Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

GS VŨ Khiêu - Người xưa nay hiếm !

Thứ Bảy, 13/09/2014 02:48 GMT +7
Ny San
 
“Nhân sinh thất thập cổ lai hy”. (Người thọ bảy mươi tuổi xưa nay hiếm).

Vào tháng 9 này, khỏe mạnh, anh minh, GS.AHLĐ Vũ Khiêu bước vào tuổi 100 với nhiều hy vọng và khát vọng. Vì vậy, không thể nói Ông là “Người xưa nay hiếm” được, mà phải nói Ông là “Người xưa nay cực hiếm” mới đúng.


Song, nếu chỉ nói về tuổi thọ không thôi, thiên hạ cũng có không ít người “xưa nay cực hiếm”, cũng “bách niên” như Ông, thì sự “hiếm” ấy cũng chỉ là một niềm tự hào nào đó mà thôi. Ấy là chưa nói đến một sự thực là đôi khi, với không ít người trong cuộc sống quanh ta, tuổi cao không đem lại niềm tự hào, đem lại niềm vui, hạnh phúc cho những người thân trong gia đình có người cao tuổi ấy. Bởi, không ít người cao tuổi thực sự là gánh nặng, nỗi ta thán của người thân. Đối với GS Vũ Khiêu và gia đình Ông hoàn toàn không có điều ấy. Ông và những người thân trong gia đình, họ hàng, xa hơn là cả Họ Vũ / Võ Việt Nam luôn tự hào, hãnh diện và hạnh phúc về tuổi tác của Ông. Bởi, ở Ông, như các cụ ta thường nói “Gừng càng già, càng cay”. Tuổi cao, nhưng sức làm việc của Ông không thua mấy thời trẻ, trí tuệ Ông không giảm độ tinh anh, sắc sảo hơn so với ông khi trẻ. Ông vẫn hoạt động, hoạt động không hề mệt mỏi, có nhiều đóng góp cho đời. Từ khi Nhà nước cho Ông nghỉ chế độ, Ông có quyền nghỉ ngơi thanh thản nhưng, cũng chính vào thời điểm đó, Ông không ngừng tạo nên sự sửng sốt, khâm phục ở trí tuệ đặc biệt hiếm có của mình, cống hiến cho đời nhiều công trình văn hóa có giá trị.

Khi cậu bé Vũ Khiêu đến tuổi đến trường thì nền giáo dục Nho học chấm dứt (năm 1919), nhưng giá trị và ảnh hưởng của nền giáo dục Nho học trong xã hội Việt Nam không mất. Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận là, trong bối cảnh xã hội nước ta từ đầu thế kỷ XX đến nay, số người vẫn gắn bó với bút lông nghiên mực, đồng thời nắm chắc bút sắt, đồng hành với văn hóa dân tộc trong kỷ nguyên mới ngày càng hiếm. GS. Vũ Khiêu là một trong số người hiếm đó. Ngoài việc phải theo kịp những cái mới trong văn hóa – giáo dục nước nhà đang biến chuyển và chi phối toàn bộ xã hội Việt Nam đương thời, Ông không buông lơi chữ Hán – Nôm – một kho tàng di sản bảo lưu nhiều giá trị lịch sử - văn hóa – xã hội của dân tộc ta hàng ngàn năm.  Vì vậy, Ông thông thạo Hán – Nôm, hiểu biết sâu rộng về văn hóa cổ truyền dân tộc, nắm vững niêm luật của các thể tài văn học cổ phương Đông, đặc biệt là kiên trì luyện bút lông, dấn thân vào con đường sáng tác văn học theo các thể tài cổ, làm thơ phú, viết chúc văn, câu đối,…Đấy chính là điểm ưu trội hơn nhiều nhà khoa học khả kính khác. Vì vậy, ngoài tư cách là nhà nghiên cứu triết/mỹ học Mác xít hàng đầu ở nước ta, GS Vũ Khiêu đã tạo dựng cho mình một thương hiệu rất nổi tiếng trong lĩnh vực viết văn tế, văn bia, câu đối, thơ phú,…để lại rất nhiều những áng văn, thơ bất hủ, hình hài là văn tế, chúc văn, minh văn, văn bia, câu đối, thơ Đường luật bảo đảm tính niêm luật kinh điển, nội dung sâu sắc có giá trị cao về văn - sử - triết/mỹ, lời văn âm điệu cổ trau chuốt, mượt mà, song luôn mang âm hưởng thời đại sâu sắc, đi vào lòng người dân Việt Nam hôm nay.

Tác phẩm thuộc thể loại phú lần đầu tiên Vũ Khiêu trình làng ấy là bài văn Truy điệu những lương dân chết đói năm 1945, năm ông 30 tuổi. Tận mắt chứng kiến nạn đói do thực dân – phong kiến gây ra làm hơn hai triệu người  Việt Nam chết năm 1945 : “Một cơn gió bụi vừa tan / Hai triệu sinh linh đã mất / Khí oan tối cả mây trời / Thây lạnh phơi đầy cỏ đất”, Vũ Khiêu không khỏi xúc động. Với cảm xúc và tình thương xót những số phận điêu linh ấy, Vũ Khiêu đã soạn bài văn với những câu thơ chan chứa niềm xót thương dân chúng điêu linh, bày tỏ nỗi niềm chia sẻ, cảm thông sâu sắc, gây xúc động mạnh mẽ với người đọc:

“Mẫu tử tình thâm, ôi một mái tơ xanh nào đã tội, bỏ u ơ cuối chợ, đầu đường.
Phu thê nghĩa nặng, hẹn trăm năm đầu bạc cũng sai lời, sớm đau đớn người còn kẻ mất.
Biết đi đâu? Bốn phương mờ mịt, trời lờ như điếc, đất như câm.
Hỏi cùng ai? Những bóng bơ vơ, ruột rát tựa bào, gan tựa cắt.
Lang thang chi phách ở hồn đi.
Thảm thiết nhẽ ngày tàn bóng tắt.
Có kẻ tìm bãi cỏ nằm xiêu
Có người đến bên cây ngã vật
Có khi ngõ vắng gieo mình
Có lúc vườn sau thở hắt.
Có những quán hàng bao xác lạnh, bỏ ruồi bâu bọ khoét chửa ai khiêng.
Có nhiều nơi: một nắm xương khô, từng nắng giãi mưa dầu không kẻ nhặt.
Mỗi người manh chiếu bó bó chôn chôn.
Từng đống trên xe chồng chồng, chất chất.
Ôi nói ra những toát mồ hôi
Mà nghĩ lại thêm tràn nước mắt!”
Song, với niềm tin vào sức sống quật khởi của người Việt, vào ngày mai tươi sáng của dân tộc, trước nỗi đau thương khôn cùng ấy, Vũ Khiêu không bi quan, mà tin tưởng ở vận mệnh dân tộc sẽ đứng dậy. Cảnh tượng thật bi hùng Vũ Khiêu tạo dựng nên qua những câu kết của bài Văn tế:

“Chỉ đáng tiếc sống xưa chưa kịp đem thân nọ đền bù đất nước, phải ngậm hờn cùng hoa củ ủ ê.
Thì ngày nay chết phải làm sao để hồn kia chói lọi trời mây, mà bảo vệ lấy giang sơn vững chặt”.

Nói/viết là làm, để “bảo vệ lấy giang sơn vững chặt”, chàng trai Vũ Khiêu đã dấn thân vào công cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Và, chỉ 1 năm sau, chàng thanh niên 31 tuổi Vũ Khiêu đã viết bài Văn tế anh hùng liệt sĩ của Cách mạng tháng Tám, để kỷ niệm 1 năm ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Mở đầu bài văn tế, Vũ Khiêu tố cáo thực dân Pháp đã 80 năm cai trị nước ta, đã chất chống tội ác:

“Tám chục năm gió tối mây mờ,
Hai mươi triệu hồn xiêu xác rủ.
Đói hôm rét tối, điêu linh dưới ách tham tàn
Cuốc nắng cày mưa, rên xiết bao niềm thống khổ”.
Cho đến tháng 8 năm 1945, nước ta lại thêm một cổ hai tròng bọn bóc lột:
“Pháp thực dân vẫn cứ tham tàn,
Nhật Phát xít còn thêm giết mổ,
Bốn phương cửa nát nhà xiêu,
Một vẻ mày chau mặt rủ.
Điêu tàn khắp cả Bắc Nam,
Đói rét chưa từng kim cổ”.
Tác giả mô tả khí thế của Cách mạng tháng 8 năm 1945 nổ ra:
“Giời như xám lại bởi đau thương
Đất  bỗng bùng lên vì phẫn nộ
Bóng anh hùng rợp cả non sông,
Sóng cách mệnh ào như vũ bão
Súng dân quân muôn dặm chuyển rung
Cờ đế quốc trăm thành sụp đổ.
Nghìn thu phá nếp quân quyền,
Một buổi dựng nền dân chủ”.

Cách mạng tháng Tám thành công mang lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Để có được thành quả đó, biết bao anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống:

“Chiến trường xông xáo, đã đành khi máu rụng xương rơi,
Ngục thất ê chề, riêng thảm nỗi đầu bêu xác bỏ.
Xót lúc trăm thây vùi dập, xá gì kẻ dọc người ngang,
Xót khi mấy xác buông trôi, phó mặc bèo xô sóng gõ.
Xót buổi nằm khô ngục tối, nắm xương tàn thảm thiết đêm mưa.
Xót phen chết rũ quê người, manh ván mỏng hững hờ hàng phố.
Vợ con đâu tá, buổi rã rời , bãi vắng thây ma?
Hồn phách về đâu, lúc não ruột, rừng khuya tiếng cú?”
Nhưng sự hy sinh của những anh hùng liệt sĩ đó là để cho:
“Nghìn thu rạng rỡ non sông,
Muôn dặm tưng bừng cẩm tú”.

Bài văn tế này được báo Cứu quốc đăng trên số báo ra ngày 8/9/1946, với Lời giới thiệu, có đoạn: “Văn tế là một loại văn cổ ở nước ta, lâu nay không mấy ai chú ý đến nữa. Trước kia loại ấy không phải là đã không từng sản xuất ra những áng kiệt tác. Chúng ta, ai quên được bài văn tế “Trận vong chiến sĩ” của Nguyễn Văn Thành? Bó mình trong một thể văn cũ, khó khăn và cầu kỳ, tác giả vì có cảm xúc thật nên đã tạo nên những lời có thể cảm động được tới chúng ta. Cái đó chứng tỏ rằng với bất cứ hình thức nào, người ta cũng viết nên những áng văn có giá trị được, miễn là trong tâm hồn có một rung động xâu xa và thành thực”.

Trong 9 năm chống Pháp, Vũ Khiêu trực tiếp tham gia chiến dịch giải phóng Điện Biên Phủ với cương vị người tổng phụ trách công tác tuyên truyền trong Tổng hành dinh của Đại tướng – Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Bước vào giai đoạn cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; tiếp đó là chặng đường non sông thu về một mối, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chàng thanh niên Vũ Khiêu dấn thân vào con đường nghiên cứu khoa học xã hội & nhân văn. Bằng sự khổ học và tôi luyện trong thực tiễn đời sống nước nhà, đặc biệt là với sự thông minh thiên bẩm, Ông đã trở thành nhà nghiên cứu khoa học xã hội & nhân văn hàng đầu của nước ta, được nhiều học giả trên thế giới biết đến và cộng tác. Sự nghiệp nghiên cứu khoa học đồ sộ của Ông được đánh dấu bằng hơn 70 đầu sách rất có giá trị về lịch sử - triết/mỹ học – văn hóa, như: Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử, Bàn về Văn hiến Việt Nam, Anh hùng và nghệ sĩ,…Ngoài ra, GS Vũ Khiêu còn để lại một gia tài cũng giá trị và đồ sộ không kém là những bài chúc văn, văn tế, câu đối, thơ Đường luật, tiêu biểu như: Chúc văn Tưởng niệm đức Phù Đổng Thiên Vương – một trong Tứ Bất Tử của thần linh Việt; Văn tế danh nhân văn hóa Nguyễn Quý Tân; Văn tế Đỗ Quang tướng công; Văn tế cụ Hoàng trung Đặng Huy Trứ; Nhiều câu đối tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ, danh nhân văn hóa hoặc treo tại một số đền, miếu ở nhiều địa phương trên cả nước (như: câu đối ở đền thờ Lạc Long Quân và Âu Cơ, câu đối tại đền thờ Hoàng Hoa Thám, câu đối ở đền Liệt sĩ quận Hồng Bàng, câu đối ở đền tưởng niệm Liệt sĩ huyện Bình Giang, câu đối ở Văn miếu Trấn Biên (Đồng Nai), câu đối ở Nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh, Nhà lưu niệm đồng chí Trần Đăng Ninh, Nhà thờ  đồng chí Tô Hiệu, câu đối ở đền tưởng niệm Liệt sĩ ngành Giáo dục hy sinh tại chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đặt tại Nghĩa trang Đồi 86 ở Tây Ninh,…

Vào năm 2000 - năm bản lề chuyển giao giữa hai thế kỷ, là năm ghi nhận sức làm việc phi thường của GS Vũ Khiêu, khi ở tuổi 85-86, Ông đã hoàn thành nhiều bài chúc văn, văn bia, câu đối có ý nghĩa quan trọng trong đời sống chính trị - văn hóa của đất nước. Đó là:

- Bài Văn bia tưởng niệm Lý Thái Tổ ở Hoa Lư – Ninh Bình (Nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Đông Đô –Hà Nội, chuẩn bị cho kỷ niệm 1.000 năm Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long).  Bài Văn bia đề cao sự sáng suốt của Lý Công Uẩn đã chọn địa điểm của Hà Nội hiện nay làm Thủ đô, đánh giá đúng công lao vĩ đại của các triều đại Đinh – Lê đối với việc thống nhất Tổ quốc, bảo vệ độc lập và bước đầu xây dựng trên đất Hoa Lư một tiềm năng kinh tế chính trị - xã hội vững chắc làm cơ sở cho sự vững mạnh trường tồn của nước Đại Cồ Việt. Kết thúc bài văn bia, tác giả dùng những câu hùng tráng để nói lên khí phách của con cháu hôm nay trước sự việc của cha ông thủa  trước:

Sơn hà Đại Việt, một dải hùng cường
Văn hiến Thăng Long, ngàn thu truyền tụng.

- Bài Chúc văn tưởng niệm Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (Nhân ngày giỗ Danh nhân văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm).
- Văn bia và câu đối tại đền thờ Liệt sĩ quận Hồng Bàng (TP Hải Phòng).
- Bài Văn tế các Vua Hùng: năm 2000, Đảng và Nhà nước ta quyết định tổ chức Quốc Lễ đầu tiên Giỗ Tổ Hùng Vương cấp Quốc gia, tại Đền Hùng – Phú Thọ, do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tế. Bài Văn tế các Vua Hùng sẽ là một phần quan trọng của buổi lễ. Ban Tổ chức đã tổ chức viết, nhưng cho đến thời điểm cách ngày lễ 5 ngày mà bài văn tế vẫn chưa ổn. Lúc này, Ban Tổ chức mới nghĩ / nhớ đến … GS Vũ Khiêu. Công việc “chữa cháy” / chạy maraton với thời gian bắt đầu. Ngày 5/4/2000, Bộ VHTT cử cán bộ đến gặp GS Vũ Khiêu, mang thư của Bộ trưởng Nguyễn Khoa Điềm đề ngày 3/4/2000 đề nghị GS Vũ Khiêu viết cho bài Chúc văn để đọc tại Quốc lễ này. Bức thư, có đoạn: “Ban tổ chức lễ do Bộ VHTT đứng đầu đã chuẩn bị một bài chúc văn, nhưng chúng tôi chưa yên tâm, vì vậy tôi, Nguyễn Khoa Điềm, thay mặt Bộ VHTT kính đề nghị Bác giúp cho Bộ VHTT viết một bài chúc văn đúng với tầm vóc buổi lễ để lại mẫu mực lâu dài. Biết Bác rất bận nhưng mong Bác thông cảm tình cảm chung giúp cho Bộ Văn hóa và cũng là tình cảm lớn với tổ tiên giúp cho ngày Lễ được viên mãn”. Mặc dù thời gian lễ hội chỉ còn có mấy hôm nữa, nhưng trước yêu cầu của Bộ VH cũng như trách nhiệm của một công dân, GS đã nhận lời và dành 5 ngày và 5 đêm trắng để viết xong bài luận văn bảo đảm tính tư tưởng, tính lịch sử và tính nghệ thuật của thể loại. Chúc văn nêu bật được khí phách anh hùng của dân tộc suốt mấy ngàn năm lịch sử theo đúng thể thức nghiêm ngặt biên soạn những bài phú cổ điển. Sáng ngày 10/4/2000, nghĩa là sau đúng 5 hôm, GS Vũ Khiêu đã chuyển tới Bộ VH bài văn hoàn chỉnh (sau đó Báo Nhân dân đã đăng toàn văn bản chúc văn này). Tại buổi Quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương ngày 10/3 năm Canh Thìn (2000) trước ngôi đền thiêng của dân tộc – Đền Hùng, qua giọng đọc của NSND Lê Tiến Thọ, đã vang lên những lời thật xúc động, tự hào:

“Mừng hôm nay:
Trống đồng dội tới,
Núi sông dậy sấm anh hùng!
Trống đồng vang lên,
Trời đất ngút ngàn linh khí!
Toàn dân giỗ Tổ Hùng Vương
Cả nước vui ngày Quốc lễ
Rộn rã trống chiêng
Tưng bừng cờ xí!”

Trong bài Văn tế Giỗ Tổ Hùng Vương, GS Vũ Khiêu đã mô tả cho chúng ta thấy cái dáng mạo kỳ vĩ, cái chí khí lớn lao của những bậc anh hùng văn hóa, anh hùng lịch sử ấy, bởi có được hình tượng đó, tâm đức đó mới có thể thực hiện được những hành vi vĩ đại như công cuộc tạo dựng và bảo vệ sơn hà, xã tắc này:

“Mẹ từng non cao tỏa sáng nghĩa nhân
Cha vốn biển cả quật cường mưu trí.
… Vẻ vang mười tám vương triều
Rực rỡ trăm đời thịnh trị!”

Trong bức Thư cảm ơn của Bộ trưởng Bộ VHTT gửi GS Vũ Khiêu, viết: “Trân trong cảm ơn GS đã mang Tâm huyết, Tài năng, Trí tuệ phụng soạn bài Chúc văn Giỗ Tổ Hùng Vương (năm 2000). Bài Chúc văn của GS là một nội dung quan trọng của buổi lễ, do Chủ tịch Quốc hội Nông Đứcc Mạnh làm Chủ lễ. Đây là bài Chúc văn chất lượng tốt, thể hiện được tâm tư, tình cảm của nhân dân cả nước hướng về cội nguồn dân tộc, cổ vũ tinh thần yêu nước, thương nòi, đại đoàn kết dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam. Dư luận đánh giá cao bài Chúc văn do GS phụng soạn”.

55 năm sau cái thời khắc chàng thanh niên Vũ Khiêu soạn bài văn tế “Truy điệu những lương dân chết đói” khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, chàng thanh niên Vũ Khiêu nay đã là cây đại thụ của văn hóa nước nhà, và đã ở độ tuổi “xưa nay cực hiếm”, vẫn được Đảng, Nhà nước tin dùng. Đây là niềm tự hào của riêng Ông; đồng thời là tấm gương cho các thế hệ mai sau.  

Đạt được độ Tin dùng trên, sáng tạo nên những áng văn để đời trên, phải khẳng định Vũ Khiêu là người có Tài, thực tài. Một nhà nghiên cứu văn hóa đã nhận xét: Những thể loại thơ phú, đặc biệt là loại biền phú (dùng phần lớn các câu tứ lục, hầu như toàn văn đối ngẫu, hai câu một cặp hết sức tề chỉnh) là thể loại khó, rất khó viết được chứ chưa nói là viết hay, người viết phải thông thạo Hán – Nôm, phải có tài làm câu đối. Tài ấy, được ông sôi kinh nấu sử về triết học/mỹ học phương Đông, lịch sử, văn hóa dân tộc, từ đó giúp Vũ Khiêu có Trữ lượng lớn tri thức để ông nắm vững yêu cầu nghiêm nghặt của những thể loại văn học cổ, nắm vững tri thức lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông. Song, nếu chỉ có tài bẩm sinh, có vốn kiến thức phong phú, uyên bác chưa đủ để viết lên những lời văn chứa chan tinh thần tự hào dân tộc, tình thương yêu, đoàn kết của đồng bào cùng bọc trăm trứng ấy. Điều quan trọng hơn, người viết phải có cảm xúc thực, tấm lòng thực, mong muốn thực, dấn thân thực vào công cuộc đấu tranh để mang lại độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho người dân.

Tất cả những điều này ở GS Vũ Khiêu đều là thực!

Ở tuổi xưa nay cực hiếm, các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học vẫn thấy GS Vũ Khiêu bay ra bay vào Hà Nội – TPHCM; thấy ông lặn lội mãi trời đất phương Nam, khi thì ở đền thờ Nguyễn Trung Trực, khi thì ở vùng Trương Công Định lãnh đạo cuộc kháng chiến chống ngoại xâm năm xưa, khi thì ở vùng Rạch Gầm, Xoài Mút – nơi Nguyễn Huệ nhấn chìm hàng vạn chiến thuyền của quân xâm lược nhà Xiêm; khi thấy ông ở tuổi ngoài 99 mà sáng có mặt ở Hòa Bình, chiều tham gia Giỗ Tổ hát Xẩm ở Hà Nội. Trong hơn 10 năm gần đây, trên cương vị là Cố vấn của Trung tâm NCBT&PH văn hóa dân tộc, thành viên Hội đồng biên tập Tạp chí Văn hiến Việt Nam, GS Vũ khiêu đã tham gia đầy đủ các hoạt động của Trung tâm và Tạp chí; đặc biệt là tham gia chủ trì các hội thảo khoa học quốc gia do Trung tâm NCBT&PHVHDT tổ chức ở Bình Định, Quảng Ngãi, Hà Nội,… Điều mà người viết bài này cực kỳ kính phục là, Ông ngồi Đoàn Chủ tọa các Hội thảo từ sáng đến trưa mà không hề … đi toalet, trong khi nhiều nhà nghiên cứu trẻ tý tý lại … chạy. Buổi chiều, tổng kết Hội thảo, với một trí nhớ phi thường, Ông không quên một ý kiến nào của những người đọc tham luận hay phát biểu ý kiến. Rất, rất hiếm người được như thế.

Tháng 5/2012, ở độ tuổi 97, GS Vũ Khiêu đã khiến giới nghiên cứu khoa học sửng sốt, kinh ngạc, khi Ông cho ra mắt công trình sách quý “Hồ Chí Minh – ngôi sao sáng mãi trên bầu trời Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia). Đây là công trình ông đã suy ngẫm, viết trong nhiều năm. Cuốn sách là công trình chuyên khảo, tập hợp những kết quả nghiên cứu công phu trong nhiều năm cũng như những trải nghiệm của GS Vũ Khiêu về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là những tư tưởng lớn được coi là điểm nhấn của cuốn sách. Vào tuổi ấy, GS Vũ Khiêu vẫn miệt mài làm việc, vẫn tiếp tục những đam mê sáng tạo một đời, vẫn đem đến cho đông đảo bạn đọc những tác phẩm tâm huyết của mình. Đó thực là một tấm gương sáng trong về lao động khoa học, về tính tiên phong gương mẫu và trách nhiệm cao cả của một đảng viên trí thức đối với đất nước và dân tộc, đối với Đảng và chủ nghĩa xã hội. Chúng ta thực sự xúc động và kính trọng trước nhiệt tình, tâm huyết và năng lực nghiên cứu của GS Vũ Khiêu.

Với những cống hiến không mệt mỏi cho khoa học trong những công trình rất có giá trị của mình, GS Vũ Khiêu đã được Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu (năm 1995), được phong tặng Danh hiệu cao quý Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (năm 2000). Song, có lẽ phần thưởng cao quý nhất dành cho Ông chính là những áng văn bất hủ ông để lại cho đời, những câu đối, văn bia đã tạc vào gỗ đá hòa vào dòng chảy văn hóa dân tộc.

Đó là những bài Văn tế đọc lên âm vang cả đất trời, lay động, đánh thức cõi người, mà ông đã làm trong một lúc… khôn!

Và, cả những văn bia, câu đối, mà Ông đã làm trong triền miên … dại ?

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}