Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn hóa:

 

Đôi nét về nền cảnh địa—văn hoá của nghệ thuật sân khấu cải lương

GS. Trần Quốc Vượng | Thứ Tư, 09/10/2013 16:23 GMT +7
(Văn Hiến)—Không—thời gian văn hoá của sự ra đời nghệ thuật sân khấu cải lương là mảnh đất Nam Bộ—nói riết ráo hơn là miền đồng bằng sông Cửu Long ở vài thập kỷ đầu (10—30) của thế kỷ XX.

 

Qui chiếu về tộc Kinh Việt thì mảnh đất Nam Bộ là “đất mới”, “mới” đây là tương đối mới so với Đất Tổ Bắc Bộ lưu vực sông Hồng “quê hương buổi đầu của người Việt” (Phạm Văn Đồng), cũng tương đối mới so với mảnh đất miền Trung Thuận Quảng.

Trong làng các anh chị em họ hàng ca kịch dân tộc thì sân khấu cải lương cũng mới hơn sân khấu chèo, tuồng dù cho đến nay cải lương cũng đã bước vào tuổi “cổ lai hy” thượng thọ, thượng thượng thọ rồi.

Theo sách Hí phường phả lục của Trạng nguyên Lương Thế Vinh bản in đời Cảnh Thống (1501) thì Trạng Lường dựa vào tài liệu cũ cũng chỉ có thể truy ngược đến các vị tổ sư phường Hí ở thế kỷ X—XI thời Đinh—Tiền Lê—Lý với Ưu bà Phạm Thị Trân, nhị vị ông làng, Sai Ất Từ Đạo Hạnh, Đào nương.

Không gian văn hoá các chiếng Chèo phân bố đậm đặc ở bốn xứ Đông—Nam—Đoài—Bắc của Châu thổ Bắc Bộ, nhạt loãng dần vào các xứ Thanh—Nghệ và hình như trước đây không vượt nổi Hoành Sơn, sông Gianh nếu ta không coi hát “bả trạo” của miền Trung là chèo mà có thể phân lập thành một loại hình nghệ thuật khác. Tôi mạn phép giới sân khấu học Việt Nam định tính chèo là nghệ thuật sân khấu ca múa nông dân miền Bắc, đặc biệt là chèo sân đình.

Tuồng Bắc cũng giỗ cùng Tổ với Chèo, vào tháng Tám lịch ta (Trung thu). Tôi đã xem sử chép về kép hát Lý Nguyên Cát tù binh Nguyên Mông thời Trần được giữ lại cung đình dạy ca múa, chép Thái sư Trần Nhuật Duật mê hý khúc cả ngày, chép Dương Nhật Lễ con nhà đào kép được quý tộc Trần nhận làm con và đoạt ngôi nhà Trần một đoạn cuối thế kỷ XIV. Tôi đã được nhiều nhà sân khấu học tài danh giảng giải về tuồng ta riêng và khác tuồng Tầu; song tôi vẫn thấy tuồng ngấm chất ngoại sinh Hoa hơn chèo và tôi xin mạn phép định tính tuồng vốn là nghệ thuật sân khấu ca múa cung đình (tuồng pho) sau mới dần dà dân gian hoá (tuồng đồ Nghêu Sò Ốc Hến chẳng hạn). Lại còn có những dị biệt giữa tuồng Bắc, tuồng Trung và tuồng Nam…

Có lẽ không gian văn hoá tuồng lan toả từ miền Bắc, rực rỡ ở miền Trung từ thời Đào Duy Từ (XVII) đến thời Đào Tấn (nửa cuối thế kỷ XIX) và lan toả hát bội (Bộ?) đến miền Nam. Rõ ràng không gian văn hoá tuồng triển nở rộng hơn không gian văn hoá chèo và khó nói chèo trực tiếp đóng góp ngọn nguồn cho sân khấu cải lương trong khi ta có thể nói như vậy về hát bội, hát bộ—ca ra bộ của “Tuồng”.

Nghệ thuật cải lương, em út của nghệ thuật ca kịch dân tộc hình như cũng khó mà có tờ giấy khai chính xác về năm tháng ra đời của nó cho dù đã có nhiều bậc tài hoa viết về Hí nghệ cải lương, nào Sơn Nam, nào Vương Hồng Sển, nào Hoàng Như Mai… Trong công trình khảo cứu Cá tính của miền Nam (Đông Phố, Sài Gòn, 1974) ở phụ lục 1 Hí nghệ cải lương (tr.138—144) Sơn Nam đã trích trọn bài trong Nông cổ mín đàm số 12, năm thứ 16 ngày 19—4—1917 tường thuật buổi diễn thuyết về Hí nghệ là một nghề nên cải lương tức là nên cải cách, thay đổi—TQV của ông Lương Khắc Ninh. Có một quyển khảo cứu công phu của ông Vương Hồng Sển Cải lương đã được 50 tuổi (Nam Chi, Sài Gòn—1970?). Hồ Biểu Chánh là một trong những người ủng hộ việc sáng lập ngành sân khấu cải lương (1910—1920). Vậy đặt sự ra đời của sân khấu cải lương vào những năm 10 của thế kỷ XX là hợp nhẽ. Đến thập kỷ 30 thì sân khấu cải lương đã định hình và phát triển rất đậm đặc “Cá tính miền Nam” mà lại có sức lan toả ra cả nước về sau.

Đọc và học Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Hoàng Như Mai, Mịch Quang, Nguyễn Văn Trung … tôi có vài thu hoạch nhỏ bé sau đây:

1. Đất Nam Bộ có cơ tầng văn hoá Óc Eo rồi từ thế kỷ XVIII có một lớp phủ dầy văn hoá Việt lan dần từ Đông sang Tây Nam Bộ, thành nền tảng văn hoá Đồng Nai—Gia Định dân Việt chuyên chở di sản văn hoá Việt từ Trung Nam Bộ vào miền “đất mới”. “Đất mới” còn thu hút người Hoa, người Chà, người Ấn…

Giao lưu và giao hoà văn hoá. Thích nghi và biến đổi. Nảy sinh cái mới: Hò miền Nam, nói thơ Vân Tiên… Hát bội (tuồng đậm ảnh hưởng Hoa) phổ biến, mọi người ưa thích. Nhiều gánh hát bội riêng của quan to, nhà giàu từ thời Lê Văn Duyệt (đầu XIX). Xuất hiện một tầng lớp trung—thượng lưu và trên nền tảng làm ăn khấm khá, dù cực nhọc nhưng nhàn rỗi. Từ đó nảy sinh phong trào ca nhạc tài tử, gốc từ nhã nhạc miền Phú Xuân—Thuận Hoá (Huế).

2. Đất rộng, người thưa, làm ăn mau khá, lúa dư, hàng dư, hệ sông rạch chằng chịt. Nảy sinh dân thương hồ (buôn bán bằng xuồng ghe) và “đạo đi buôn”:

Đạo nào vui bằng đạo đi buôn
Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông.

Ở những vùng “giao thủy” (nước ngọt/ nước mặn = nước lợ) mọc lên các thị tứ, thị trấn kiểu như:

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định Đồng Nai thì về.

Đất rộng rãi, nông phóng khoáng, cá đầm đìa, nhà không rào, làng không lũy, thương hồ phiêu lãng: Phóng khoáng, hiếu khách, hiếu khách là “cá tính miền Nam”. Có nhà nghiên cứu bảo: miền Bắc nặng tình, miền Nam nặng nghĩa trong cùng một tình nghĩa Việt Nam.

3. Đã giao hoà văn hoá từ trước. Tây sang (giữa XIX) thì Nam, sớm hơn Bắc, bước vào quá trình “100 năm giao thoa văn hoá Đông—Tây”. Việc học và thi cử theo Nho bỏ sớm, trường học mới (Tây học) mọc lên sớm. Chữ Quốc ngữ sử dụng sớm. Tiểu thuyết Tây, Tầu, kịch Pháp…được dịch ra chữ Quốc ngữ sớm mà Sơn Nam thu vào bốn chữ “Thơ—Tuồng—Truyện—Tích”. Có tinh hoa Á Đông mà cũng có chút hương vị Tây phương: Đấy là thị hiếu mới của các tầng lớp dân chúng miền Nam, từ trên chí dưới. Nói thơ, nói truyện, nói lối, đờn ca tài tử, ca ra bộ (vừa ca vừa diễn xuất)… Tiếp xúc, đan xen, biến đổi văn hoá văn nghệ. Hài kịch Pháp phổ biến ở một số trường học, tuồng cổ điển với màn cảnh bố trí rõ rệt, đồng thời có thêm chút phông cảnh thích hợp. Dân không thích ngay thoại kịch (chỉ kịch nói).

Nhưng dân Nam cũng không thích lắm nữa tuồng cổ chỉ ca và tích Tầu bi hùng đạo lý. Và ca ra bộ, nói lối là màn dạo đầu của sân khấu cải lương.

Nước mất, nhà tan…thì có sáng tác của ông Sáu Lầu (Cao Văn Lầu) “Dạ cổ hoài lang”, rồi cùng ông và các nghệ nhân dân gian khác cứ phát huy mãi thành Vọng cổ với số nhịp ngày càng tăng được tích hợp vào và làm sáng ra sân khấu cải lương mùi mẫn:

Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.
(Liễn, 1920)

Như vậy, theo nghĩa hẹp sân khấu cải lươnng là kết quả ảnh hưởng kịch nói Tây vào sân khấu ca kịch dân tộc cổ truyền (Hát bội). Diễn xuất hát bội mang tính chất tượng trưng ước lệ, cải lương noi theo kịch nói hướng hiện thực. Hát bội thiên về đạo lý, cải lương hướng trữ tình. Sân khấu cải lương là một sự hoà trộn Ta—Tầu—Tây, ban đầu còn sượng (crue) như cái sống xít của tiếng Việt vùng “đất mới” pha Việt—Tầu—Khơ me. Nhưng với thời gian nó đã được tinh tế hoá dần dần. Đã có lúc ở Việt Bắc, người ta muốn “khai tử” cải lương, như người Bắc ban đầu không ăn được rau diếp cá, giá sống, sầu riêng…Riết rồi quen và say. Cải lương lan rộng ra cả nước. Sau 1975 miền Bắc có nơi thích xem cải lương hơn xem chèo. Đó là sự thực…

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}