Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Tin nóng
Chủ Nhật, 17/11/2019 04:51

Nhân vật:

 

Góp bàn về niên đại và chủ nhân hai ngôi mộ mới phát hiện ở khu vực Ciputra (quận Tây Hồ, Hà Nội)

Nguyễn Việt | Thứ Năm, 03/10/2013 02:05 GMT +7
(Văn Hiến) - Thời gian vừa qua dư luận rất quan tâm đến sự kiện hai ngôi mộ cổ và một chiếc giếng cổ đã được phát hiện tại khu đô thị Ciputra (Hà Nội). Việc xác định nguồn gốc của các di tích này sẽ là những gợi mở để chúng ta có cách ứng xử phù hợp nhất với chúng. Bài viết của TS Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm tiền sử Đông Nam Á đưa đến cho chúng ta một cách nhìn.
JPEG - 38.3 kb

 

Mộ gạch Ciputra thuộc thời Nam Tấn

Bác Nguyễn Vinh Phúc, người được mệnh danh là “Nhà Hà Nội học” khi trả lời câu hỏi của phóng viên Hà Nội mới (online) đã có lý khi đưa ra nhận xét mang tính logic về việc phát hiện hai ngôi mộ gạch cuốn ở công trường làm đường trong khu vực Ciputra thuộc quận Tây Hồ vốn được báo chí quan tâm khá ồn ĩ trong vài tuần qua. Theo ông thì vùng đất cổ nơi có hai ngôi mộ nói trên thuộc làng Nhật Tảo (tên nôm là làng Kiều) là cụm dân cư cổ có ít nhất từ đời Đông Hán. Việc tồn tại những gò mộ gạch cổ ở đây là lẽ đương nhiên. Một số phát hiện mộ gạch kiểu Hán trong vùng (như mộ chùa Hang ở Xuân La) minh chứng cho điều đó. Tuy nhiên, cấu trúc hai ngôi mộ này nhỏ và không giống những mộ gạch Đông Hán điển hình. Kích thước gạch nhỏ hơn, hoa văn đơn giản, mộ xây cuốn vòm không bổ trụ đỡ mà dùng kỹ thuật chồng chéo gạch để gồng khóa ở sống đỉnh vòm. Cấu trúc mộ như vậy cùng với đồ gốm tùy táng trong mộ cho thấy chúng thuộc loại hình mộ Lục Triều sớm, khá gần gũi với niên đại ngôi mộ gạch ở xã Tân Hòa (Hoài Đức, Hà Nội) đã được Bảo tàng Lịch sử Việt Nam khai quật năm 1987.

Khi khai quật mộ Tân Hòa, các nhà khảo cổ thuộc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã đặt niên đại mộ vào thời Tấn muộn, dựa trên minh văn từ ba viên gạch mộ. Tuy nhiên, Giáo sư Hà Văn Tấn đã đưa mộ này sang thời Tề với logic cho rằng minh văn gạch nói đến sự kiện xảy ra vào thời “Tấn mạt” thì mộ phải sau năm 420. So sánh hai mộ Nhật Tảo (Ciputra) với mộ Tân Hòa nói trên có thể nhận thấy một số điểm sớm hơn chút ít, thể hiện trên hoa văn gạch mộ và kiểu gạch lát nền đáy mộ. Những mộ đó khá gần gũi, cả về đồ tùy táng gốm) với các mộ đời Nam Tấn khai quật được ở Quảng Tây, Quảng Đông (Trung Quốc). Vì thế, theo tôi có thể nghĩ rằng đây là những mộ đời Nam Tấn muộn, tức ở thế kỷ 4 đến đầu thế kỷ 5 sau Công nguyên.

Niên đại hai mộ gạch Ciputra không cùng với niên đại giếng gạch phát hiện cách đó 100m. Thường thì các khu mộ gạch cổ ở tương đối xa khu cư trú cùng thời. Kiểu giếng gạch như vậy khá giống những giếng gạch thời Đường – Nam Hán đào được khá nhiều ở Phiên Ngung (Quảng Châu, Trung Quốc). Việc phát hiện các mảnh vỡ sành, gốm thế kỷ 7-10 trong giếng khá phù hợp với khung niên đại Đường. Theo Nguyễn Vinh Phúc, làng Gạ ở gần đó, nơi hiện còn ngôi chùa Khai Nguyên tương truyền liên quan đến việc thứ sử Quảng Châu thời nhà Đường là Lư Hoán từng lập quán Khai Nguyên để thờ Đường Minh Hoàng. Điều này cho thấy khu mộ cổ đời Tấn, sau mấy trăm năm, sang đời Đường đã có người ở và chiếc giếng gạch kiểu Đường kể trên có thể liên quan đến cư trú thời Đường đó. Tuy nhiên cần ghi nhận rằng loại giếng gạch như vậy không phải là loại giếng dân gian, bình dân mà thường là một phần của kiến trúc tôn giáo, quý tộc đương thời.

Chủ nhân mộ gạch Ciputra

Ngôi mộ ở xã Tân Hoa (Hoài Đức) thế kỷ 5 do Bảo tàng Lịch sử khai quật, theo GS Hà Văn Tấn, có liên quan đến dòng họ Đỗ đã từng làm thái thú Giao Châu như Đỗ Tuệ Độ, Đỗ Tuệ Kỳ, Đỗ Chương Dân. Ba viên gạch ghi minh văn trong mộ này cũng đề cập đến công lao của người chết chôn trong mộ đã có công dẹp loạn Lư Tuần vào khoảng những năm 410, 411. Lư Tuần vốn làm thái thú ở quận Vĩnh Giang, nổi lên chống nhà Nam Tấn. Khi thất bại đã cùng một số thủ lĩnh người Việt chạy về nam đánh chiếm Quảng Châu, Hợp Phố, Long Biên. Cuối cùng chết ở đất Giao Châu. Theo GS Hà Văn Tấn, chủ nhân ngôi mộ ở xã Tân Hoa (Hoài Đức) có thể là Đỗ Quý Dân, có công tham gia dẹp loạn đảng Lư Tuần.

Trong ngôi mộ lớn ở Ciputra có một số viên gạch in nổi hình một chữ Hán: bên phải là bộ “Thổ”, bên trái là bộ “Mộc”. Chữ Hán không có chữ này, nhưng nếu biết rằng để in ra chữ đó người thợ phải có một bản khắc gỗ lõm. Và chính ở trên bản khắc lõm đó người ta dễ dàng nhận ra chữ “Đỗ” (bên trái là nghĩa bộ “Mộc” bên phải là âm bộ “Thổ”). Theo táng tục xưa, ít ra thấy từ thời Đông Hán, gạch hoặc đá xây mộ cho người chết thuộc hàng quý tộc thường có ghi tên họ hoặc chức danh của những người cúng viếng. Ở Việt Nam, ngôi mộ Đông Hán thế kỷ 2 sau Công nguyên khai quật tại Nam Sách (Hải Dương) có khá nhiều viên gạch ghi dòng họ “Hoàng”, trong đó một số chữ cũng có hiện tượng in ngược như chữ Đỗ trong mộ Ciputra. Như vậy có thể thấy người chết trong mộ có thể là người thuộc dòng họ Đỗ hay chí ít cũng liên quan đến dòng họ nổi danh này.

Giải thích tại sao chữ nổi trên gạch lại là chữ họ “Đỗ” in ngược, tôi cho rằng liên quan đến hai vẫn đề: thứ nhất là kỹ thuật in khắc âm bản trước khi dùng để in dập vào gạch. Đây là phương pháp tạo hoa văn trên gạch rất quen thuộc vào đời Hán. Để có những hoa văn nổi trên gờ viên gạch, thợ xưa dùng các bản in bằng gỗ hay đất nung. Khi khắc chữ, nhiều thợ đã không quen khắc ngược nên đã khắc chữ xuôi trên bàn dập, dẫn đến có chữ ngược trên gạch. Đây là điều khá bình thường đương thời, bởi rất hiếm khi người thợ thủ công xưa biết chữ. Hiện tượng này còn kéo dài đến sau này cả trên nghề làm dấu phong nê lẫn dấu in trên gốm sứ. Thứ hai có thể liên quan đến quan niệm âm dương dưới mồ. Chữ “Đỗ” in ngược trên gạch xây mộ phản ánh tư duy cõi âm đối ngược với dương thế. Nhưng dù thế nào thì chữ in trên gạch cũng là chữ “Đỗ” – một dòng họ rất nổi danh trong vùng đương thời.

Dòng họ Đỗ đến thời nhà Đường đã rõ là một dòng họ Việt bao trùm cả một vùng hữu ngạn sông Hồng. Vùng lưu vực sông Đáy từng có tên là Đỗ Động giang, nơi sứ quân Đỗ Cảnh Thạc nổi lên hồi thế kỷ 10, từng được ghi danh một trong 12 sứ quân. Trước đó, Đỗ Anh Sách vốn là một thổ tù cai quản Trường Châu được nhà Đường cho làm đến chức Đô úy cai quản quân đội của An Nam đô hộ phủ. Đỗ Anh Hàn tham gia khởi nghĩa Phùng Hưng cũng làm quan trong Đô hộ phủ. Trên chuông đồng chùa Thanh Mai đúc năm 798 phát hiện ở gần thành phố Hà Đông có minh văn ghi tên công đức của gần 300 nhân vật có vị trí xã hội cao đương thời, có đến 28 người mang họ Đỗ, gồm cả Đỗ Anh (Sách). Những điều trên cho thấy hai ngôi mộ Ciputra nói trên nằm trong phạm vi ảnh hưởng của dòng họ Đỗ đương thời. Đây là vùng thượng nguồn của sông Nhuệ và sông Tô thuộc hệ thống các nhánh hữu ngạn sông Hồng.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}

Tin nóng

  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}