Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Vật thể:

 

Di tích quốc gia đặc biệt: Đền Hát Môn

Đông Tỉnh | Chủ Nhật, 22/03/2015 13:50 GMT +7
Đền Hát Môn thờ Hai Bà Trưng; năm 2014 được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. Địa chỉ: xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội. Toạ độ: 21°7’46"N, 105°36’44"E; cách thị trấn Phùng chừng 8km về phía bắc. Từ Hà Nội có các xe bus 20, 20b, 20c, 216 chạy đến TT Phùng, cách Hồ Gươm khoảng 26km về phía tây.
 
 
Thủy đình cạnh ngõ vào đền Hát Môn. Photo ©NCCong 3-2015
 
Giới thiệu
 
Du khách từ Hà Nội theo quốc lộ 32 đi hết thị trấn Phùng sẽ đến xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ (xưa là Phúc Lộc, tỉnh Sơn Tây), nơi có một trong ba ngôi đền thờ Hai Bà Trưng lớn nhất và lâu đời nhất của nước ta. Trước kia, ngôi đền vốn nằm trên bãi cát ở cửa sông Hát (đoạn sông Đáy đổ ra sông Hồng), sau do sông đổi dòng nên đền đã vào sâu trong đất liền.
 
Hát Môn nghĩa là cửa sông Hát, nơi Hai Bà Trưng lập đàn và mở hội thề tụ nghĩa vào năm 40 đầu công nguyên, trước khi xuất quân đuổi thái thú Tô Định về Hán. Sau khi chiếm được các thành trì ở Lĩnh Nam, Hai Bà bèn tự lập làm vua, đóng đô ở Mê Linh (thuộc tỉnh Vĩnh Phúc bây giờ). Năm 43, vua Hán sai danh tướng Mã Viện sang xâm lược, Hai Bà mắc mưu hắn nên phải rút quân về giữ Cấm Khê, rồi nhảy xuống sông Hát tự vẫn. Sau này nhân dân xã Hát Môn lập đền thờ Hai Bà ở kề chân đê.
 
Tam quan nội đền Hát Môn. Photo ©NCCong 3-2015
 
Kiến trúc
 
Tương truyền ngôi đền Hát Môn xây vào thời Tiền Lê (thế kỷ 10). Sau nhiều lần trùng tu, diện mạo hiện tại mang dấu vết nghệ thuật kiến trúc của TK 19. Từ hai ngả đường đê hướng về cổng đền có hai tấm bia đề chữ "Hạ mã" nhắc nhở các quan binh xưa kia qua đây phải xuống ngựa và đi bộ để tôn kính Hai Bà.
 
Hai bên cổng đền có đắp nổi đôi câu đối tỏ rõ ý chí bất khuất của dân ta:
Đồng trụ chiết hoàn Giao Lĩnh trĩ
Cẩm Khê doanh hạc Hát giang trường
 
Đông Tỉnh dịch:
Đồng trụ còn hay gãy, núi Lĩnh vươn ngút ngàn
Cẩm Khê vơi rồi đầy, sông Hát dài tít tắp
 
Trước khi qua cổng đền, du khách thường vào miếu "Bà Hàng nước" nơi thờ người phụ nữ đã khuyên Hai Bà tự vẫn để giữ trọn khí tiết. Tiếp đến, ta sẽ gặp hai trụ đồng được coi như cổng đền. Cao Bá Quát - một bậc tài danh đầy khí phách anh hùng của TK 19, đã tiến cúng đền Hát Môn một đôi câu đối ca ngợi công đức Hai Bà, được khắc trên cột trụ:
Tùng bất kim đao thiên khai vận
Ưng vô đồng trụ đái phân cương
 
Đông Tỉnh dịch:
Ai lấy dao vàng mở vận trời đất
Để có cột đồng làm vạch biên cương
 
Từ cổng đền đi xuống, du khách sẽ thấy hồ nước với thủy đình mới xây ở bên phải rồi đến tam quan nội ở bên trái. Qua một sân rồng với những phiến đá xanh có chạm khắc từ thời Lê là đến cửa tòa tiền tế 5 gian. Sau đó trên nền đắp cao dần là các tòa thiêu hương và hâu cung, nơi có khám thờ với tượng Hai Bà ở bên trong. Khu vực bên trái đền gần đây được mở rộng với một tòa nhà to và phía trước tam quan nội có xây một đàn thề lớn với bầy voi ngựa đá chầu về.
 
Di sản
 
Ngôi đền Hát Môn hiện lưu giữ được nhiều đồ thờ cúng cùng hoành phi, câu đối nói lên khí phách, tinh thần quật khởi và công đức của Hai Bà đối với non sông xã tắc. Chính giữa đền treo một bức đại tự đề 4 chữ 樂 雄 正 統 (Lạc Hùng chính thống). Tại tòa tiền tế và thiêu hương có lỗ bộ và các hương án, cửa võng thiếp vàng lộng lẫy. Trong hậu cung đặt hai long ngai bài vị của Hai Bà.
 
Ngoài ra, trong đền còn nhiều cổ vật khác có giá trị lịch sử và mang đậm phong cách nghệ thuật chạm khắc thời Lê-Nguyễn. Máu Hai Bà và chiến sĩ tô thắm non sông, vì vậy toàn bộ đồ thờ cũ ở đền Hát Môn đều sơn màu đen, kiêng màu đỏ. Trước kia, người đến tế lễ cũng như dự hội ở Hát Môn đều không được ăn vận quần áo, trang phục màu đỏ; nếu có thì phải để ở ngoài đền.
 
Phía sau đền Hát Môn có một gò thấp gọi là gò Ngọc Ấn, tương truyền nghĩa quân của Hai Bà đã chôn giấu các ấn tín và ngọc tỷ tại đây. Ngôi đền trải qua hàng ngàn năm đã nổi tiếng rất linh thiêng. Năm 1991 được nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử văn hoá quốc gia, đến năm 2014 lại được nâng lên thành Di tích quốc gia đặc biệt.
 
Lễ hội
 
Lễ hội đền Hát Môn diễn ra mỗi năm 3 lần vào các ngày mồng 6 tháng Ba, mồng 4 tháng Chín và 24 tháng Chạp âm lịch.
 
Lễ hội mồng 4 tháng Chín kỷ niệm ngày Hai Bà làm lễ xuất quân. Trong ngày này sẽ diễn trò múa cờ với sự tham gia của các trai làng. Đây là một dịp có rất đông khách thập phương trẩy hội.
 
Lễ hội mồng 6 tháng Ba tổ chức vào ngày hoá của Hai Bà Trưng, là lễ hội chính hằng năm. Trong ngày hội, dân làng cúng Hai Bà bằng những mâm đầy các đĩa bánh trôi [1]. Bánh trôi dâng lên phải có đủ 100 viên rất nhỏ, sau khi tế lễ xong, làng đem 49 viên đặt vào lòng một bông hoa sen thả xuống dòng sông để trôi về biển cả. Đặc biệt, dân làng Hát Môn không làm và không ăn bánh trôi trước ngày 6 tháng Ba.
 
Lễ hội ngày 24 tháng Chạp là lễ Mộc dục (tắm tượng) được tổ chức rất trang nghiêm. Để chuẩn bị cho lễ Mộc dục, làng Hát Môn chọn 20 tráng đinh, vào nửa đêm ngày 23 sang ngày 24 rước tượng Hai Bà từ trong hậu cung ra nhà Dội (nhà tắm tượng). Cùng lúc đó, dân chài Hát Môn, cũng gọi là vạn Hát, sắm sửa thuyền chở lọ (hoặc bình, ang, hũ) đựng nước ra giữa sông Hồng lấy nước về nhà Dội để làm lễ. Gọi là tắm tượng nhưng người ta chỉ lau phủ bụi bặm trên tượng, rồi dùng khăn nhúng nước (thường pha hương hoa, lá thơm) để lau lần nữa. Sau cùng, rước tượng về bày thờ ở hậu cung./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}