến với nhạc chèo nhà xuất bản Viện Sân khấu xuất bải - 2001.

Xâu chuỗi lại tất cả những sáng tác của anh từ ca khúc đến nhạc không lời, nhạc cho múa, cho sân khấu và một chuỗi dày đặc cho Chèo và cả những cuốn sách lý luận về Chèo. Đôn Truyền đã nhận nhiều giải thưởng đủ các loại: Giải thưởng của Bộ Quốc phòng; của các hội diễn nghệ thuật trong nước và nước ngaòi. Tuy nhiên, những giải thưởng ấy rồi cũng để trong tủ kính, điều quan trọng là nó đã ở trong tim, trong đó người nghe, người xem, mà nhất là với những bạn nghề mới nhớ anh, ấn tượng về những thành công của anh ở nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại mà hiếm người có được.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà nghiên cứu lý luận sân khấu Nguyễn Thị Thanh Phương lại lấy những thành quả âm nhạc phong phú của Đôn Truyền làm đề tài nghiên cứu công trình khoa học cấp Viện của chị. Thanh Phương còn tấn phong cho Đôn Truyền là kiện tướng vì chị thấy cái gia tài quá đồ sộ của ông Đại tá nhạc sĩ Đôn Truyền có hàng trăm tác phẩm âm nhạc viết cho mùa, cho nhạc khí; giao hưởng và đứng hàng đàu trong giới nhạc sĩ viết về nhạc cho Chèo.

Những chuyên gia cỡ "bự" của làng Chèo như NSND Giáo sư Trần Bảng; Hoàng Kiều đã phải "xuất" những lời khen "hiếm hoi: của các ông dành cho Đôn Truyền về nhạc Chèo và những lý lẽ của anh qua hai tác phẩm lý luận về Chèo: "Đôn Truyền đã vào đến tận thâm cung của Chèo!". Giáo sư tiến sỹ Trần Văn Khuê đã xúc động khi xem "Những vần thơ thép"; "Âm nhạc của Đôn Truyền đã làm cho vở diễn có ý nghĩa sâu sắc về hình tượng Bác Hồ".

Đã cận kề tuổi 80 Đại tá - Nhạc sĩ Đôn Truyền vẫn dẻo dai và vẫn cứ lặng lẽ ghi tiếp vào trang sử 60 năm của Nhà hát ca múa nhạc và Nhà hát Chèo quân đội.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}