Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Đưa mỹ thuật đến với công chúng

Đỗ Quốc Việt | Thứ Sáu, 31/07/2015 13:35 GMT +7
 
Khi nhìn lại thị trường, gallery và một số trưng bày triển lãm mỹ thuật của hơn hai mươi năm qua, một câu hỏi vẫn thường được nhắc lại rằng: Công chúng yêu mến mỹ thuật, cộng đồng có được hưởng những lợi ích gì từ những hoạt động mỹ thuật đó. Người viết muốn đưa ra một câu trả lời sau khi tập trung nghiên cứu ở góc độ những ảnh hưởng, lan tỏa thẩm mỹ của các hoạt động triển lãm mỹ thuật tới các tầng lớp công chúng, thông qua hàng loạt triển lãm của Bộ VHTTDL, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Mỹ thuật Hà Nội, các trung tâm văn hóa nước ngoài, một số gallery, địa điểm trưng bày công khai, bán công khai, hoạt động có hoặc không có giấy phép trưng bày theo quy định của pháp luật tại Hà Nội, trung tâm hoạt động mỹ thuật lớn nhất cả nước.
 
 
 
Thực trạng tác động của hoạt động mỹ thuật tới công chúng
 
Theo định kỳ mỗi năm năm, thường là Hà Nội lại đón triển lãm mỹ thuật toàn quốc và xen kẽ trong khoảng thời gian ấy là triển lãm điêu khắc toàn quốc định kỳ 10 năm. Đây là hai hoạt động triển lãm mỹ thuật được cả giới mỹ thuật luôn háo hức đợi chờ. Nhưng cũng bao năm qua, trong mỗi triển lãm lớn như vậy, luôn xảy ra những câu chuyện lùm xùm về vi phạm bản quyền mỹ thuật. Điều đáng nói tới ở đây là câu chuyện đó lại có phần lấn át cả những câu chuyện về chất và lượng của triển lãm. Những người quản lý hoạt động trong ngành nhiều khi nói đùa với nhau rằng, đó là cái rớp bởi tình trạng lặp đi, lặp lại của sự việc. Một số người có suy nghĩ giản đơn, coi đó là câu chuyện đương đại của thời kinh tế thị trường, cũng giống như chuyện làm hàng giả, hàng nhái. Triển lãm có thể là cơ hội để mọi người đến gặp gỡ, trao đổi với nhau những câu chuyện đời, chuyện nghề, chứ chẳng quan tâm tới giải thưởng, cũng chẳng sức nào quan tâm tới chất lượng triển lãm, bởi nhiều năm rồi, vẫn thế, chẳng có gì thay đổi cả! Từ câu chuyện tổ chức trưng bày, rồi chuyện giải thưởng, hay chuyện lọt lưới Hội đồng nghệ thuật một vài tác phẩm copy, nhái... Riêng công chúng thì sao? Tác động, sức lan tỏa của hoạt động mỹ thuật như vậy dường như chẳng có ảnh hưởng nhiều tới công chúng thì phải. Phải chăng, hoạt động mỹ thuật là hoạt động đặc thù, chỉ dành cho giới mỹ thuật? Hay bởi tại dân trí ta thấp, không biết thưởng thức nghệ thuật cao siêu? Bởi tại công tác truyền thông kém nên không có thông tin đến được tới công chúng? Có lẽ là giáo dục tiếp cận mỹ thuật chưa đến với công chúng... "nên nghệ sĩ và công chúng đường ai nấy đi đang là một thực tế"(1).
 
Một phần quan trọng trong thiết chế của hoạt động mỹ thuật của Nhà nước là hệ thống bảo tàng mỹ thuật. Hiện nay, ngoài những bảo tàng mỹ thuật công lập, Việt Nam đã có thêm một số bảo tàng mỹ thuật của tư nhân. Tuy nhiên, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vẫn giữ vai trò tiên phong, dẫn đầu trong việc sưu tầm, trưng bày tác phẩm, hiện vật mỹ thuật. Mặc dù vậy, không gian trưng bày và hiện vật sưu tầm chủ yếu dừng lại ở những các giai đoạn lịch sử mỹ thuật cổ, cận và hiện đại. Thống kê dựa trên thực tế số lượng vé được bán ra của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM cho thấy, hai bảo tàng này đều chưa thu hút được nhiều khách tham quan là người trong nước. Tuy nhiên, một tín hiệu đáng mừng là gần đây, một số trường học, nhất là những trường có sự đầu tư, góp vốn và giảng dạy theo giáo trình của nước ngoài tại Hà Nội, đã đưa vào chương trình giáo dục của họ một nội dung về tiếp cận mỹ thuật từ trải nghiệm đến thực tế tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
 
Tất cả các gallery ở Việt Nam đều thuộc sở hữu tư nhân và tại đó, trưng bày tác phẩm, sản phẩm mỹ thuật để bán. Nhìn chung, do mục đích chính yếu là lợi nhuận nên kể từ khi xuất hiện cho tới nay, gallery ở Việt Nam không có nhiều thay đổi, từ hình thức tới nội dung, mục đích hoạt động, và cũng chưa có sự thay đổi thực sự nào hướng tới hoạt động giáo dục mỹ thuật dành cho cộng đồng. Đây không phải là nơi đến cho công chúng của mỹ thuật.
 
Các trung tâm văn hóa nghệ thuật, nhà trưng bày triển lãm của Nhà nước thường ở những vị trí đắc địa, có mặt bằng, không gian nhưng công năng chủ yếu được sử dụng cho một số tổ chức, họa sĩ có nhu cầu thuê, tự trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm tự phát. Hàng năm, ở đây thường chỉ có một vài hoạt động mỹ thuật có nội dung tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, thảng hoặc có thêm một số hoạt động của cá nhân khác. Có thể nói, việc duy trì hoạt động của những trung tâm như thế cũng không có đóng góp đáng kể nào cho hoạt động giáo dục tiếp cận mỹ thuật đến với công chúng.
 
Tại Hà Nội, tính số lượng trung bình trong một năm (2010) có 60 tới 70 triển lãm mỹ thuật được cấp giấy phép triển lãm, trong số đó có khoảng gần 20 triển làm của tổ chức, cá nhân người nước ngoài. Nhưng trên thực tế, hoạt động trưng bày, triển lãm mỹ thuật đã diễn ra nhiều hơn so với số liệu từ việc cấp giấy phép của cơ quan quản lý. Hiện nay, các cuộc triển lãm mỹ thuật đã giảm cả về quy mô cũng như số lượng, có lẽ một phần do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, mặt khác do mỹ thuật Việt Nam không còn hấp dẫn nữa chăng? Sự suy giảm đó dễ dàng nhận thấy nhất là với các triển lãm trưng bày loại hình nghệ thuật đương đại như sắp đặt video (video installation), trình diễn (performence art)... nhưng hầu hết những triển lãm này đều không được cấp giấy phép tổ chức trưng bày - tức là hoạt động không chính thức. Những trưng bày triển lãm có giấy phép thường được giới nghệ sĩ gọi là lành. Đó thường là những triển lãm, treo trưng bày tranh sáng tác, hoặc có thêm phần sắp đặt, để cố gắng làm phong phú thêm không gian trưng bày vốn bị cho là lỗi thời trong mắt một số nghệ sĩ đương đại. Liệu công chúng yêu mến và quan tâm tới nghệ thuật có đặt dấu hỏi: Phải chăng, những triển lãm mang yếu tố thời thượng, ý tưởng độc, lạ, gây sốc đã lỗi thời? Hay chỉ nhằm mục đích phục vụ cho một số ít người có trình độ cao, đủ khả năng để cảm thụ, hay một số người hoạt động trong cùng lĩnh vực nghề nghiệp mới có thể hiểu được chăng? Sự suy giảm về số lượng các hoạt động nghệ thuật đương đại đó liệu có là dấu hiệu cho sự trở lại với những triển lãm mỹ thuật bình dị, chân phương , hướng về giá trị nguyên bản, giản đơn, nghệ thuật vị nhân sinh?
 
Nhưng dù có là hợp thời hay lỗi thời trong hình thức thì hoạt động triển lãm mỹ thuật quan trọng hơn vẫn là do chất lượng tác phẩm của nghệ sĩ và sự quan tâm của công chúng. Bên cạnh đó, những triển lãm có hay chưa có được sự cấp phép theo quy định của pháp luật thì nhu cầu được công khai trưng bày tác phẩm sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ là hoàn toàn chính đáng. Qua đó, cho thấy cơ chế quản lý cần phải có sự điều chỉnh, không dự báo trước được thì cũng có thể đáp ứng được sự phát triển của nghệ thuật bên cạnh những thay đổi của xã hội. Việc cần làm ngay là chính thức công nhận, phân định rõ trong công tác quản lý một cách hài hòa, tạo điều kiện, sân chơi cho các nghệ sĩ sáng tạo với những loại hình nghệ thuật như: body painting, trình diễn, video art... Những hình thức này phải được xác định là một phần thực thể của nghệ thuật tạo hình và cần được xây dựng nơi trưng bày cùng với chương trình sưu tầm, triển lãm, giới thiệu phù hợp (2).
 
Bên cạnh hệ thống triển lãm định kỳ, hoạt động của bảo tàng, gallery, studio nghệ sĩ, một số trung tâm văn hóa nước ngoài tại Hà Nội cũng có hoạt động triển lãm mỹ thuật, bao gồm Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (L’Espace), Viện Geothe Hà Nội, Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản, Casa Italia (thuộc ĐSQ Italia))... Các hoạt động ở đây thường thu hút đông đảo khán giả hơn, có lẽ vì họ biết cách làm truyền thông đồng thời hướng đến các hoạt động mang tinh thần của nghệ thuật đương đại. Cũng phải nói thêm là phần lớn các triển lãm nghệ thuật đương đại ở các studio nghệ sĩ cá nhân được tổ chức hoạt động mang tính tự phát, không được cấp giấy phép theo quy định pháp luật, nhưng lại có xu hướng lan truyền và nảy nở, thu hút được sự quan tâm, chú ý của công chúng.
 
Những nguyên do khiến hoạt động mỹ thuật ít công chúng
 
Nghệ sĩ vẫn độc hành trên đường đi của mình, từ vấn đề đầu tư mua vật liệu sáng tác, quảng bá tác phẩm, tìm kiếm địa điểm triển lãm rồi lưu kho tác phẩm của mình. Khó khăn là như vậy, nhưng khi triển lãm được mở ra thì khách tham quan chủ yếu là khách mời, bạn bè, vẫn là những người làm nghề đến với nhau trong dịp khai mạc còn sau đó là sự vắng vẻ triền miên. Các triển lãm định kỳ toàn quốc, hay triển lãm khu vực của Hội Mỹ thuật cũng chung tình trạng chợ chiều như vậy. Những hoạt động tương tác để thu hút công chúng xung quanh hoạt động triển lãm vẫn là những khoảng trống. Vì vậy, có thể nói rằng các hoạt động triển lãm mỹ thuật diễn ra chưa mang lại được nhiều hiệu quả như mong muốn. Một trong những nguyên do quan trọng là tính hình thức cao: với một tổ chức thuộc nhà nước thì khi có một triển lãm được mở ra, báo cáo thành tích cuối năm của họ sẽ dày dặn hơn, với cá nhân thì phần nhiều là để đánh dấu trong lý lịch hoạt động.
 
Một nguyên nhân khác quan trọng không kém chính là công tác truyền thông giáo dục để nâng cao nhận thức, sự thụ hưởng của công chúng với nghệ thuật của những sự kiện này cũng chưa thực sự phát huy hiệu quả. Mặc dù, gần như triển lãm mỹ thuật lớn nào cũng có in vựng tập, nhưng chủ yếu vựng tập chỉ là tập album hình ảnh những tác phẩm tham dự triển lãm được in offset mà thôi. Mỗi vựng tập đều có phần bài viết, nhưng thường chỉ là những lời giới thiệu khái quát, chung chung mang ý nghĩa thông báo số liệu, và một vài thông tin khác có liên quan tới tổ chức hoạt động triển lãm chứ không phải là những bài viết của những nhà nghiên cứu phê bình lý luận, cũng không phải những đánh giá, nhận định của giám tuyển... nên không phục vụ được nhiều cho mục đích thưởng thức, học tập và nghiên cứu. Thông tin về triển lãm trên phương tiện truyền thông cũng có, nhưng nhiều năm qua, cách thức truyền thông cho mỹ thuật hầu như không thay đổi: những phần tin trên truyền hình vẫn chủ yếu là tin ngắn (thời gian tính bằng giây); tin, bài trên báo viết thì sơ sài, thường chiếm vị trí của những trang phụ bởi dạng tin, bài này vẫn bị mặc định là không thu hút được bạn đọc. Mặt khác, đa số khán giả quan tâm, thích đi xem triển lãm mỹ thuật cũng rất muốn biết được phần nội dung, ý tưởng cơ bản về tác phẩm, về tác giả với những khuynh hướng sáng tạo và kỹ năng sử dụng chất liệu, những câu chuyện mang ý nghĩa nhân văn có liên quan góp phần tạo nên tác phẩm... nhưng phần thông tin tại chỗ này hầu như thiếu vắng, do nghệ sĩ và nhà tổ chức chưa ý thức rõ được vai trò của thông tin nền về triển lãm đối với người xem.
 
Công tác giáo dục nghệ thuật giúp phát triển năng lực, tư duy sáng tạo, nâng cao nhận thức cá nhân toàn diện là một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hóa của cộng đồng. Nhưng trên thực tế, công tác này nhiều khi còn chưa được nhận diện đúng vai trò vị trí, bị coi thường, xem nhẹ. Giáo dục mỹ thuật tại các trường phổ thông thì chỉ được xếp vào thời gian của nội dung dạy vẽ, làm thủ công, chứ không phải là giảng dạy về mỹ thuật theo nghĩa tiếp cận để có thể khơi mở tiềm năng, phát huy khả năng cảm thụ nghệ thuật. Thậm chí, ngay trong các bảo tàng mỹ thuật hiện nay, nhiều cán bộ vẫn hiểu chưa đúng, hơn thế nữa, còn hiểu sai lệch về những chương trình tiếp cận với mỹ thuật khi cho rằng đó chỉ là dạy vẽ. Chính vì vậy, việc xác định giáo dục mỹ thuật phải được định rõ và là một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hóa. Giáo dục thẩm mỹ đóng vai trò rất quan trọng trong việc trang bị kiến thức, phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất, giúp hình thành, phát triển nhân cách con người và các năng lực xã hội. Nếu xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội thì vấn đề đầu tư cho nền tảng ấy cần phải được xem như thế nào cho tương xứng. Sẽ không thể có những chuyển biến lớn nếu cứ chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu chung chung(3).
 
Cuối năm 2011, Bảo tàng Mỹ thuật đương đại TK XXI Kanazawa (Nhật Bản) (4) trưng bày triển lãm ba bức tranh lụa của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh sau khi được phục chế, Cưỡi bò qua sông, Vác củi và Hun thuyền. Triển lãm thu hút hơn 2,5 vạn lượt khách tham quan trong thời gian ba tháng trưng bày. Còn ở Việt Nam, một triển lãm tranh sơn mài Nhật Bản (5) có tới hơn 5 nghìn lượt khách tham quan triển lãm. Xét nhiều góc độ chuyên môn như chất lượng tác phẩm, không gian trưng bày thực sự không để lại ấn tượng nào trong tôi nhưng triển lãm khiến tôi ngạc nhiên vì sự mới mẻ của những hình thức tiếp cận với công chúng qua phong cách trưng bày nhẹ nhàng mà đậm tính nhân văn, bên cạnh cách tổ chức, truyền thông... thật thú vị. Một thoáng chạnh lòng khi so sánh với một số triển lãm trưng bày tranh sơn mài của Việt Nam. Có thể nói cho tới ngày nay, những sáng tạo trên chất liệu sơn mài Nhật Bản vẫn chỉ tập trung cho những sản phẩm thủ công mỹ nghệ cùng chung xu hướng với sơn mài Trung Quốc ở thời gian trước đây. Những triển lãm sơn mài theo lối truyền thống, được sáng tạo trên chất liệu sơn ta rất tinh tế của Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, nhưng triển lãm sơn mài do chúng ta mở ra vẫn vắng công chúng của chính chúng ta.
 
Tóm lại, để có thể thu hút, mang lại hiệu quả thiết thực cho công chúng, những hoạt động mỹ thuật có sử dụng ngân sách của Nhà nước đã đến lúc phải được đổi mới hình thức, nội dung, phương pháp, phương tiện truyền thông. Các tổ chức, cơ quan liên quan đến mỹ thuật của Nhà nước cần liên kết, mở rộng quy mô, hình thức giáo dục tiếp cận mỹ thuật và cần được xây dựng, tổ chức một cách khoa học, bài bản từ những nghiên cứu, đánh giá học tập kinh nghiệm của những quốc gia phát triển, đồng thời tiếp thu có chọn lọc, vận dụng phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam. Những gì hiện đã có, nay cần được vận hành, phát huy tốt hơn như những hoạt động giáo dục tiếp cận mỹ thuật trong hệ thống bảo tàng mỹ thuật. Bảo tàng mỹ thuật đương đại hay hình thức gallery mỹ thuật đương đại quốc gia, dù đến nay chưa có là đã muộn, nhưng cần phải được sớm hình thành và đi vào hoạt động. Đồng thời, dành một tỷ lệ nhất định về mặt tài chính trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo kinh tế học, thị trường học cho công tác truyền thông, để truyền thông thực sự là cầu nối hữu hiệu giữa mỹ thuật và công chúng, từ đó giúp công chúng nhận thức, quan tâm hơn tới mỹ thuật.
 
Cần phải nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tham gia tích cực, chung tay của những nhà nghiên cứu, phê bình mỹ thuật vào các hoạt động mỹ thuật, để đóng góp hiệu quả hơn, giới thiệu tới công chúng những tác giả, tác phẩm xứng tầm thời đại hơn. Việc đó không chỉ dừng lại ở một số bài báo mang tính chất đưa tin hời hợt hay chỉ là in cuốn vựng tập như hình thức cuốn album liệt kê những tác phẩm theo hàng, lối. Đồng thời cần phải có nhiều hơn nữa những hoạt động giáo dục tiếp cận mỹ thuật tại mỗi cuộc trưng bày triển lãm, thông qua những nghiên cứu thực sự có bài bản và khoa học, mang tính thuyết phục cao và dựa trên kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới. Từ đó sẽ tạo sân chơi quen thuộc, môi trường có sự thụ hưởng từ những hoạt động mỹ thuật.
 
Đã đến lúc phải nói rằng, một sự quy hoạch có chiến lược, một tầm nhìn đổi mới mạnh mẽ, một sự cách tân táo bạo trong hoạt động mỹ thuật mới có có thể có được những tác động mạnh mẽ tương ứng tới công tác giáo dục, truyền thông, mang lại hiệu quả tích cực tới công chúng, thu hẹp khoảng cách giữa tác phẩm mỹ thuật và cuộc sống. Chỉ có khi ấy, một thị trường mỹ thuật chuyên nghiệp, lành mạnh mới có cơ hội xuất hiện và phát triển ở Việt Nam, chấm dứt được nạn sao chép bất hợp pháp, đạo, nhái tác phẩm mỹ thuật.
 
Đầu tư cho phát triển giáo dục thẩm mỹ, trước hết là đầu tư suy nghĩ, nhận thức cho đúng đắn về vị trí, vai trò của nó trong đời sống cũng như trong việc nâng cao vị thế của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế. 
_______________
1. Phương Anh, Điêu khắc Việt: Sống bằng niềm tin, báo Văn hóa, số 2454, ngày 7-4-2014, tr.11.
2. Phan Cẩm Thượng, Thị trường nghệ thuật Việt Nam: Khủng hoảng và giải pháp, vietbao.vn.
3. P.Anh, Tổng kết lý luận và thực tiễn 30 năm đổi mới: Cần cái nhìn toàn cảnh, biện chứng và tổng thể, báo Văn hóa, số 2450, ngày 28-3-2014, tr.8.
4. Triển lãm mở cửa tự do, kéo dài từ ngày 22-10-2011 đến ngày 12-2-2012, tiêu đề Dự án phục chế tranh của họa sĩ Việt Nam Nguyễn Phan Chánh: kanazawa21.jp.
5. Triển lãm tiêu đề Nhật Bản trong tôi của nữ họa sĩ sơn mài người Nhật Bản cư ngụ tại Hà Nội Saeko Ando, từ ngày 9-11 đến ngày 1-12-2013, tại Trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản, số 27 - phố Quang Trung, Hà Nội: jpf.org.vn.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 359

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}