Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn nghệ sỹ:

 

Đóng góp của Văn Cao vào thơ đương đại

Vũ Quần Phương (Hội Nhà văn Việt Nam) | Thứ Tư, 12/02/2014 15:49 GMT +7
 Ông họ Nguyễn, Nguyễn Văn Cao, sinh ngày 15/11/1923 tại Hải Phòng. Quê gốc; xã Liên Ninh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.

Văn Cao (ảnh bên trái) là một nghệ sĩ đa tài. Trước cách mạng, ở tuổi hai mươi, ông đã là một nhạc sĩ nổi tiếng với nhiều ca khúc trữ tình đầy ý vị, lãng mạn thanh khiết, sang trọng, kỳ ảo, cả trong giai điệu lẫn lời ca Thiên thai, Trương Chi, Suối mơ, Buồn tàn thu, Cung đàn xưa... Văn Cao quan niệm không gian nguyên khôi của sự sống, thuở trăng nước chưa thành thơ, thuở hoa xuân chưa gặp bướm trần gian thì âm nhạc là nghệ thuật đầu tiên rụt rè xuất hiện.

Và ngay trong phút còn phôi thai đó, âm nhạc đã làm gió có hồn (vương vất heo may), làm chim hoa biết đợi, hoa yến mong chờ, để hòa điệu và thời gian biết chuyển nhịp để thành mùa.

    Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ/ Trầm trầm không gian mới rung thành thơ/ Vương vất heo may hoa yến mong chờ/ Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ.

    Văn Cao cũng là tác giả nhiều ca khúc cách mạng, tràn đầy lý tưởng và ý chí chiến đầu từ những ngày tiền khởi nghĩa, trong đó có Tiến quân ca, được chọn làm quốc ca khi cách mạng thành công. Trong kháng chiến chống Pháp, Sông Lô là khúc tráng ca chiến thắng, bề thế phong vị sử thi và đầy thơ mộng. Bất lực trong phân tích giai điệu nhạc xin được nương tựa vào lời ca Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu Phẩm chất thơ ở câu hát này là sự cảm thu sông núi Việt Bắc rất tinh tế và có sức khuê gợi.Lời mà như tranh. Đọc ca từ lên mà nhưng đang ngắm bức vẽ thiên nhiên, vàng biếc gần xa, nỗi chìm mờ ảo, sóng trên sống và sóng những mái nhà... Ông vốn là một họa sĩ nhiều tìm tòi tiên phong trong nét, trong màu, trong bố cục. Chỗ gặp nhau của nhạc sĩ và họa nơi ông là một cách cảm thụ thực hiện của tâm hồn, là cách tâm hồn đọc vào trí tuệ, đọc vào mối tương quan triết học của tạo vật. Cách cảm thụ ấy bộc lộ khá rõ và dễ chứng minh hơn khi ta tìm vào mảng nghệ thuật ngôn ngữ - tìm vào thơ.

Với thơ, Văn Cao có một cách đi riêng so với các nhà thơ đồng hành. Trờ mấy bài đầu, viết năm 1941, có chịu ảnh hưởng của cảm xúc Thơ Mới. Từ bài Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc, viết năm 1945, ông đã tạo ra một giọng thơ khác lạ. Khác lạ ở chỗ gọn và sắc. Lời gọn và ý sắc. Các  hình ảnh liên tiếp xuất hiện như những biểu tượng ôm chứa nhiều cấp ý nghĩa đời sống. Y nọ bồi  đắp cho ý kia, không dựa vào sự mạch lạc hay sự nối liền của văn phạm ngôn ngữ. Chất liệu thơ ông như gạch xếp lên nhau mà thành công trình, không cần vôi vữa. Ông không nói ý mình vào bài thơ, ông để hình ảnh, đúng hơn là những biểu tượng, tự lên tiếng. Nhận ra được tiếng nói của hình ảnh trong thơ ông không phải lúc nào cũng dễ, nhưng người đọ, ngay lúc khó nhận, vẫn mơ hồn cảm được nỗi lòng tác giả, thái độ tác giả. Đó là nhờ sức tạo ấn tượng của hình ảnh. Thơ ông rất tạo hình. Ông dùng bố cục của tạo hình mà diễn đạt tâm trạng: Tất cả tình yêu khát khao hy vọng/ Bốc lên trong lòng/ Rơi xuống những giọt nước mắt.

Chúng ta thấy được những gì? Thấy: tình yêu, khát vọng - thấy bốc lên, rơi xuống. Bốc lên thành hy vọng. Rơi xuống thành nước mắt. Cách diễn đạt ấy tạo nên tính hàm súc trí tuệ cho thơ Văn Cao. Cũng là đóng góp của Văn Cao vào việc làm mới câu thơ đương đại. Thủ pháp này chưa có ở Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Hàn Mặc Tử, cũng chưa có ở Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên trong phong trào Thơ Mới. Ở Văn Cao những cảm nhận có tính tình cảm đều được gạn lại, cô đọng vào tinh chất có tính khái quát do vậy tình cảm kết tinh thành trí tuệ, gợi mở vào triết học. Bài Thu cô liêu trong cảm hứng chung còn hơi hướng của Thơ Mới, những trong từng câu, từng ý thì cách cảm có nhiều khác biệt, nhiều cân nhắc chữ nghĩa, hình ảnh cốt sao dung lượng hàm súc và ý tưởng mới mẻ: Thu cô liêu/ Tịch liêu/ Cô thôn chiều.

Trong tập thơ Văn Cao vừa xuất bản có dấu hoa thị chú thích: tịch tiêu chứ không phải tịch liêu. Tịch  có năm nghĩa, ở đây chắc lấy nghĩa yên lặng. Tiêu có tới bẩy nghĩa, ở đây chắc dùng nghĩa mất đi. Nhưng không tra tự điển thì người đọc qua hai âm thanh tịch tiêu cùng với sự cộng hưởng ý nghĩa của câu trên đó và câu dưới đó, cũng cảm nhận được ý nghĩa gần sát với dụng ý của tác giả. Bài thơ này được phổ nhạc, nhiều ca sĩ hát nhầm thành tịch liêu, vi tịch liêu là tiếng phổ biến còn tịch tiêu là do Văn Cao tạo nên. Đây là ví dụ cho thấy sự kỹ tính trong ngôn ngữ thơ của Văn Cao. Nhưng để độ giả đọc nhầm thì e sự kỹ tính ấy cũng có phần cầu kỳ. Trong giai đoạn sau, sự cầu kỳ trong ngôn ngữ thơ Văn Cao mất dần. Ông hạn chế dùng từ Hán Việt để dùng từ thuần Việt, từ dễ hiểu. Nhưng sự tinh tế thì ông luôn phát huy. Đọc Văn Cao thấy khó, không phải khó về từ mà khó về sức ôm chứa sâu và rộng của câu thơ. Sâu rộng về ý và cả sâu rộng về tình. Bài thơ Đôi bạn, tặng Nguyễn, nói hai người tri kỷ: Chúng tôi nói như không nói/ Im lặng nói nhiều hơn. Họ thuộc từng lớp bụi trên cái bàn nơi gặp nhau hàng ngày, họ quen với căn phòng ít khi được dọn dẹp với đống đồ vật ngày càng cũ nát. Và thời gian thì cứ phủ lên, làm mờ dần mọi vật, kể cả họ. Đến mức hình như họ không còn trông thấy nhau, không biết những chuyện riêng của nhau. Nhưng hai dòng thơ cuối, nó là một ý tách hai dòng: Chúng tôi hai mươi/ Một bóng...

Sức chứa của những chi tiết trong bài, đi từ hẹp đến rộng, gợi nhiều nghĩ ngợi, chia sẻ nhiều chiêm nghiệm và đầu sâu nặng tình đời. Ấn tượng của thơ đi từ hình ảnh vật lý. Hai người một bóng, một tư duy hình tượng. Chứ không phải đi từ nghĩa của chữ Ta với mình tuy hai nhưng một như kiểu Tản Đà nói chuyện với ảnh, là tư duy khái niệm. Tác động của tư duy khái niệm không trực tiếp vào giác quan bằng tư duy hình tượng.

Bài thơ dài Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc viết năm 1945 và trường ca Những người trên Cửa biển năm 1956, ghi nhận hai mốc thành tựu trên một hướng tìm mới của Văn Cao. Ông đã ra khỏi khí quyển của Thơ Mới. Ra khỏi cảm xúc, ra khỏi tư tưởng và điều đáng nó là ra khỏi cách thể hiện của Thơ Mới trong cả cách làm câu và cách dựng bài. Một hơi thơ rắn khỏe, gọn và sắc. Sắc gọn như vũ khí. Chiếc xe bò chở xác người chết đói, từ ranh giới địa gục trần gian vào địa ngục âm ty:  Bánh nghiến nhựa đường kêu sào sạo/ Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe/ Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề/ Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực.

Nếu bài viết năm 1945 còn quẩn những Hán tự, phảng phất hơi hướng một hồn xưa đất lạ Mang mang thở dài hồn đất trích thì bài năm 1956 toàn bộ là tiếng nói của thường ngày mà vẫn sâu nặng tình và ý: Những bóng cò trắng như giấc mộng/ Đưa võng đời tôi những buổi chiều dĩ vãng/ Sáng trưa u ú còi tầm/ Đêm dài nghe mưa dầm dãi/ Tôi không có quê hương.

Hướng tìm ở thơ Văn Cao là không để tác giả nói chõ vào thơ mà để hình tượng thơ tự nói. Người đọc cũng phải tự mà nghe ra. Phải khám phá để nghe ra:  Buổi sáng nay cả phố phường như mở hội/ Mọi con người đeo mặt nạ đi chơi.

Hội hóa trang hay sao mà đi chơi cũng đeo mặt nạ. Chắc không phải, bởi: Ô kìa/ Nước mắt mồ hôi/ Sao chảy ra trên từng mặt nạ.

Hình tượng không nói để ta nghe, hình tượng chỉ tồn tại để ta nghĩ. Đọc Văn Cao là đọc vào cái tứ của bài thơ, nó đụng vào sức khái quát, nó đòi phẩm chất trí tuệ của người đọc. Tính đại chúng và tính nâng cao buộc nhà thơ phải lựa chọn. Văn Cao đã chọn con đường khó. Ông tin vào tương lai. Trước mắt ông có thể không đông bạn đọc nhưng tương lai những bạn đọc sâu sắc sẽ thuộc về ông.

Những năm sáu mươi, bảy mươi, thơ Văn Cao chìm trong suy nghĩ nội tâm, có tính cách chiêm nghiệm cuộc đời. Văn Cao đi qua cuộc đời khá nhiều éo le, vất vả. Ông nghiệm thấy: Có lúc đi trong rừng một mình mà không sự hổ.

Lại có lúc chỉ nghe tiếng gió thổi rên lá cây cũng sợ. Và, có lúc nước mắt không thể chảy ra ngoài được. Năm 1957, 34 tuổi, Ông viết bài Tuổi già đến. Theo ông, già là khi lòng người ta nguội đi khao khát, sống thờ ơ bên cạnh mọi âm thanh màu sắc. Sự sống sôi động chỉ còn là tiếng vang hè nhè nhẹ trong dĩ vãng. Nhưng Nam Cao chưa già, dù ông buồn mà nghĩ thế, khi ở hai câu thơ cuối bài, ông giữ được mùi hương của dĩ vãng:

Dĩ vãng giữa một tôi như một mùi cỏ
Thơm ủ trong tóc người yêu

Chất thơ mang tính triết chính là chỗ phát hiện ra năng lực của hương dĩ vãng. Ở đấy, trong phép tư duy thông thường, người đọc thầm hiểu có những dĩ vãng không lên hương. Đậm đặc tính thơ là cái hương dĩ vãng ấy là một mùi cỏ thơm ủ trong tóc người yêu. Sức nặng hàm súc từ tình cảm chuyển hóa sang trí tuệ là một đóng góp trội của Văn Cao cho thơ Việt đương đại chúng ta vốn nặng nề về tình cảm mà còn nhẹ về tư tưởng.

So sánh với giai đoạn những năm bốn mươi, thơ Văn Cao sau này càng giản dị trong cách nói và sâu sắc trong đời. Ông nhận ra những bó hoa chất ngất mừng thành công có thể chất thành nấm mồ chôn con người thành công ấy. Ông quan sát ở các quán bia hà Nội thời bao cấp, bài thơ viết năm 1967, người ta uống rỗng những thùng bia/ Uống đến hết một ngày đang hết/ Uống đến hết một năm sắp hết mà người ta còn liếm môi.Và ông phát hiện: Người ta xếp hàng không phải vì thèm bia mà vì thèm sống, thèm đám đông, đám đông ở bên ngoài đi lại và đám đông ơ bên trong đông đặc. Thèm đến phải liếm môi. Phát hiện ấy là phát hiện của lòng yêu đời sâu sắc, chống lại cô đoen. Văn Cao có đặc tính chung của những nghệ sĩ thực tài là yêu đời thấm thía. Vất vả cực khổ đến mấy vẫn thấy đời người thật đngs yêu, con người bao giờ cũng hay lắm. Con người ngủ trong căn  nhà chật nhưng lại có giấc mơ cảu những ngôi sao và những ngôi sao nhấp nháy trên kia là đang kể chuyện giấc mơ của một con người.

Ông lại nói: gương mặt sáng trongvaf bình lặng của con người đặt trên cỏ thì làm xanh lại cỏ, đặt trên núi thì làm mềm nét núi.

Văn cao có một chùm thơ về đám bạn bè nghệ thuật, đa sô viết vào năm 1967: Bùi xuân Phái, Nguyễn Tuân, Nguyễn Sáng, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng... Ông vẽ chân dung tâm hồn từng người, nhưng chủ yếu ông tìm ra nét đặc thù của cả một lớp người ấy trong giai đoạn lịch sử ấy. Các bức chân dung thường ít nét nhưng lên được tinh thần.

Với Bùi Xuân Phái là dãy phố, phố Phái:

Không người ở
Không số nhà
Không tên phố
Những người đưa thư vẫn tìm đến được

Người ta tìm đến được Bùi Xuân Phái vì ông không lẫn vào ai. Một đặc trung của nghệ thuật qua cách cảm nhận và thể hiện của Văn Cao, vừa sâu sắc vừa dễ hiểu. lại rất đặc trưng Bùi Xuân Phái.

Có một bài thơ, văn Cao viết năm 1970, gợi một thích thú lặng lẽ. Ấy là Người đi dọc biển. Biển vừa qua đêm, bãi cát tinh khôi không dấu chân người. nếu biển là biểu tượng của cuộc đời và người đi dọc biển ấy là một nghễ sỹ thì chắc hẳn anh không phải than thở như có người đã từng than thở: ta sinh ra quá muộn mọi sáng tạo thiên hạ đã làm cả rồi. Anh sẽ tự tin mà khai sáng. Cái khó với anh là ở chỗ khác: đến sáng mai thì dấu chân anh in trên cát sáng nay cũng không còn. Bài thơ như thế cũng đã thi vị nhưng chưa hết văn cao. Ông phát hiện ra một cái vỏ chaai lấp lánh, một dấu vết của người đến trước. Đến trước một đêm hay trước cả một thiên niên kỷ? Điều đó nghĩ kỹ cũng không quan trọng. Điều quan trọng là cái chai đó còn mang hơi rượu. Dấu vết một đời người, một sự nghiệp nhiều khi chỉ là một hơi rượu còn đọng trong cái vỏ chai lăn lóc. Nghĩ như thế cuộc đời đáng để ta say biết bao nhiêu. Tôi không chắc mình đã hiểu đúng Văn Cao. xin bạn đọc chúng tôi, chúng ta cúi xuống trang thơ Văn Cao. Hình như hơi rượu, cái vị làm say mọi thế hệ người còn vương trong đó.

Một nhận xét cuối; Những bài thơ Văn Cao gần như lời độc thoại. tác giả nói về đời mình với chính mình. Nói với mình nên chẳng cần dài, chỉ cần ấn tượng. Nhờ ấn tượng mà nhớ được, không phải nhớ do vần nên chẳng cần vần. Không vần dễ hơn có vần. Nhưng cái khó, rất khó, ấy là tạo ấn tượng cho câu thơ./.

Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam

Tags : huyện vụ
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}