Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Đọc Giấc mơ đá vỡ của Nguyễn Thị Kim Hòa

Hoàng Thị Trúc Ly (Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật An Giang) | Thứ Tư, 14/10/2015 16:12 GMT +7
Không phải là một tác giả quá mới, cũng chưa hẳn là một cây bút chuyên nghiệp, thế nhưng mỗi lần xuất hiện trên văn đàn, Nguyễn Thị Kim Hòa luôn gây ấn tượng đậm nét với bạn đọc. Truyện của chị luôn như một món ăn lạ, mà cái “ngon” nằm ở dư vị, ở thứ “ngọt”còn đọng lại ở đầu lưỡi mà người đã trót “nếm” vào sẽ rất khó quên.

Mới đây, Tạp chí Nhà văn và Tác phẩm số 10/2015 đã chọn đăng truyện ngắn Giấc mơ đá vỡ - tác phẩm đoạt giải cao nhất của cuộc thi truyện ngắn trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội (2013 – 2014) và cũng là một truyện tiêu biểu trong chùm truyện mà Nguyễn Thị Kim Hòa tham dự cuộc thi trên. Không ít lần đã đọc Nguyễn Thị Kim Hòa, thế nhưng Giấc mơ đá vỡ vẫn khiến tôi ám ảnh và xốn xang.

 

 
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hòa

Cái ám ảnh và xốn xang ấy thật khó diễn tả hết bằng lời, có lẽ vì cảm xúc này là do nhiều yếu tố đem lại, chúng cộng hưởng, hòa hợp, quyện vào nhau rất chặt một và rất chắc. Câu chuyện chặt và chắc tay trong nhân vật, chi tiết, tình huống và câu chữ. Tất cả là một sự tính toán, một sự chắt lọc, sự sắp đặt của một người lao động cần mẫn và say mê trên cánh đồng của chữ nghĩa, của văn chương nghệ thuật.

Đầu tiên, hãy nói về nhan đề truyện: Giấc mơ đá vỡ. Bốn chữ tưởng chừng rất dễ hiểu: Một giấc mơ về đá bị vỡ. Thế nhưng vì sao lại có giấc mơ ấy, mà không phải là mơ về một điều gì khác, vả lại đá vỡ thì có gì lạ đâu. Chỉ mới bằng ấy thôi, Nguyễn Thị Kim Hòa đã lôi kéo được bao nhiêu con mắt tò mò phải “bập” câu chuyện của chị.

Giấc mơ đá vỡ cũng là “đứa con” mà Nguyễn Thị Kim Hòa đã sinh ra.

Tên truyện được cấu thành cả về nội dung đến nghệ thuật của toàn truyện.

Vậy nên, vội vã chi mà chúng ta không đi tìm những yếu tố đã tạo nên một cái tên “độc” như thế.

Về đề tài của truyện, bạn đọc có thể thấy không có gì mới mẻ, lạ lẫm. Chiến tranh là một đề tài chưa bao giờ nguội và chưa bao giờ thiếu trên suốt chặng đường phát triển của văn chương dân tộc. Dù rằng, chiến tranh đã lùi xa hằng bốn thập kỉ. Và cũng không thiếu những tác phẩm hay, sống cùng năm tháng ở mảng đề tài này. Có thể nói, đó là một sợi tơ nhỏ làm nên sợi chỉ đỏ về lòng yêu nước của dân tộc ta. Và hình tượng người phụ nữ nói chung mà chiến tranh mang lại thì không thiếu những tác phẩm từng làm nức lòng bạn đọc. Thế nhưng, đó là nỗi đau của người mẹ, người vợ, người con gái, có chồng, có con, có người yêu nơi đầu súng ngọn gió.

Nguyễn Thị Kim Hòa đã rất khôn khi chọn cho mình một điển hình nhân vật mà trước đó thơ ca cách mạng, chiến tranh đề cập còn rất mờ nhạt. Đó là hình ảnh người chị có những đứa em phải lao vào chiến trận thuộc phía bên kia. Chị Hai Kim bước ra từ Giấc mơ đá vỡ đã trở thành một điển hình hóa cho bao nhiêu người chị khác mà chiến tranh đã đem đến cho chị nỗi đau cũng không thua kém gì những người phụ nữ trước đó từng xuất hiện trong văn học. Hai Kim là một mẫu người có hao hao nét giống nhân vật “Chị Tôi” trong ca khúc cùng tên của nhạc sỹ Trần Tiến. Điểm giống ở họ là sự hi sinh tuổi thanh xuân, hạnh phúc riêng của mình cho đàn em thơ ngây khi cha mẹ vắn số lìa đời. Nhưng dường như trót sinh ra là phụ nữ thì đã là cái tội, như thi hào Nguyễn Du từng nói: “Đau đớn thay phận đàn bà. Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Nhưng sự bạc mệnh thì không ai giống ai. Hai Kim không chết vì mỏi mòn, đợi chờ người tình, chị cũng không cầm súng gươm ra trận. Thế nhưng, cuộc đời chị dường như chưa bao giờ được bình yên.

“Hai” tức là con đầu trong nhà theo cách gọi của người miền Nam, còn Kim mới là tên chữ của chị. Chiến tranh đã cướp mất cha mẹ, để lại chị và hai cậu em trai thơ dại trên đời. Ngày đó, Út Kiên còn đang ngậm vú mẹ. Vậy là Hai Kim vừa là chị vừa là mẹ nuôi nấng, dạy dỗ hai em. Họ lớn lên khi mảnh đất quê hương vẫn còn hăng mùi thuốc súng, lớn lên trong niềm kiêu hãnh lây truyền của dòng họ có người đương làm vương, làm tướng. Rồi cả hai em không thoát khỏi cuộc binh nghiệp, dù Hai Kim đã làm tất cả để chỉ mong bảo vệ được hai người thân nhất của mình. Nhưng đớn đau hơn là chúng lại trở thành kẻ thù của nhau ở hai đầu chiến tuyến. Bi kịch của câu chuyện, bi kịch của chị Hai Kim cũng bị đẩy lên cao trào là ở điểm nút này.

Đó cũng là lúc nhà văn phát biểu chủ đề của tác phẩm: “Đây. Thứ này. Đây mới chính là bộ mặt tàn khốc nhất của chiến tranh. Khi máu của một người thân mình có thể đổ xuống bởi một người thân khác. Khi lửa không ụp xuống từ bên ngoài mà bùng lên trong chính những mái nhà vốn gắn bó, yên bình” [tr.115]. “Khi đứa này nằm dưới mũi súng của đứa kia, chúng có nghĩ đến mái nhà nơi chúng cùng lớn lên và cho nhau quyền chạy trốn hay không.”[tr.115]. Thì ra bi kịch mà chiến tranh mang lại không chỉ là chết chóc, là mất mát mà nó khủng khiếp hơn rất nhiều, nó khiến những giá trị luân lý tốt đẹp từ bao đời nay bỗng chốc bị hủy hoại, bị ô uế. Tính tố cáo, sự lên án mạnh mẽ chiến tranh phi nghĩa nằm ở chỗ: “Cuộc chiến này đã đem đến cho làng một ông vua. Nhưng còn Hai Kim, còn bao nhiêu người chị, người mẹ, bao nhiêu người đàn bà khác nữa, nó đã đem lại thứ gì? Tiếng khóc, một vành khăn trắng, hay một căn nhà trống”[tr.113].

Để rồi, khi cuộc chiến qua đi, thì nỗi đau ấy kéo dài mãi, nỗi đau của sự chia ly, nỗi đau của niềm khao khát sum vầy, của sự hòa hợp dân tộc. Tác phẩm được đẩy lên tầm tư tưởng cao hơn khi hai anh em gặp lại nhau, tựa vào nhau: “Hai ánh mắt ngỡ ngàng nhìn nhau. Hai ánh mắt lạc nửa vòng trái đất, lạc gần hết cuộc đời giờ mới lại được nhìn nhau”[tr.116]. Chỉ bấy nhiêu thôi, tác giả đã tổng kết cả một hành trình chia ly – đoàn tụ dằng dặc gần một đời người. Và cũng chỉ bấy nhiêu thôi nhưng bao cảm xúc đã vỡ òa, gieo bao niềm tin vào lòng bạn đọc.

Nhưng để diễn được “chỉ bấy nhiêu” ấy là cả một sự đầu tư công phu trong nghệ thuật dụng chữ, dụng từ, dựng nhân vật và lọc chi tiết.
Có thể độc giả không biết Nguyễn Thị Kim Hòa là ai, đến từ đâu nhưng đọc tác phẩm của chị, độc giả có thể biết nhân vật của chị đến từ mảnh đất nào trên dải đất hình chữ S này. Tính địa phương, vùng miền thể hiện rõ rệt trong cách dùng từ của chị. Từ cách đặt tên gọi theo thứ bậc đi cùng tên chữ: “Hai Kim, Ba Sang, Út Kiên”; cách sử dụng những phụ từ, từ ngữ địa phương đặc trưng của Nam bộ như: “Đâu à, nhen, nghen…; xui thấy bà, hổm giờ, ổng, tui…”. Những từ ngữ ấy đã phần nào thể hiện được tình yêu và niềm tự hào của nhà văn đối với mảnh đất chôn nhau cắt rốn. Người đọc cũng vì thế mà định vị được không gian tác phẩm, sự cảm thụ trở nên dễ dàng hơn.

Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm, phải kể đến nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nếu truyện ngắn là một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật, thì ở Giấc mơ đá vỡ, Nguyễn Thị Kim Hòa đã “cắt” một “lát” khá sâu và dài. Độ sâu và dài ấy không phải đo bằng thời gian mà đo bằng tâm trạng. Điểm chung trong nghệ thuật xây dựng các nhân vật trong truyện này là không có ngoại hình, có chăng cũng chỉ vài đường nét nhưng lại khá đậm về tâm trạng. Điển hình nhất là nhân vật Hai Kim – một người chị luôn bị ám ảnh bởi chiến tranh, chết chóc và chia ly. Đối với Hai Kim, Ba Sang và Út Kiên là gia tài quý nhất của chị. Chị thương hai em mình chẳng khác chi tình thương của người mẹ dành cho con, vì Út Kiên còn từng “nút ngón tay chị thay vú mẹ từ lúc mới biết lững chững”[tr.112].

Hai Kim muốn bảo vệ hai em trong vòng tay của mình khỏi lửa đạn, mưa bom. Chị dùng cả tính mạng để che chở cho Út Kiên, khi bọn quân cảnh đến nhà sục sạo. Sự lo sợ, phấp phổng khiến chị không ngừng hoảng hốt và đã đi vào trong giấc ngủ. Có thể nói, Hai Kim dường như chưa ngày nào, đêm nào thôi suy tư, dừng lo lắng trong suốt câu chuyện diễn ra. Tâm tưởng của chị khiến bạn đọc cũng nặng nề theo dõi chị. Không phải vì truyện đọc mệt mỏi mà vì thương cảm. Đố ai đọc Giấc mơ đá vỡ mà không một lần nhíu mày, mà tay không chống cằm. Nhân vật đầy tâm trạng khiến câu chuyện như được kéo dài ra, dù chỉ là một lát cắt.

Nhân vật Ba Sang, Út Kiên, sư thầy… cũng đều ít nhiều được khắc họa tâm trạng. Đó là một Ba Sang sống có lý tưởng, có hoài bão, mạnh mẽ: “Thời buổi này binh nghiệp là đường tiến thân nhanh nhất, Hai à”[tr109] . Nhưng tiếc thay tất cả những hoài bão, lý tưởng của tuổi trẻ ấy lại được trao nhầm chỗ. Sự lựa chọn của anh, lợi ích cá nhân của anh lại đi trái ngược với lợi ích của cả dân tộc, thì anh sẽ “tiến thân” như thế nào đây. Quan niệm “mịch phong hầu” mà Ba Sang đang theo đuổi đã không thể áp dụng ở một dân tộc đang bị dấu chân của kẻ thù giày xéo. Ba Sang rơi vào bi kịch khi anh nhận ra con đường mình chọn là sai lầm, một sự sai lầm không còn đường quay lại, không thể lùi được. Còn gì đau khổ bằng khi chân cứ phải tiến về phía trước dù biết rằng, phía trước là hố sâu, là vực thẳm, là đường cùng. Một Ba Sang sôi nổi, nóng nảy, bạo dạn giờ chỉ còn là một cái bóng đối diện với chính sự lựa chọn nghiệt ngã của mình: “Đứng bên giường Hai Kim chỉ còn lại một cái bóng. Cái bóng nhìn xuống chị mà như không nhìn vào bất cứ thứ gì. Trống rỗng. Rồi chuệnh choạng, lầm lũi cái bóng đi về phía cửa. Không thở dài, không do dự, không quay đầu” [tr.115]. Vẫn là một Ba Sang mạnh mẽ, quyết liệt, dứt khoát nhưng thẳm sâu bên trong, Ba Sang đã có một sự do dự: “Cái bóng chững lại một nhịp” [tr.115]. Dù chỉ “một nhịp” chững lại, nhưng đó chính là nhịp của tâm trạng, của sự hối hận và day dứt, một nhịp để Ba Sang trở lại là một cậu em của Hai Kim ngày nào. Trong lòng Ba Sang là cả một sự ăn năn và mâu thuẫn. Chắc gì khi đinh ninh nói với Hai Kim: “Nó đi rồi về” mà lòng anh đã vững tin điều đó.

Nhân vật cũng đầy tâm trạng trong truyện nữa phải kể đến sư thầy Tuệ Tâm.  Khi nghe Hai Kim kể chuyện về đàn bướm, sư thầy: “Nhấp một ngụm nhỏ, thản nhiên nhìn gió” [tr 110] hay khi trả lời Hai Kim: “Là hiền thì không phải dữ. Đã dữ thì tất không hiền. Chuyện đến phải đến, quan trọng chi dữ hay hiền. Cốt yếu là cách con đối diện với nó thế nào.” [tr 110]. Dù là cử chỉ, hành động và lời nói thản nhiên nhưng ai có thể chắc rằng lòng sư thầy không dậy sóng. Chẳng một tôn giáo nào dạy con người không yêu thương quê hương đất nước của mình. Chắc hẳn trong sự ra đi theo cách mạng của chú tiểu, có sự soi dẫn của sư thầy Tuệ Tâm? Tình yêu đất nước của sư thầy gửi vào trong tiếng chuông, tiếng mõ khi tiễn những gót giày ra trận.

Ngay cả Út Kiên cũng là một nhân vật nhiều tâm trạng,sau “ánh mắt hiền hiền như con gái”. Ánh mắt ấy nói lên bao điều. Ánh mắt ấy là của một chàng thiếu niên với lý tưởng thật đẹp: “Phải làm cái nghề cứu người chứ nhất định không cầm súng đi bắn người” [tr.110].

Chiếc áo trắng của Út Kiên và còn bao nhiêu lưng áo trắng khác, những khuôn mặt non choẹt, những ánh mắt thảng thốt, ngơ ngác trên chiếc xe tân binh ra tiền tuyến là bấy nhiêu sự xót xa, sự lên án cho một cuộc chiến mà lẽ ra không đáng có. Nhưng Út Kiên chưa bao giờ non nớt và ngây thơ, càng không phải vì có ánh mắt hiền như con gái mà không dũng cảm. Anh đã có hướng đi, sự lựa chọn bằng việc lắng nghe tiếng quê hương réo gọi, từng đám hành, thửa đất đang cần anh bảo vệ. Trong suốt ba ngày trên chuyến xe vào Đà Nẵng, Út Kiên đã phải giằng xé và đớn đau bao nhiêu khi để tiếng nói của lý trí lấn át tình cảm. Một sự lựa chọn có thể đánh đổi bằng máu của người anh đang chảy chung dòng máu, lớn lên dưới một mái nhà. Và cả chị Hai Kim nữa. Út Kiên thương Hai Kim biết bao. Chỉ một chi tiết ngay phía đầu truyện, khi Hai Kim trói rồi gỡ anh ra, xoa dầu và rơi nước mắt, anh đã tự dặn lòng không bao giờ cầm tới súng ống, cũng đủ thấy anh thương yêu và kính trọng Hai Kim như một người mẹ. Càng thương anh, thương chị, Út Kiên càng rơi vào mâu thuẫn. Nhưng rất may, anh đã chọn được con đường đúng để đi, dù phía trước nhiều chông gai và vất vả. Dù bên tai anh ngày nào vẫn có tiếng loa ra rả trên đọt dừa, tiếng ông bác họ tự hào về dòng tộc đương có người làm vương, làm tướng.

Trong truyện còn có các nhân vật xuất hiện không nhiều nhưng cũng rất ấn tượng như ông bác họ với dáng đi thẳng và cuồng tín vào ông vua của làng, một chú tiểu gầy gò nhưng đôi mắt rất sáng. Đôi mắt sáng ấy đã dẫn đường cho chú đi theo lý tưởng cách mạng.

Giấc mơ đá vỡ ám ảnh người đọc bởi sự kết hợp chặt chẽ giữa hiện thực và huyền ảo thể hiện ở sự chắt lọc chi tiết của tác giả. Mô típ về giấc mơ vừa mang tính hiện thực vừa mang tính dự báo về mặt tâm linh. Dọc chiều dài câu chuyện, trước mỗi biến cố xảy ra, bao giờ nhân vật chính cũng có điềm báo: Đó là giấc mơ. Khi Ba Sang chuẩn bị vào trừ bị, Hai Kim đã mơ thấy đàn bướm bay về làng, từ đôi cánh mỏng ấy là những hòn đá từ đâu vỡ ra và rớt xuống làng. Giấc mơ ấy khiến Hai Kim thắc thỏm, như một người vô hồn, chị đi lên chùa mà quên mang bị trái cây, quên đem trả mấy quyển kinh cho sư thầy. Đêm trước ngày có lệnh tổng động viên, Hai Kim cũng mơ thấy đàn bướm và rồi hai người anh họ và Út Kiên cũng phải ra trận. Từ đây, mỗi đêm, giấc mơ ám ảnh chị là chiếc áo trắng của Út Kiên trổ dày đặc những lỗ đạn không ngừng phun tóe máu. Rồi ánh mắt của cả hai đứa em trai. Giữa giấc mơ và hiện thực gần nhau đến mức làm cho Hai Kim như điên, như dại. Chị sống vất vưởng, câm lặng như một người mất trí. Nhưng không, người mất trí vẫn run rẩy, quả tim vẫn thoi thóp, dường như ngày một bị teo tóp dần đi. Tác giả không cần miêu tả sự tiều tụy của thân xác vì nó có sá gì so với nỗi đau tinh thần mà Hai Kim đang phải gánh chịu.

Trong truyện, ngoài đàn bướm còn nhiều chi tiết mang tính dự báo cho sự sụp đổ của một chế độ, của vật đổi sao dời như: “Buổi chiều sâu mẹ, sâu con bò lổm ngổm từ những ruộng hành xơ xác lá lên hàng hàng lớp lớp trên đường”; “Đêm. Trong tiếng chó sủa nhắng, liên tiếp một trận mưa đá làm rớt cái loa vốn vẫn gắn cứng ngắc tít ngọn dừa. Cái loa giãy giãy lên đôi ba tiếng cuối ầm à, ầm ịt trước khi im bặt.”[tr.111]; “Và trong tiếng cơn mưa đầu hè không ngờ đến sớm âm âm gõ trên mặt ruộng hành khô khốc trước nhà, như khẽ gọi những mầm sống mới nào đó bật chồi” [tr.115]. Hay cảnh ngọn đá Dao vỡ dù trời không mây mưa, sấm chớp, gió bão. Mà ngọn đá ấy theo người làng truyền thì đó chính là vật trấn yểm cho làng, cho long khí. Đá Dao vỡ, long khí tan. Chi tiết mang tính huyền ảo làm tăng sức hấp dẫn cho câu chuyện.

 Có thể thấy ở Giấc mơ đá vỡ là cả một thế giới ảo diệu của chi tiết và hình ảnh đã nâng cánh cho nội dung và tư tưởng của truyện bay cao và xa. Dung lượng truyện tương đối dài, nhưng không có chi tiết thừa, tất cả đều được xếp đặt một cách logic để đi đến một cái kết đầy lạc quan của sự lựa chọn hợp lẽ. Vừa tố cáo chiến tranh phia nghĩa, vừa kêu gọi và hi vọng vào một sự thống nhất trọn vẹn, không đơn thuần chỉ là việc nối liền một dải đất.

Kết thúc truyện làm cho độc giả thêm tin yêu vào truyền thống bám làng giữ nước của dân tộc ta và dù có trôi dạt về tận phương nào thì đất mẹ vẫn mãi là tiếng gọi thiêng liêng trong trái tim của những người con máu đỏ da vàng.

Đâu đó, ẩn trong nụ cười duy nhất trong di ảnh của Hai Kim ở cuối truyện là một nụ cười thay muôn vàn sự thỏa nguyện./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}