Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Gió quê

Vũ Bình Lục | Thứ Năm, 24/10/2013 14:00 GMT +7
Thực dân Pháp đại bại ở chiến trường Điện Biên Phủ mùa hè năm 1954. Đoàn quân chiến thắng từ núi rừng trở về tiếp quản Thủ đô. Trong rầm rập bước chân vui say kéo về năm cửa ô Hà Nội ngày ấy, có những người con trai con gái quê tôi.

 

JPEG - 36.3 kb
Cảnh đồng quê. Ảnh: Internet

Cờ đỏ rợp trời. Cơn bão cải cách ruộng đất ở làng quê quét đi cả một thời tăm tối. Nhưng nó cũng quét đi nhiều của cải quý giá vô hình, phải nhiều năm sau mới tìm lại được, hoặc chẳng bao giờ tìm lại được. Những sự hăng say thái quá, những niềm vui thái quá, đôi khi biến những cái đầu nóng trở thành giá băng, những trái tim nóng trở thành vô cảm. Tang tóc và chia ly. Nỗi buồn ngơ ngác. Nhiều người chân chính ngậm oan, chết rồi mà không biết vì sao mình phải chết. Tôi hồi ấy tuổi “đồng dao”, được tận mắt chứng kiến nhiều đau thương ở chốn quê mình.

May thay, những sai lầm được kịp thời nhìn nhận. Rồi sửa sai. Rồi phong trào Hợp tác xã nông nghiệp lại sôi lên. “Dân có ruộng dập dìu hợp tác/Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn/Màu áo mới nâu non nắng chói/Mái trường tươi roi rói ngói son/Đã nghe nước chảy lên non/Đã nghe đất chuyển thành con sông dài/Đã nghe gió ngày mai thổi lại/Đã nghe hồn thời đại bay cao”…Nhà thơ Tố Hữu, thư ký của thời đại, đã miêu tả cuộc đổi đời bằng những câu thơ lục bát dân tộc nhuần nhuyễn và phổng phao như thế. Tất cả ruộng đất, nông cụ, từ cái cuốc cái cày, đến cái gầu giai gầu sồng…đều nhập thành của chung. Con trâu con bò đương nhiên cũng thế. Nông dân làm chủ hết. Tất cả đều của mình cả đấy, nhưng cũng lại chả phải của mình. Cha chung không ai khóc. Con trâu con bò cũng gầy đi. Niềm hào hứng ban đầu cũng héo dần đi. Lại đến phong trào bài trừ mê tín dị đoan. Hàng chục ngôi đình hoành tráng nguy nga cha ông xây cất bao đời bằng mồ hôi nước mắt và trí tuệ ở quê tôi, chỉ vài năm là tan hoang hết. Đó đây thấy những khúc gỗ chạm trổ hoa văn tinh xảo chỏng chơ bên đường. Người ta chỉ lấy những cây cột sẻ ra làm trường học, còn lại thì quăng đi ráo. Không ai dám nhặt những của nợ ấy về, vì kiêng của đình của chùa. Những hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng, chả biết nội dung nó có hay ho gì không, cũng vất ngổn ngang đây đó. Nhà tôi có ba gian lợp ngói, gỗ lim, trong nhà có đủ câu đối, đại tự, ngai thờ đẹp đẽ.

Cha tôi sợ người ta bảo là duy trì phong kiến, nên cũng phải tháo ra. Nhà cũng bán đi phần gỗ, chỉ để lại chiếc ngai thờ tổ tiên và bài vị, đôi bình cắm hoa bằng gốm, thế thôi. Hồi ấy, tôi còn tuổi “đồng dao”, nên cũng chưa hiểu được những việc người lớn làm. Sau này mới hiểu ra rằng, họ đã phá đi những di sản văn hóa vật thể vô giá của cha ông. Sai lầm ấy thì không sao sửa chữa được…

Nhưng rồi Mĩ tăng cường leo thang chiến tranh. Yêu cầu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là tối thượng. Chúng tôi kịp trưởng thành, rồi nối đuôi nhau vào chiến trường như đi hội. Ngày ấy chúng tôi đi như thác đổ/Những đôi chân nối dài rừng cây vô tận/Nhiều lắm những thân hình trai tráng/Nối nhau đổ xuống trước bình minh.

Chúng tôi ra đi với một niềm tin chiến thắng, với tình yêu đất nước chân thành, xem cái chết tựa lông hồng. Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, quả thật là hào khí một thời. Chiến tranh như cơn bão khốc liệt, đã quét đi một thế hệ, vài ba thế hệ thanh niên ưu tú. Đó là cái giá quá đắt, nhưng có lẽ không thể khác, để đổi lấy hòa bình, độc lập cho dân tộc. Cuộc chiến nào mà chẳng phải hy sinh. Tôi may mắn sống sót trở về, điều dưỡng xong, lại quyết thi vào đại học, thực hiện ước mơ của mình. Tôi đỗ điểm cao, điểm môn văn xuất sắc, nhưng không hiểu sao trong hồ sơ lại bay đâu mất một loại giấy tờ rất quan trọng gì đó, nên đã khai giảng ba tháng rồi, mà người ta vẫn không đưa giấy nhập học về, đành nhỡ hẹn. Năm 72, Mĩ đánh phá càng ác liệt. Tôi về sống ở quê với gia đình, lại sinh hoạt chi bộ với những bậc tiền bối vào hàng cha chú, trong đó, có hai người, có thể xem là những tấm gương trong sáng về đạo đức cộng sản.

Người đầu tiên phải nói ở đây, chính là ông Vũ Quang Hoành. Ông Hoành là người họ hàng bên ngoại với gia đình tôi. Ông Hoành tham gia cách mạng từ kháng chiến chống Pháp. Sau hòa bình, ông tham gia nhiều hoạt động, khi tuyên huấn huyện Thụy Anh, khi làm cán bộ đưa dân đi kinh tế mới vùng Đông Bắc. Suốt đời ông chỉ có một niềm tin vào cách mạng. Ông là đảng viên trong sạch như nắng ban mai. Hợp tác xã gặt lúa về, nhờ sân lát gạch nhà ông để trục. Trục lúa bằng con lăn làm bằng đá, cứ thế vài người kéo vòng quanh sân. Xong rồi thì vun lúa vào thành đống, đội trưởng và thư ký mới chia cho các gia đình theo định mức công điểm, hoặc theo đầu người trong các hộ. Sáng hôm sau, ông Hoành mới đem chổi ra quét dọn lại sân nhà mình. Được vài cân thóc rơi vãi, ông gom vào bao trả lại cho hợp tác xã, không lấy một hạt nào cho mình. Một bữa trời mưa lớn. Con kênh gần nhà nước dâng cao, tràn cả lên bờ. Thằng cháu nhà ông bắt được con cá mè khoảng một cân nhảy lên mặt đường, nó đem về khoe với cả nhà. Ông hỏi cá này ở đâu, thằng cháu “khai” là nhặt được ở bờ kênh. Ông bảo đấy là cá của Hợp tác xã, phải đem thả xuống. Thằng cháu mất hứng, tấm tức đem cá đi thả xuống kênh, ra vẻ tiếc lắm. Em gái ông cũng là đảng viên, phụ trách cửa hàng mua bán của Hợp tác xã. Bà được phân phối mua mấy cây tre luồng, theo giá ưu tiên, về khoe với anh trai. Ông anh suy nghĩ một lúc rồi bảo:

Nhà mình tuy cũ nhưng vẫn còn tạm ở được. Cô nên để xuất ưu tiên ấy cho người khác. Nhiều người còn khó khăn hơn mình cơ mà. Ông nói thế, bà cô không thể không nghe. Mấy chục năm tham gia công tác, nhưng khi về quê cũng chẳng có chế độ lương bổng gì, cũng chẳng thấy ông ấy chạy vạy đòi hỏi gì. Không con cái. Hai vợ chồng già sống với nhau, chủ yếu chỉ sống nhờ vào mấy thước ruộng phần trăm. Hôm ông ốm nặng, chi bộ cử người đến thăm ông, có đem theo một chút quà, đâu như một nửa cân đường. Ông hỏi: Đường này các đồng chí mua bằng tiền của ai?

Thưa rằng chi bộ trích quỹ đảng phí ra mua. Nghe vậy, ông nói: Lấy tiền của chi bộ mà mua quà cho tôi là không đúng. Tôi cảm ơn, nhưng không dám nhận. Xin các đồng chí thông cảm cho. Mấy anh em đành phải đem về. Tính ông kiên quyết lắm. Có người bảo ông cố chấp quá, nhưng ai cũng phải lắc đầu, cảm phục. Sau đợt ốm ấy, ông lặng lẽ ra đi mãi mãi, không một lời than thở. Người trong sáng như ông, bây giờ có lẽ bói cũng không ra.

Người thứ hai không thể không nhắc đến, đó là ông Vũ Trọng Vĩnh. Ông Vĩnh đi kháng chiến chống Pháp, sau có làm chức gì đó ở Cục Dân quân, thuộc Bộ Quốc phòng. Ông nghỉ hưu có lương đủ sống. Cao ráo, da trắng hồng. Lúc nào cũng thấy ông đeo cặp kính trắng. Có học, lại hay chữ. Tiếng Pháp ông giỏi, nhưng giờ chả biết để làm gì. Lúc nào cũng thấy ông nho nhã, đôn hậu và mực thước. Nhưng lúc nào cũng thấy ông vui vẻ. Ra ngõ gặp ai ông cũng đon đả chào trước, kể cả chúng tôi là bậc con cháu. Đám cưới nào cũng mời ông lên nói vài câu, hoặc đọc mấy câu thơ chúc tụng hạnh phúc cho lứa đôi. Ông lúc nào cũng sạch sẽ tươm tất, thanh tao, như một ông tiên giữa làng quê đầm ấm. Tôi hậu sinh, được cùng sinh hoạt chi bộ với ông Hoành, ông Vĩnh, cảm thấy thật hạnh phúc. Dân làng kính trọng các ông, như những bậc thánh hiền…

Vậy mà cơn bão lại bất ngờ dậy lên. Tôi có khoảng một năm phục viên về làm nông dân. Cũng cày sâu cuốc bẫm như ai. Xã viên nông nghiệp đi làm theo tiếng kẻng. Buổi sáng nghe tiếng kẻng báo đi làm, mọi người từ từ ra tập trung ở đầu xóm, rồi kéo nhau ra đồng. Bắt tay vào làm việc gì đó, thì cũng khoảng tám giờ rồi. Giải lao vài lần. Chuyện tào lao cũng vui. Rồi lại nhẩn nha làm và chờ kẻng nghỉ trưa. Cái kẻng của Hợp tác xã làm bằng vỏ quả bom lớn, tiếng kêu rất đanh, xa mấy cây số cũng còn nghe thấy. Kẻng trưa là về nhà ăn cơm. Buổi chiều lại cũng như thế. Thư ký chấm công chấm điểm ghi vào sổ. Người làm chỉ biết làm thôi. Thư ký có quên ghi điểm, hoặc ghi thêm điểm cũng chả mấy người để ý. Người nông dân không ăn cắp được của ai thì ăn cắp của chính mình. Ăn cắp thời gian của trời, của Hợp tác xã, lại không biết là ăn cắp của chính mình. Mà lại còn tự sung sướng mới lạ chứ! Anh thợ cày thì ăn cắp đường cày. Cày xá cày thưa cho nhanh. Cày cho Hợp tác xã, chứ có cày cho nhà mình đâu mà cày cho kỹ. Cứ thế, ruộng đồng ngày một xác xơ đi. Xã viên chẳng thấy ai được giàu. Hợp tác nhỏ chán rồi, phải tiến lên Hợp tác xã lớn, mới cơ giới hóa được. Thế là cả xã gom lại thành một cái tập thể to hơn. Hồi tôi dạy học ở quê, vợ chồng giáo chức tằn tiện, nấu rượu lấy bã nuôi heo, lại còn mua gỗ thuê thợ Hà Tây đóng tủ đóng giường bán. Gom được chút tiền, mua mấy vạn viên gạch của hợp tác xã để tính chuyện xây nhà ở riêng. Trả tiền rồi, nhận phiếu ghi số lượng gạch đã mua. Đùng một cái, Hợp tác nhỏ giải thể, nhập cả xã vào một hợp tác xã lớn. Hỏi Hợp tác lớn, thì họ thôi không làm gạch nữa. Phiếu nợ vẫn còn, nhưng tiền mất giá nhanh như gió, lấy về cũng chả mua được cái gì ra hồn, đành cho qua mà ngậm ngùi đau xót. Mồ hôi nước mắt cặm cụi mấy năm trời, bỗng tan thành mây khói…

Năm 1988, tôi bồng bế cả gia đình hăm hở vào Tây Nguyên, dạy học và vẫn quyết tâm tìm kế thoát nghèo. Mấy năm sau, nghe tin nông dân Thái Bình ầm ầm kéo nhau đi khiếu kiện khắp nơi. Rồi biểu tình. Đâu đó nông dân còn hè nhau đi lùng bắt cán bộ tham nhũng, ăn chặn của dân. Xã tôi có anh chủ tịch phải bỏ của chạy lấy người, ôm gọn món tiền chạy vào Vũng Tàu mua biệt thự. Người ở quê vào, mới hay rằng ông Vĩnh đã bị người ta khai trừ khỏi đảng. Tôi bất ngờ, choáng váng. Thế sao ông ấy lại bị khai trừ? Người ở quê bảo: Ông ấy ủng hộ nhóm cựu chiến binh chống tham nhũng. Người ta khoác cho ông cái tội a dua theo quần chúng chống lại nghị quyết của đảng, chống lại chính quyền. Thế là họ khai trừ ông ra khỏi đảng. Tôi buồn mãi, không sao nguôi được. Người tốt như ông Vĩnh, cuối cùng lại bị chính những đồng chí hư hỏng của mình ám sát về chính trị, hỏi sao không đau lòng cho được? Ông Vĩnh có hai người con. Một trai một gái, đều là tiến sĩ. Cô con gái dạy đại học. Cậu con trai làm báo, phụ trách một tờ báo lớn, rất có uy tín của ngành giáo dục. Trời còn để có hôm nay/Tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời. Cụ Nguyễn Du bảo thế!

Nghỉ hưu, tôi về Hà Nội, âm thầm đọc sách viết văn, quyết thực hiện ước mơ viết một bộ sách cho ra hồn. Mấy năm trước, ở quê còn có mẹ già, mồ mả tổ tiên bao đời còn đó, nên tôi cũng hay về quê. Nhưng vẫn có điều khiến lòng không yên. Hình như lần nào về quê cũng phải nghe tiếng kèn đám ma, khi phía bắc, lúc phía đông, rồi phía nam phía tây. Đêm nằm thao thức ít khi ngủ ngon giấc. Người già chết đã đành.

Nhưng những người trẻ cũng theo nhau lăn ra chết. Có anh nghiện, sắp chết, liền đem kim tiêm dính máu ra chích cho hai thằng bạn, để cùng xuống âm phủ lại chơi với nhau. Người trẻ tuổi theo nhau chết như một bệnh dịch. Có anh nghiện ở nơi khác, gần chết rồi, gia đình đem về nhà để chết ở quê. Có anh chết ở xa, cha mẹ cũng đem về quê chôn cất cho gần ông bà nội ngoại. Cơn bão ma túy tràn qua, khiến làng quê xơ xác buồn. Bây giờ thì cái lớp trẻ ấy đã đi xuống nghĩa địa cả rồi. Vài năm gần đây thì đến lớp tuổi ngoài năm mươi, chủ yếu chết vì mắc bệnh ung thư. Đủ các kiểu ung thư. Phần đông là do hậu họa của chiến tranh thời đánh Mĩ ở miền Nam, hoặc do rượu chè thái quá. Có người lần trước tôi về còn ngồi nói chuyện với nhau, tháng sau về lại thì đã không thể gặp được nữa. Quê tôi có rất nhiều người giỏi giang ở khắp nơi. Sài Gòn có hơn trăm hộ. Hà Nội cũng hơn trăm hộ. Ấy là chưa kể các tỉnh khác, đâu đâu cũng có con cháu gốc gác làng mình. Nhưng bây giờ lại thêm những vụ việc nổi tiếng ghê sợ. Có thằng con đang tâm cắt cổ bố. Có đứa giết bạn tại nhà, rồi cho vào bao đem quẳng xuống sông. Có đôi bạn thân ngồi uống bia với nhau, rồi bỗng cao hứng cầm dao bầu giết bạn, chỉ vì một câu nói đùa vô hại. Có chị lấy chồng Hà Nội ngon lành, bỗng dưng đem con riêng của chồng ra sông Hồng quẳng xuống sông, rồi lĩnh án ngồi bóc lịch đến chung thân…Chao ôi là buồn….Tất nhiên, những việc như thế, ở đâu mà chả có. Giông bão nổi lên từ trong những ngôi nhà nhỏ bé. Lỗi ở đâu? Lỗi ở đâu? Lỗi tại ai đây?...

Nhưng cuộc sống thì vẫn cứ nhẩn nha tiếp diễn. Gần đây, Nhà nước có chủ trương phát triển nông thôn bằng những giải pháp chiến lược. Đưa nông thôn tiến lên văn minh hiện đại, điều ấy thì đúng rồi. Nhưng những biện pháp cụ thể thì hình như còn nhiều điều phải nghĩ ngợi. Mười chín tiêu chí phải phấn đấu đạt cho được, mới trở thành nông thôn mới chính quy. Một số địa phương vùng đồng bằng khá giả, quyết tâm phấn đấu rồi cũng “nên người”. Nhưng cứ “hồn nhiên” áp đặt mười chín tiêu chí này vào để thực hiện cho bằng được, thì phần lớn các địa phương vùng xa vùng sâu, có lẽ phải hàng trăm năm nữa mới có thể xoay xỏa xong để được bằng chị bằng anh. Sắm sửa cho đủ các tiêu chí rồi, liệu rồi cái bản sắc văn hóa làng quê có còn nữa hay chăng? Hình bóng những con đò, những cầu tre lắt lẻo, những cây đa bến nước sân đình, rồi tiếng sáo diều vi vút đêm khuya, những tiếng ầu ơ kẽo kẹt, rồi ra biết sẽ về đâu? Còn đâu những tiếng gọi đò da diết thăm thẳm trong đêm, bao đời nay làm xao xuyến tâm hồn Việt Nam. Những chiếc cổng làng cổ kính gợi bao nỗi niềm những kẻ xa quê, rồi ra cũng chỉ còn trong tranh trong ảnh, trong ký ức người già. Những lũy tre làng quê tôi giờ chẳng còn đâu nữa. Nhà bê tông san sát. Cánh đồng bị gặm nhấm, teo dần đi như miếng da lừa. Lên phố nên phường mà tha hương. Tha hương giữa phố giữa phường. Nông nghiệp mà bình quân mỗi người chưa được ba trăm mét vuông, biết làm gì đủ ăn? Thế là nối nhau đi làm vú nuôi cho ngoại quốc. Để vợ đi Tây đi Tàu, kiếm được chút tiền thì thành vợ người ta. Xây được căn nhà thì chồng ở nhà ôm con hóa đá, chẳng phải là đau xót lắm sao? Muôn sự lỗi tại cái nghèo. Nghèo thì phải hèn. Hèn thì phải nhục, biết gỡ gạc thế nào đây? …

Hạt lúa, đất đai làm nên Xã Tắc. Xã Tắc đồng nghĩa với Tổ Quốc, hay là một cách gọi khác của Tổ Quốc. Vậy thì nông nghiệp chẳng phải là linh hồn của Tổ Quốc đấy ư? Chẳng phải nông dân là chủ nhân, là linh hồn của đất nước đấy ư?

Có kẻ chê nông dân là những người nhà quê đầu óc thiển cận. Những Lý Toét, Xã Xệ, và cả những Chí Phèo, Thị Nở…Tiểu nông, tư hữu, hẹp hòi bỏ mẹ…Họ muôn đời không thể làm lãnh đạo, và cũng chẳng thể lãnh đạo được ai. Tôi thì không hẳn tin như thế. Những vị vua khởi nghiệp và cả những tướng lĩnh tài ba ở nước ta trong sử sách, chẳng phải là họ cũng từ nông dân mà Hoàng đế khanh tướng đấy sao?

Những người dân quê cần cù, lương thiện, yêu quê hương đất nước của mình hơn ai hết. Khi có kẻ thù đến phá hoại ngôi nhà nhỏ bé của họ, xâm phạm mồ mả tổ tiên họ, phá hoại cuộc sống bình yên của làng quê họ, thì họ phải tự đứng lên, tự xông ra, với gậy tầm vông, với mã tấu dao phay, thề một sống một chết với kẻ thù. Họ dũng mãnh tả xung hữu đột, kẻ đâm ngang, người chém ngược, bọn hè trước, lũ ó sau, liều mình như chẳng có, mà chẳng đợi ai đòi ai bắt, chẳng đòi hỏi công trạng gì. Dẫu cho xác phàm vội bỏ, danh thơm còn mãi với cỏ cây sông núi…

Máu nông dân đổ xuống luống cày, nhuộm đỏ đất Điện Biên, nhuộm đỏ đất đai Quảng Trị và những dòng sông Nam Bộ, dựng lên tầm vóc thiêng liêng kỳ vĩ một dân tộc bền gan, thông minh và bất khuất. Giặc tan rồi, những anh lính nông dân lại trở về với ruộng đồng, với ngôi nhà xưa nho nhỏ, lại tiếp tục gieo vãi cấy cày và suy nghĩ về hạt gạo củ khoai. Thời kỳ đổi mới, nông dân nước ta mới dần dần thoát khỏi sự ràng buộc không hợp lý của cơ chế cũ. Nhà nước không thể “cưu mang” được họ như mong muốn, đành phải cầm lòng mà buông ra. Và nông dân lại hồn nhiên vô tư tự cứu lấy mình. Họ phải suy tư nung nấu vì nồi cơm còn vơi, về đồng tiền bát gạo để giành cho con cho cháu, nên họ phải tự lo lấy những đồng lưng vốn eo hẹp, mà sang Thái sang Tàu, sang Tây sang Nhật, cố công bền bỉ học cách gieo trồng, học cách nuôi con gà con vịt, con cua cái ốc, sao cho được nhanh hơn, sao cho được nhiều hơn. Họ cày cuốc và suy nghĩ trên luống cày của họ. Họ chắt chiu từng đồng vốn, tự mày mò cải tiến máy móc. Thế mà họ đã làm nên một nền nông nghiệp to lớn Việt Nam. Họ thật vĩ đại!

Nông dân cần cù, giỏi giang và tốt bụng. Họ cũng ít kêu ca. Mà thực ra, họ cũng chả biết kêu ai, hay đôi khi có cất lên tiếng kêu, thì cũng chả có ai chịu nghe họ. Hoặc giả có người nghe thấy đấy, nhưng mà giả câm giả điếc. Bất quá, họ đành phải rủ nhau đi khiếu kiện. Mà khiếu kiện ai? Họ khiếu kiện chính mấy ông con ông cháu của mình, đang là những người cầm cân công lý.

Người nông dân đổ máu vì một tấc đất cắm dùi, bao đời nay vẫn thế. Nhưng họ lại là người hào phóng bậc nhất thiên hạ, chả có ai sánh bằng. Cần giải tỏa làm đường ư?

Xin sẵn sàng! Lấy đất làm trường học cho trẻ nhỏ ư? Xin sẵn sàng! Có người sẵn sàng hiến tặng cho việc chung hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn mét vuông đất của gia đình từ đời xửa đời xưa ông bà để lại. Ai bảo họ không yêu nước nhất đời? Ai chê họ là dốt đặc cán mai, dại dột ngu ngơ? Họ vô tư trong sáng và vĩ đại, hơn bất cứ ai. Họ đáng kính trọng gấp vạn lần những anh đầy tớ hậu sinh hư hỏng…

Tổ Quốc này ngàn lần yêu dấu, cha ông phải bao máu xương mới bảo vệ được. Nông dân vốn hiền lành chất phác, giàu đức hy sinh, giàu lòng vị tha nhân ái. Nhưng họ còn quá nhiều thiệt thòi, còn không ít ẩn ức chua cay. Tin yêu đảng, nên họ nhiệt tình theo đảng mấy chục năm nay. Họ cũng chẳng thích quá nhiều đảng phái như nước Nga hiện nay, đâu như những hơn hai trăm đảng phái, nhiêu khê rách việc lắm.

Tôi hỏi mấy người thân quen, rằng nếu nhiều đảng, hoặc vài ba đảng tranh đua nhau cầm quyền, liệu có thích không? Họ bảo: “Nhiều đảng tranh quyền tranh bá, cũng có nhiều điều hay. Đối trọng để kiểm soát lẫn nhau, anh này kém, thì anh kia phản biện, buộc anh cầm quyền phải lo cố gắng lên, phải làm tốt hơn. Hứa thế nào, phải làm tốt hơn lời đã hứa với dân. Nếu không làm được thì mời ông xuống ngay đi cho, để bà con nhờ. Xem như Nhật Bản đấy, hoặc Hàn Quốc đấy, người ta từ chức ngay tức khắc, nếu bị chê trách là kém cỏi. Có đối trọng, có tranh đua thì mới phát triển tốt hơn, mới kiểm soát được tham nhũng. Nhưng nhiều đảng mà chỉ bận cãi vã nhau cũng chả thích!”. Có người lại bảo: “Một đảng cầm quyền thì dễ nảy sinh tiêu cực. Lập pháp, hành pháp, tư pháp, cũng chỉ một anh đó cả, thì liệu có chắc được không? Cửa quyền, tham nhũng, quan liêu, coi dân như cỏ rác, nói hay, làm chẳng ra gì. Dốt nát mà cứ ngồi dai đến rách cả ghế, thì nguy hại cho dân cho nước lắm. Phải làm thế nào kiểm soát, chế ngự được mấy căn bệnh đó thì một đảng cầm quyền có khi lại hay hơn. Vấn đề là ai chữa bệnh, chữa như thế nào? Chữa bao giờ mới xong?Dân yêu quý anh, chỉ mong anh ngày một sáng sủa hơn. Nhưng anh cứ ù lì chẳng chịu sáng sủa ra, chỉ chăm chắm vun vén cho riêng mình, cho dòng tộc nhà mình, dân bực mình quá không chịu được, thì họ sẽ bảo nhau cho anh nghỉ luôn chứ còn sao nữa!”. Hóa ra là thế! Nông dân Việt Nam mình, hình như chỉ thích yên ổn mà làm ăn, chả thích ganh đua cãi cọ nhiều đâu. Nhưng một đảng cầm quyền, Cụ Hồ dạy cán bộ phải là công bộc của dân. Làm cái anh công bộc mà biệt thự triệu đô, xe hơi mấy chục tỷ, tiền chùa tiêu mệt nghỉ, ai mà chả muốn làm công bộc trọn đời? Ai muốn làm ông chủ, phải cõng cái danh hão cho khổ cái thân! Thế nên phải hướng về những vùng quê còn nghèo khó, những bản làng heo hút chứ. Và cũng phải thật lòng biết ơn hạt lúa củ khoai mà đem đến nhiều niềm vui cho người cày cấy, bởi con cháu họ đang cầm súng bảo vệ biên cương hải đảo, vì sự bình yên của Tổ Quốc. Dân mình yêu nước lắm. Vạn nhất, đất nước này có nguy cơ bị ngoại bang dòm ngó, đe dọa tấn công, nông dân lại sẵn sàng dẹp bỏ sang một bên những điều vụn vặt mà cầm ngay lấy khẩu súng xông ra “mặt tiền” ngay tức khắc. Gió quê thổi mãi tới vô cùng. Nông dân Việt Nam ta thật vĩ đại!


Tags :
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}