Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Đưa cha về quê ngoại

Chủ Nhật, 21/06/2015 04:04 GMT +7
Lê Thị Bích Hồng

Trích trong tập truyện ký VỆ ĐÊ TRONG ĐÊM TRĂNG. Một nén hương thơm kính dâng hương hồn cha nhân NGÀY CỦA CHA 21/6/2015.

 

Là người làng Vân Thê, xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế, ba cùng bác và chú tôi tập kết ra Bắc năm 1954 khi trên mình còn mang đầy thương tích từ cuộc kháng chiến chống Pháp. Lại tiếp tục bước vào cuộc hành trình chống Mỹ cứu nước và Tết Mậu thân 1968…ba lại lỗi hẹn với Huế, với dòng Hương giang, với thôn Vân Thê…Trước khi chờ kết quả thi đại học, tôi đã cùng ông ngoại đưa hài cốt cha về quê ngoại: Thôn Trác Bút, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Hành trình khởi đầu của một chuyến “xê dịch” lịch sử đã làm nên một bước ngoặt lớn trong cuộc đời. Năm ấy tôi vừa tròn 18 tuổi…

Tôi cùng ông ngoại, chú Quang có mặt ở Nghĩa trang chưa đến 4 giờ sáng. Tay tôi run run, không bật nổi que diêm. Lần đầu tiên thắp hương trên mộ ba. Cũng lần đầu tiên tôi mới biết khóc cha. Tiếng khóc dồn nén, chợt vỡ oà như trăm ngàn mảnh thủy tinh vỡ. Và cũng đến lúc này đứa trẻ mồ côi như tôi mới thấm thía, xót xa nỗi mất mát này. Hơn 10 năm trước đó, tôi trân trân nhìn mẹ vật vã, gào thét đớn đau “Anh ơi! Sao nỡ bỏ mẹ con em…Anh hẹn đưa mẹ con em về Huế mà…”. Thấy mẹ, em Hiền khóc thét đòi bế. Em Thủy ngơ ngác xà xuống bên mẹ. May mắn hơn hai em, tôi từng được gọi ba, từng được cha nâng niu, vỗ về, chăm sóc… Tiếng khóc của mẹ găm vào lòng, chà buốt vào trái tim non nớt của tôi cho đến bây giờ…

Cụ quản trang làm thủ tục bốc mộ. Từng xẻng đất xúc lên cũng là bấy nhiêu lần tôi thót tim... Ông ơi nhè nhẹ tay thôi kẻo làm ba con đau. Trên mình ba đầy thương tích. Mảnh đạn vẫn sâu xoáy trong da thịt nhức buốt, hành hạ ba mỗi khi trái gió, trở trời. Chúng ký sinh trên cơ thể, nhức nhối hành hạ ba không yên. Ba đã điều dưỡng ở nhiều trại thương binh. Mẹ bảo đế giày, dép ba đi bao giờ cũng mòn vẹt một bên. Ba thường đi tập tễnh… Ba đấy ư? Ba đã từng đưa con theo đơn vị bộ đội, đã dạy con từ nét chữ đầu tiên, rịt từng chỗ đau khi con ngã, nấu bát cháo nóng khi con ốm. Ba kể chuyện con ngủ gật rơi vào chỗ rơm phơi ngoài đường. Thế mà con vẫn ngủ quay quắt...

Ba đi khi chị em tôi còn quá nhỏ để hiểu những mất mát và tổn thất ghê gớm. Thời gian là liều thuốc bù những nỗi đau, băng bó, làm lành vết thương rỉ máu. Thời gian làm tôi vỡ lẽ dần những điều chưa kịp hiểu, để rồi ngấm nỗi đau như xát muối khi không có ba trong cuộc đời. Sau ngày ba mất, mấy tháng sau bác Tập cũng hy sinh ở Cửa Việt. Chú Tố từ Hà Nội xuống thăm mẹ con tôi ở Quảng Ninh. Chú rộc rạc và tiều tuỵ trước tin 2 anh trai hy sinh. Ba anh em tập kết ra Bắc. Giờ chỉ còn mình chú là người thân duy nhất với mẹ con tôi. Mẹ suy sụp, vịn đi từng bước. Phía trước mẹ còn bao việc dang dở, bao dự định chưa thành và một điều hệ trọng, nhận trọng trách thay ba nuôi dạy chị em con khôn lớn và chờ ngày thống nhất đưa các con về Huế. Tôi cảm nhận giọt nước mắt nóng hổi khi mẹ ôm chúng tôi vào lòng. Tôi rất sợ mẹ khóc, sợ giọng khấn ba mỗi lúc bom gào, đạn réo, mỗi lúc con ốm, con đau, sợ những khi mẹ rầu ruột rối gan, lòng rồi bời không an…Nhưng có lẽ tôi sợ nhất mỗi khi mẹ nén tiếng thở dài. Tôi cứ buốt đau, tưng tức trong lồng ngực khi nhìn mẹ hoang hoải trong căn nhà tuềnh toàng lạc gió. Hai em tôi quá nhỏ để nhận thấy vị mặn nước mắt, là máu chắt ra từ trái tim mẹ…Quả là “Chưa dễ lành đâu những vết thương” (Tố Hữu).

Cụ Lâu đặt hài cốt ba lên tấm nilong. Ba đấy ư?... Tôi vẫn không tin nổi… Nước mắt tràn nhoà, mặn chát, tôi cắn chặt môi đến bật máu. Ba đấy ư? Vẫn đốt trong tôi câu hỏi…Trước mắt, ba hiện lên loang loáng giữa khoảng mây hồng… Cụ Lâu tắm rửa cho cha bằng nước thơm, gói hài cốt ba cẩn thận, bọc lá cờ Tổ quốc và nhiều lần nilông. Lần nào bốc mộ, cụ vẫn khóc. Giọt nước mắt như sương là chút tri ân với những người xa quê nằm tại nghĩa trang. Cụ cùng ăn, nghỉ với các chiến sĩ, giúp thân nhân đưa hài cốt về quê mẹ “80 rồi vẫn khoẻ là nhờ có linh hồn khôn thiêng của các anh, chị nằm đây phù hộ. Vắng ai tôi cũng thấy buồn…”.

Lòng tôi như có hàng trăm ngàn vết dao cứa. Thấm thía xót đau. Ôm hài cốt cha vào lòng mà ngẫm ngợi bao điều: Những khó khăn nối tiếp khó khăn, những tổn thất không dễ kết toán nổi, biết bao gia đình như thế, bao đứa trẻ côi cút không cha, bao người vợ lặng ngắm bóng mình để hóa thành những “vọng phu giữa đời, những vọng phu ngàn đời”...

Những đứa trẻ thiếu cha luôn lấy cha làm điểm tựa. Tôi thầm ao ước có được hãnh diện của chúng bạn khi được khoe cha. Lớn lên trong ngôi nhà không cha, với tôi, đàn ông luôn là điều bí ẩn. Trong tâm khảm, tôi vẫn biết người cha đã cho những đứa con nguồn sức mạnh và sự tự tin kỳ diệu. Bao đêm tôi mơ thấy cha. Nỗi khao khát cháy bỏng có cha hiện hữu…Nối tiếp những giấc mơ để rồi lại nối tiếp những tổn thương. Những đứa trẻ không cha thường hay bị bắt nạt. Tôi cũng từng như vậy. Ghét nói dối, nhưng có lần tôi đã khoe “Mẹ tớ bảo sắp hết chiến tranh rồi. Lúc ấy ba tớ sẽ về…”. Nói vậy để tăng “liều kháng sinh”, trợ giúp tinh thần cốt để mạnh mẽ, cảm giác được bảo vệ và chẳng sợ bị bắt nạt. Chúng nó không tin “Nó làm đếch gì có bố. Muốn đi học qua đây phải nộp cho chúng tao kẹo, không thì tiền xu”. Để “an toàn”, mỗi khi qua đoạn đường ấy, tôi phải “cống nạp”: khi củ sắn, lúc ngô rang, có khi vài cái tem thư cũ . Ngay thằng Đông - ở khu tập thể cùng tôi cũng không tin, kéo cả lũ bạn đến chỉ ảnh ba trên nóc tủ. Tôi òa khóc. Cái chết luôn rất thật. Mẹ về, tôi nín bặt, giấu nhẹm, sợ mẹ buồn trước suy nghĩ thơ ngây của con trẻ...

Xin được ông ngoại, tôi lặng lẽ mang hài cốt cha không dám dời, chẳng dám nghỉ dù chỉ một giây. Hơn 2 giờ chiều, ông con tôi và chú Quang về đến Hà Nội. Tôi định không nghỉ ngơi. Ông thở không ra hơi, từng cơn ho rũ rượi, quặn từng hồi vạc từng miếng phổi, như muốn trào khỏi lồng ngực. Ông ngoại và chú Vũ động viên tôi ăn, nhưng tôi vẫn lắc đầu nguầy nguậy, trong tay vẫn ôm khư khư hài cốt ba. Thương cháu, ông dỗ dành. Thương ông, tôi mới dám để bọc nilông lên bàn. Con xúc bát cơm, chan canh hến (mẹ nói ba rất thích món canh hến quê hương) mời ba ăn. Miếng cơm nghẹn cứng trong cổ họng, nước mắt con tuôn dài chan lẫn cơm... Ba đã xúc từng thìa cháo khi con ốm, bàn tay ba khéo léo trong từng đường kim, mũi chỉ, khêu cho con từng nốt ghẻ, bắt chấy rận...Nhưng lúc này ba lặng im trong bọc nilông. Sự im lặng chứa đầy bão tố. Trước khi ra đi chắc là ba day dứt, rối bời, khó lòng nhắm mắt. Ba đau lắm, nỗi đau cơ thể, nỗi đau đất nước cắt chia, chiến tranh ác liệt, quê hương Cố đô Huế, người vợ trẻ và 3 đứa con thương yêu... sẽ thế nào sau cuộc chiến khốc liệt...

Về đến Từ Sơn (Bắc Ninh), quê tôi đang gần lại. Tôi đi rất chậm chở cha cùng gió. Bọc nilông trĩu nặng yêu thương. Hai bên đường từ Tam Sơn đến cầu Nét, sang Nghiêm Xá nối tiếp những đầm sen. Những bông sen trắng, sen hồng vươn lên khỏi mặt đầm ngát hương “Nhớ không ba, mỗi khi qua đoạn đường này, ba thường xin chủ đầm hái cho con cả bó sen lớn. Có lần con vòi vĩnh đòi ngó sen, ba lội ngay xuống đầm, dúi tay vào đáy bùn kéo lên một ngó sen trắng nõn. Câu ca dao đưa con vào giấc ngủ chính là loài hoa lớn lên trong bùn mà chẳng hôi tanh”. Vẫn con đường năm xưa ba chở tôi ngủ gật, hôm nay rơm vàng thơm trải thảm đón ba về. Tôi dắt xe qua thảm rơm, sợ đường xóc làm ba đau. Rơm ngày mùa óng ả thơm ngọt.

Bỗng một trận xoáy lốc, ném từng nắm cát thốc tháo. Rặng tre oằn mình ken két. Xe đứt xích. Mưa xối xả. Tôi tháo bọc nilông khỏi xe, núp dưới gốc đa đầu làng Tam Sơn, ôm chặt cha vào lòng. Người tôi như có lửa. Ông đưa lá sen, tôi che thêm cho ba. Con có thể ướt nhưng không để ba ướt, ba lạnh. Con hứng trọn luồng gió, cơn mưa để ba khô ráo về nhà mới. Bao nhiêu năm ba nằm trong lòng đất lạnh, lắng nghe từng mạch đất, nguồn nước. Đất bao dung, chở che, hút nước để hài cốt ba khô. Cơn mưa ào ạt rồi tạnh. Trời hửng, gió nhẹ, thoang thoảng hương đồng nội. Chú Quang buộc dây kéo xe của tôi và hài cốt cha.

Bà con quê ngoại đón ba ấm áp, ân tình. Ông vốn là thầy đồ dạy chữ Nho. Cả làng vẫn gọi ông với cái tên trìu mến: ông giáo. Ông chọn địa thế đẹp làm nhà cho ba trong nghĩa trang làng. Ba ở lại quê ngoại, ba nhé! Mảnh đất Kinh Bắc sẽ chở che ba suốt đời. Bà con ân tình yêu quý ba lắm. Bao giọt nước mắt yêu thương đón ba, kể cả người chưa hề biết mặt ba. Ước nguyện của ba trở về về Huế - bên cạnh ông bà nội, quê hương. Ba ơi! Đất nước mình đã thống nhất, đâu cũng là quê hương “Tình yêu làm đất lạ hoá quê hương”. Ngày về quê nội, con và em Hiền đã khấn xin ông bà để ba ở quê mẹ. Lời cầu khẩn trong nước mắt của chị em tôi đã động lòng ông bà nơi 9 suối. Ba đã trọn vẹn trong yêu thương của cả hai miền quê.

Câu ca “Khôn đâu đến trẻ” có đúng với tuổi 18 cứ ngỡ còn vô tư, dại khờ, nông nổi? Với tôi, đây là chuyến đi để đời dù cuộc đời sẽ còn thêm nhiều lần xê dịch. Đôi mắt đục mờ ngầu đỏ, ông ngoại vỗ vỗ vào vai tôi “Con làm giỏi lắm. Trước là làm tròn đạo hiếu báo đáp đấng sinh thành, sau là thực hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tìm đưa những người con hy sinh vì Tổ quốc đang nằm trên khắp mọi miền đất nước, kể cả ở nước bạn về đoàn tụ với gia đình, ấm áp trong lòng đất Mẹ. Nó là một công trình tri ân của tuổi trẻ. Ba con sẽ phù hộ…”.

Tôi chưa dám nghĩ đến điều lớn lao, chỉ tự thấy lòng thanh thản, niềm vui ấm áp. Bịn rịn, chưa muốn dời mộ cha “Ba ở lại quê ngoại nhé! Quê ngoại chở che, bao bọc ba. Bao giọt nước mắt yêu thương đón ba. Bà con yêu quý san sẻ phần đất làng làm nhà mới cho ba. Phía trước là dòng sông Như Nguyệt thuở xưa Lý Thường Kiệt đã đọc “Nam quốc sơn hà...”. Hình ảnh ít ỏi về cha đã trọn vẹn trong miền ký ức của tôi. Tôi đã mang theo miền ký ức tươi đẹp, quý giá ấy để tin yêu, để hy vọng, để cùng mẹ vượt qua những khó khăn, những thử thách nối tiếp khi thiếu vắng ba trong cuộc đời… Bà ngoại đỡ tôi dậy. Từ phía làng, cậu tôi hớt hải chạy tới “Cháu ơi! Có giấy báo của trường Đại học Sư phạm Hà Nội rồi. Tuần tới cháu nhập trường…”.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}