Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Du lịch, văn hóa và du lịch văn hóa: Vòng xoay quan hệ

Trần Quốc Vượng - Trần Thúy Anh | Thứ Tư, 18/11/2015 10:24 GMT +7
Bài viết nhìn nhận du lịch và văn hóa từ góc độ từ nguyên, đồng thời xem xét tinh thần, cốt lõi của hai khái niệm này. Du lịch văn hóa, với tư cách là sản phẩm của hai khái niệm trên, được nhìn nhận như một tiêu điểm của du lịch Việt Nam hiện đại với các khía cạnh quản lý cần quan tâm, song hành với nó là nhiều thách thức cần có những giải pháp phù hợp.
 
Du lịch và văn hóa - đôi điều về chữ nghĩa
 
Du lịch là một từ, khái niệm Hán Việt, cố nhiên có gốc Hoa - Hán. Tra cứu Hán tự tố nguyên: Chữ du viết là 遊 với phần gốc chữ không kèm bộ thủ mang nghĩa là lá cờ hoặc tua cờ để trang trí, sau thêm bộ Thủy (氵) hay bộ Tẩu ( 辶) mang hàm ý chuyển động như nước chảy, chân đi, tạm dịch là chơi, đi chơi, rong chơi. Chữ lịch viết là 歷, Giáp cốt văn của chữ này mang hình tượng như một bàn chân đi; kim văn sau thay hai chữ mộc (木) bằng chữ hòa (禾) và thêm bộ xưởng (厂) chỉ vách đá rồi sau đó lại được phân hóa, đơn giản hóa thành chữ lịch. Ta có thể dịch chữ này là trải qua, trải nghiệm. Như vậy, du lịch nhìn chung được hiểu là đi chơi và trải nghiệm (1).
 
Con người biết đi từ thời tiền sử khi đã đứng được trên hai chân. Lúc đầu là để kiếm ăn, sau là đi công chuyện, đi chơi hoặc kết hợp cả hai. Tư thế đứng thẳng cho phép con người làm hai việc cùng một lúc: đi, dịch chuyển và nhìn, tầm mắt được mở rộng hơn ra chung quanh do tầm cao được nâng lên. Với một phương thức di chuyển linh hoạt đi kèm với nhu cầu nhìn xa trông rộng, khiến loài người ngày càng phân cư rộng khắp trên thế giới. Sự hành lữ ở thời điểm đó nhằm khai thác những vùng đất mới, không đơn thuần là thỏa mãn sự tò mò.
 
Ngày nay, giữa loài người với nhau lại có những cái khác quy định bởi tính dị biệt của lối thích nghi, thích ứng và cộng sinh cộng triển với các môi trường cảnh quan, xã hội. Chính bởi những cái khác nhau đó đã thúc đẩy con người thích đi tới các vùng đất mới, khác lạ với nơi sống của mình. Giờ đây, chúng ta hành lữ là để tìm hiểu những lối sống trong các môi sinh khác nhau, cũng như là một cách giải phép biện chứng giữa hai nét tâm lý thích thân quen và chuộng lạ.
 
Với các thiết bị và thể chế hiện đại, lữ hành theo đó ngày càng xa, dài hơn, thời gian lại được rút ngắn, cái cần xem trên trái đất này cũng vì thế nhiều thêm. Đi tham quan trong thời gian ngắn, hạn định trở nên hết sức đại chúng và do đó, du lịch cũng đã tự trở thành một bộ phận cơ hữu của đời sống và lối sống hiện đại.

Văn (文?) nghĩa gốc là xăm mình (2). Trang Tử viết: Việt nhân đoạn phát văn thân, nghĩa là người Việt cắt tóc, xăm mình. Sau này, hiểu rộng ra thì văn nghĩa là làm đẹp, làm đẹp ngôn từ trong văn chương, văn học, trang trí kiến trúc, lối sống, cuộc sống. Hóa (化?) nguyên giáp cốt văn vẽ hai hình người, một đứng thẳng, một đứng lộn đầu xuống dưới giống như diễn viên làm xiếc, hàm ý biến đổi, biến hóa (3). Vậy theo nguyên nghĩa, văn hóa là biến đổi cho thành đẹp. Trong Ý thức hệ Đức được viết vào năm 1845, 1846, Karl Marx và Engels đã đưa ra ý tưởng văn hóa là sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp. Đẹp thân xác, xăm mình, bôi môi son má phấn; đẹp món ăn, bày biện cho đẹp mắt; đẹp cái mặc, trang phục, khuynh hướng, xu hướng, thị hiếu thay đổi theo thời gian khác; đẹp cái ở, kiến trúc, trang trí kiến trúc nội, ngoại thất; đẹp trong giao tiếp hành xử… Trong nghĩa đẹp đã hàm ẩn cả chân, thiện, mỹ, sự trung thực, tốt lành, ích lợi, chịu chơi, chơi đẹp.

Nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi có nhiều di tích, di chỉ, công trình kiến trúc, ẩm thực, nghề thủ công, lễ hội..., Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Khách du lịch trong hay ngoài nước đều chọn Việt Nam làm điểm đến để cảm thụ, cảm nhận các nền văn hóa khác nhau, lối sống trong bối cảnh đa dạng cảnh quan, sinh học. Do vậy, định hướng của ngành du lịch Việt Nam là: du lịch văn hóa và sinh thái. Muốn thu hút lượng khách du lịch đến tham quan và đạt được doanh thu từ du lịch bậc cao thì cần ba điểm: một tập thể nhân lực du lịch có trình độ hiểu biết cao về những biểu tượng văn hóa; bảo vệ, tôn tạo phát huy các môi trường sinh thái, di tích văn hóa lịch sử; các hoạt động văn hóa, các thành, sản phẩm văn hóa.
 
Du lịch văn hóa
 
Du lịch văn hóa là loại hình chủ yếu hướng vào việc quy hoạch, lập trình, thiết kế các chuyến lữ hành tham quan những công trình văn hóa cổ kim. Nói rộng ra, đó là việc thúc đẩy hay khuyến khích mọi người đi tham quan, hành lữ tới nhiều nơi để vui chơi đồng thời học hỏi những khía cạnh của tri thức nhân loại, phong tục, tín ngưỡng, di sản, di tích, di vật lịch sử của một cộng đồng chủng tộc, tôn giáo hay xã hội. Tất cả những điều đó, theo chia sẻ của bà Leticia C. Tan từ đoàn Philippines tham dự Hội thảo về du lịch văn hóa của SEAMEO (Southeast Asian Ministers of Education Organisation) vào tháng 6-1995, thế giới đã sử dụng du lịch văn hóa như phương tiện để truyền lại các của báu đó cho các thế hệ nối tiếp.
 
Nhìn trong mối quan hệ tương hỗ với văn hóa, du lịch văn hóa mang đến cho con người nhiều thể nghiệm lữ hành có thể cung cấp cho sự tán thưởng, đánh giá và hiểu biết về văn hóa như một tổng thể các thế ứng xử, những tính cách của cư dân, dân tộc được thể hiện trong suy tư, lời ăn tiếng nói, hành động. Văn hóa thẩm thấu qua du lịch văn hóa định hướng một hệ đặc thù về tư tưởng, tín ngưỡng, giá trị, phong tục tập quán, tri thức và những hành vi khác.
 
Hiệu quả cũng như lợi ích trông thấy của du lịch văn hóa có thể điểm qua là: tạo công việc, thúc đẩy thu nhập của cư dân địa phương ở gần các nơi, điểm du lịch qua một loạt các dịch vụ kinh doanh như quầy bán hành lưu niệm, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ vận tải; hiểu biết văn hóa hơn giữa các xã hội khác nhau; phục sinh, bảo tồn, bảo vệ di sản văn hóa, hoạt động văn hóa và các hình thái nghệ thuật. Tuy nhiên, cũng phải chú ý những mặt tiêu cực khi phát triển du lịch văn hóa như: đổi thay đi kèm du lịch không thể tránh khỏi nhiều khi quá mạnh với các cộng đồng lâu nay sống với nhịp điệu chậm, thong thả, thận trọng với những truyền thống và tập tục; một số giá trị hiện đại có thể ảnh hưởng đến toàn cộng đồng; cộng đồng này lại có thể thiếu thận trọng và thiếu vật chất trong việc duy trì và bảo dưỡng khiên văn hóa chống lại những tác động tân thời đó; vấn đề môi sinh tự nhiên có khả năng bị đe dọa, di tích lịch sử cũng dễ bị xâm phạm, phá hoại.
 
Vấn đề được nhiều học giả quan tâm đó là việc phát triển du lịch văn hóa dẫn tới thương mại hóa văn hóa. Thực chất, đây vốn là một khái niệm mà Theodore Adorno đã nói tới từ thập niên 40 của thế kỷ trước, theo đó hoạt động văn hóa, tài sản văn hóa bị đem ra làm thương phẩm cho khách tham quan du lịch. Bên cạnh đó, khi tính kinh tế và lợi ích thương mại được coi trọng, thì tính chân thực lại bị xâm phạm, đi kèm với đó là các giá trị cũng bị xuống cấp. Du lịch, do đó, giống như lửa, nó có thể nấu thức ăn hay làm cháy nhà, điều đó phụ thuộc vào việc kiểm soát nó như thế nào?
 
Chìa khóa để quản lý việc phát triển bền vững du lịch văn hóa nằm ở các mấu, ngạnh: kiểm soát kế hoạch; bảo vệ tài nguyên văn hóa, du lịch; thực sự phải để văn hóa đóng vai trò chủ chốt trong khai thác hoạt động du lịch; hợp tác giữa nhà nước và tư nhân một cách nhuần nhuyễn, hai bên cùng có lợi.
 
Đối với du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng đều cần phải có sự quy chuẩn và kiểm soát bằng những chính sách. Chiến lược phát triển đó nhất thiết phải quan tâm đến những đặc trưng cơ yếu của môi sinh tự nhiên, môi trường xã hội cũng như các nhu cầu cần thiết, nguyện vọng của nhân dân. Sự khó khăn của các nhà hoạch định chính sách là phải đương đầu với những xã hội phức hợp mà xã hội Việt Nam là một điển hình. Mặt khác, các xã hội đó lại được phòng thủ bởi nhiều định hướng giá trị và một chuỗi những thông số đạo đức. Mọi xã hội, với quyền của chúng đều dấn vào cuộc đua tranh phát triển tiềm năng du lịch của mình và người làm chính sách cũng phải nương theo đó mà thích nghi để có được những quyết sách đúng đắn và hợp thời thế.
 
Văn hóa là tài nguyên vô hạn của du lịch, du lịch văn hóa lại là sự thoát thai từ mối quan hệ tương hỗ đó. Việc có thể tạo ra một tương lai bền vững cho cả ba yếu tố của mối quan hệ chân vạc này nằm ở trong tính ổn định và hiệu quả của tam giác quan hệ: chính quyền - doanh nghiệp - cư dân. Sự đồng thuận và kết hợp thuận hòa của tam giác sẽ đảm bảo cả về mặt nhận thức cũng như hiệu quả kinh tế, hiệu năng trải nghiệm mà văn hóa, du lịch và du lịch văn hóa mang lại.
_______________
1, 2, 3. Lý Lạc Nghị và Jim Waters, Hán tự tố nguyên, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1997, tr.151, 850, 273.
 

Nguồn: Tạp chí VHNT số 357

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}