Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Hãy nghĩ đến chúng tôi cho độ lượng

Thứ Tư, 29/07/2015 03:11 GMT +7
Bằng Việt
 
Tới thời điểm hiện tại, với độ lùi xa cần thiết đến nửa thế kỷ, có lẽ cũng đủ dày dặn để chúng ta có thể bình tâm suy ngẫm lại toàn diện về một thế hệ thơ đặc thù, hình thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, một thế hệ thơ mà theo tôi, hẳn chỉ có thể được sản sinh ra có một lần, mà sau này, cũng hiếm khi nào còn lặp lại.

Nếu như cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên Xô cũ chỉ kéo dài có 4 năm (1941- 1945), hay cuộc nội chiến Tây Ban Nha chỉ kéo dài có 3 năm (1936-1939) mà đã đủ sản sinh ra cả một thế hệ nhà thơ tài năng và nhiều bài thơ bất hủ, thì chúng ta cũng có thể nói rằng, cuộc chiến tranh 21 năm (1954 – 1975) để đi đến thống nhất đất nước và tách riêng ra, nếu cần nhấn mạnh một vệt đặc thù, là cuộc đánh trả của miền Bắc Việt Nam chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ, khởi đầu từ ngày 5- 8- 1964 với sự kiện Vịnh Bắc Bộ và kết thúc là trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12-1972, đánh thắng tập đoàn pháo đài bay B52 trên bầu trời Hà Nội, dẫn đến hiệp định Paris và kết thúc cuộc chiến tranh phá hoại, cũng sản sinh ra biết bao bài thơ để đời, những bài thơ thực sự là niềm tự hào chính đáng của một lớp nhà thơ đã trưởng thành từ chính những tháng năm sôi động đó. Lớp người này thực sự đã dám sống hết mình với thời đại của mình, mà nói như nhà thơ lớn của Đức thế kỷ XVIII là Friđrich Sinle, thì: “Ai đã dám sống hết mình với thời đại của mình thì cũng sẽ còn để lại giá trị có ý nghĩa cho cả mọi thời sau đó nữa!”.       
                                             
Tinh thần “người trong cuộc”, người dám sống hết mình với thời đại của mình giữa những năm thử thách khốc liệt đó còn được nâng cao lên với khát vọng cháy bỏng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng mang hơi thở sử thi, của tinh thần tự hào dân tộc hết sức sâu đậm. Ngày hôm nay, có thể chính bản thân tôi cũng mỉm cười khi đọc lại những câu thơ chừng như hơi thậm xưng của bản thân mình viết về Hà Nội năm 1967: “Hà Nội mang tầm vóc hôm nay/ Cộng với tầm cao quá khứ/ Tôi đi dọc những lối vào lịch sử/ Nghe suốt năm châu bè bạn nối gần/ Tôi đi ngang những cuộc đời thường/ Biết ở đó chia nỗi lo nhân loại”, nhưng phải chăng, đó lại chính là những suy nghĩ của chúng ta trong suốt những năm đánh Mỹ ấy? Nếu không như thế, thì làm sao lại có những hành động quả cảm và quên mình ủng hộ Việt Nam của Norman Môrixơn, của Giên Phônđa, của Gioan Baê ngay từ trong lòng nước Mỹ? Và những dòng người rầm rập đồng tình từ các phong trào phản chiến ở Thụy Điển, Anh, Ý, Pháp, Đức  nối dài suốt những năm tháng đó, với điệp khúc trầm hùng sâu thẳm trong bài ca rất phổ cập của một nhạc sĩ người Anh: “Hồ, Hồ…, Hồ Chí Minh”. Làm sao lại có những tiếng nói ủng hộ từ lương tâm cao cả của các nhân sĩ trí thức lớn như Ôlôp Panmơ (Thụy Điển), Giăng Pôn Xactơrơ, Luy Aragông (Pháp), Pablô Nêruđa (Chi lê), Blaga Đimitơrôva (Bungari), Côngxtăngtin Ximônôp, Epghêni Eptushencô (Nga)… với chúng ta?

 Còn có thể dẫn thêm những câu thơ thật chân thành từ suy nghĩ nội tâm của thời đó, mà hôm nay đọc lại, ai đó dễ quy chụp là có phần nào cao giọng, cường điệu. Sự thật, nó vẫn phản ánh trung thực những suy nghĩ tâm huyết và phổ biến của một thời. Phải đặt vào đúng văn cảnh của nó, thì mới thấy hết được rằng đó là những câu thơ hay, những câu thơ gan ruột.  Ví dụ: “Đi qua hết tuổi thanh xuân/Để lại trong rừng những gì quý nhất/ Mất mọi thứ để nhân dân không mất”. (Phạm Tiến Duật).  Hay là: “Trời ơi! Nếu kẻ thù chiếm được/Chỉ một gốc sim thôi, dù chỉ gốc sim cằn/Tổ quốc sẽ ra sao, Tổ quốc!” (Hữu Thỉnh). Hoặc: “Bạn cùng đi với tôi trên vỉa hè rạn vỡ/Đây là những gì chúng ta đã sống và đã chết/Người con gái áo trắng đi về tương lai nào đó/Đây là những gì chúng ta đã đổ máu và hát ca!” (Nguyễn Khoa Điềm)…         
     
Thơ chống Mỹ tự hào thể hiện lý tưởng nhân bản và chủ nghĩa anh hùng, tinh thần dân tộc và khát vọng hòa bình, hướng tới dân chủ và công bằng trên trái đất; từ đó, mọi điều bộc bạch trong thơ dễ có điều kiện xuất thần, cảm hứng trong thơ cũng dễ thăng hoa, tạo được sự lay động mãnh liệt, chói sáng một khoảnh khắc nhưng lại có giá trị lâu dài. Các nền thơ hay trên thế giới đều có đủ dẫn chứng về điều này. Chúng ta sẽ không có Lorca, Anbécti… nếu không gắn họ vào cuộc nội chiến Tây Ban Nha, cũng không có Êluya, Aragông… nếu không gắn vào thơ kháng chiến Pháp, không có Ximônôp, Tvacđôpxky, Ônga Becgôn… nếu không gắn họ vào cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên bang  Xô viết.  Cũng như vậy, ở ta, những tên tuổi lớn từ thời tiền chiến như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, Anh Thơ…, cũng như các nhà thơ được tôi luyện trong lò lửa cách mạng như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, hoặc xuất hiện trong thời kỳ chống Pháp như Quang Dũng, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Chính Hữu, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Vũ Cao..., tất cả họ cùng tiếp tục thăng hoa trên những ngả đường chiến tranh chống Mỹ và có những đóng góp xứng đáng vào thành tựu của cả nền thơ chống Mỹ. Nhưng phải kể đến hiện tượng lý thú và hào hứng trong thơ thời kỳ này, là cùng với lớp đàn anh kể trên, một thế hệ hàng trăm nhà thơ trẻ ở độ tuổi chỉ mới 20-35 trong những năm 60 trong thế kỷ XX, đã xuất hiện liên tục và đồng đều, tạo thành một lứa thơ mạnh mẽ và đông đảo, dần khẳng định được vị trí và giá trị của mình giữa hai cột mốc 1964 - 1975, khi họ dám dấn thân sống và trải hết mình vào cuộc chiến đấu vì Tổ quốc, có ý thức trách nhiệm cao nhất, trước hết với tư cách công dân, còn tư cách nhà thơ thì họ gắn liền khiêm tốn vào cùng tư cách người chiến sĩ.

 Khi ý thức về sứ mệnh của cả thế hệ ấy, bản thân tôi đã từng có hình tượng ví von: “Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai”. Nhưng tôi không thể nào không gai người lên vì những câu thơ còn cụ thể hơn nữa và trần trụi đến tận cùng của Thanh Thảo: “Người ta không thể chọn để được sinh ra/Nhưng chúng tôi đã chọn cánh rừng, phút giây, năm tháng ấy…”. Và: “Chúng tôi đi không tiếc cuộc đời mình/Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc/Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?/…Cỏ sắc mà ấm quá, phải không em?”. Cách nói ấy, phải ghi nhận rằng, thơ thời tiền chiến và cả thời chống Pháp đều chưa thể có, khi hãy còn thi vị hóa có phần nào hoài cổ chất tráng sĩ cùng thanh gươm yên ngựa, đi để chết như tư thế hiệp khách Kinh Kha sang Tần, với những câu thơ khí phách như: “Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ/Chí lớn không về bàn tay không/Thì không bao giờ nói trở lại /Ba năm, mẹ già cũng đừng mong!” (Thâm Tâm). Hoặc một câu thơ hay theo kiểu khác, có thêm chút âm hưởng “tiểu tư sản” cao ngạo (như cách nói quen thuộc một thời), dầu vẫn chịu đó là câu thơ hay đúng  chất hào khí tráng sĩ: “Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa!” (Chính Hữu).  

Nhân đã nói về Thanh Thảo, tôi còn muốn trích dẫn thêm một đoạn có khẩu khí “tuyên ngôn” về người lính thời đánh Mỹ nữa của anh, đã khác xa với cách nghĩ của các thời trước như thế nào: “Những tráng ca thuở trước/Còn hát trong sách thôi/ Những thanh gươm, yên ngựa? Giờ đã cũ mèm rồi/ Bài hát của chúng tôi/ Là bài ca ống cóng/ Hành trang quân giải phóng/ Đơn giản nhất trên đời”… Hay có cách suy tư rất chủ động và quyết đáp, phù hợp với tinh thần năng nổ có tính chất “thân lập thân” mà cả thế hệ chống Mỹ chúng tôi đang sống: “Không có sách, chúng tôi làm ra sách/Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình!” Không có chút ngoa ngoắt nào trong hai câu thơ ấy, vì quả thực, thế hệ chống Mỹ không thể trông chờ vào vận may nào kiểu “há miệng chờ sung”, lại cũng không ỷ lại được vào điều gì xa xôi, ngẫu nhiên,ngoài thực tại khốc liệt đang diễn biến hàng ngày; do đó, phải xoay trần ra, vắt kiệt sức mà tồn tại và chiến đấu, lại phải luôn biết ứng biến và vượt qua mọi thử thách. Đấy thực sự là một thế hệ “thân lập thân” (self-made men), với đúng cách hiểu chân chính nhất của từ ngữ đó!.

Với tầm suy tư, sức cảm thụ chủ động với hướng đi và đích đến rõ ràng như vậy, chất anh hùng ca và hơi thở sử thi được khơi dậy rất đậm trong thơ thời chống Mỹ. Chưa cần trích dẫn những bản trường ca xuất sắc một thời như Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Trường ca Sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Bài ca chim Chơ Rao của Thu Bồn, Những người đi tới biển của Thanh Thảo, chúng ta chỉ cần dừng lại ở mấy câu ngắn của Phạm Tiến Duật trong bài Lửa đèn là đã thấy rõ chất anh hùng ca mang tính sử thi đó, Ba đoạn thơ Đèn, Tắt lửa, Thắp đèn đã tái hiện một cách sinh động khung cảnh và tâm trạng con người của biết bao vùng quê trong bom đạn, trong bóng tối của các cuộc hành quân: “Bóng tối dâng đầy tỏa ngợp bao la/Thành những màn đen che những bào thai chiến dịch/Bóng đêm ở Việt Nam là khoảng tối giữa hai màn kịch/Chứa bao điều thay đổi lớn lao !”. Và thú vị là cuối cùng, tác giả đã cho thắp đèn, để rồi tưởng tượng là tất cả những người, những cảnh hôm nay “sẽ hiện muôn đời trên mặt ngọn đèn xoay”, vậy là cả vở kịch sống chết, mất còn cả một thời đại đã được biến thành màn múa rối đầy chất hóm hỉnh Phạm Tiến Duật trên dàn đèn kéo quân vui mắt cho con trẻ mai sau! Chất sử thi ở đây vừa bi tráng lại vừa điểm xuyết thêm khía cạnh humour của tiếu lâm dân gian, vẫn thường có sức vượt lên cao mọi nỗi bi kịch ở đời. Phạm Tiến Duật thường có biệt tài làm dịu không khí chiến tranh căng thẳng bằng cách pha trò có duyên và ngồ ngộ kiểu ấy: “Bụi phun tóc trắng như người già/Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc/Nhìn nhau, mặt lấm cười ha ha!”…

  Thơ thời chống Mỹ là chất thơ tràn đầy sự phấn khích và say mê lý tưởng. Nhà thơ Pháp Pôn Êluya, khi tự chuyển hóa từ một nhà thơ siêu thực thành một nhà thơ cộng sản, đã tâm đắc với lý tưởng của mình là đã “Từ chân trời của một người đến với chân trời của tất cả”. Ngày hôm nay, lại có người nói với tôi: “Êluya cũ rồi! Bây giờ, lẽ ra chúng ta phải nói ngược lại, là từ chân trời của tất cả hãy trở lại chân trời của một người, thơ như thế mới thể hiện hết cái Tôi độc đáo, thiêng liêng, mới có thể thăng hoa, thơ chính là của tầng lớp tinh hoa, thơ không thể hạ mình chỉ phản ánh lý tưởng tầm thường của số đông hỗn tạp!”. Nói như vậy chỉ có lý một phần. Không có xã hội nào chịu được thói ngạo mạn đến mức ích kỷ cực đoan như thế, huống chi xã hội ta hiện nay còn đang phải vất vả đánh vật với từng “nhóm lợi ích” vị kỷ đang chia rẽ và làm băng hoại đất nước, nên không thể tôn thờ chủ nghĩa cá nhân hoặc chủ nghĩa duy tâm chủ quan, được huyễn hoặc đến mức thần bí, cao đạo. Và nếu không còn tôn trọng lý tưởng và những giá trị thẩm mỹ cao thượng, thì ngay cuộc sống cũng trở thành vật vờ vô nghĩa và dung tục, huống chi là thơ! Chẳng lẽ sang thế kỷ mới, chúng ta lại xúm vào công kênh những người làm thơ chỉ thích rỗi rãi xáo trộn ngôn từ để mà chơi, mê làm xiếc với ngôn từ bằng các mê cung của chữ nghĩa, tự huyễn hoặc mình là “thiên tài” bằng cách lên đồng với những hình tượng thơ có lúc lập dị, có lúc ngập vào khám phá bí ẩn của bản năng tính dục, với mọi kiểu cách gắn kết câu chữ phi lý, phi ngữ pháp đến mức thủ tiêu mọi ý nghĩa, xóa hết mọi nội hàm của thơ ca? Vì vậy, tôi vẫn muốn một lần nữa đề cao chất lý tưởng trong thơ chống Mỹ, nó vẫn nằm trong dòng chảy lớn của nền văn học thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn, tôn trọng tinh thần dân chủ, bác ái, công bằng, tài sản tinh thần chung của nhân loại. Đương nhiên, khi đề cao chất lý tưởng và những giá trị thẩm mỹ trong thơ, chúng ta cũng luôn luôn cảnh giác để không rơi vào thứ thơ ước lệ, duy lý một cách khô khan hoặc sáo rỗng, “khái quát non” hoặc hùng biện quá đà, không đủ chi tiết, hình ảnh sống động, xúc cảm sâu sắc mà thừa quá nhiều lý sự, nặng nề, nhiều giáo huấn vô bổ! Tất cả những điều này phụ thuộc rất lớn vào bản lĩnh sống, tài năng và độ chín qua những trải nghiệm của mỗi nhà thơ. May thay, tới hôm nay, sau nửa thế kỷ, những câu thơ thời chống Mỹ đậm chất lý tưởng và chất men say lãng mạn của tình cảm yêu nước, yêu con người… sau khi được thời gian sàng lọc, vẫn còn có cửa để vào được trái tim con người, kéo được công chúng rung động theo mình!. Nhiều độc giả của thời ấy vẫn sẵn sàng đọc thuộc lòng những câu thơ, bài thơ tâm đắc từ thời chống Mỹ mà họ vẫn mang theo như một hành trang tinh thần, dù có thể họ quên tên tác giả và chưa hề biết mặt nhà thơ mà họ yêu mến.

Vậy là với mọi trải nghiệm không gian và thời gian, cả “nền thơ chống Mỹ” đủ khép kín một chu kỳ trọn vẹn cho suốt một thời đại, trong đó nổi lên đậm nét tấm lòng quả cảm, bao dung, tận tụy, hy sinh và đùm bọc nhau giữa người với người, dù xa hay gần, thân hay sơ…ở tiền tuyến hay hậu phương, trong mọi lĩnh vực hoạt động vừa đánh giặc vừa vun đắp cho hạnh phúc đời mình, khi vừa kháng chiến vừa kiến quốc…Cả nền thơ đã gắng tạo nên vẻ đẹp cao thượng, hài hòa trong mọi khía cạnh cao vời nhất của phẩm chất công dân, của lòng yêu nước được gắn kết thành một khối, xứng đáng với sức bật, sức vươn lên hết mình của mỗi con người trong một hoàn cảnh đặc thù mà không thời điểm nào trong lịch sử còn có thể lặp lại y nguyên như vậy nữa. Vì thế, chúng ta cũng có quyền khẳng định, rằng “nền thơ chống Mỹ” thực sự cũng chỉ sản sinh ra có một lần cho mãi mãi, và là hiện tượng văn học đặc thù không bao giờ còn lặp lại!.

Nhà thơ lớn người Đức Bertolt Brecht trong bài thơ “Gửi những người sinh sau”, có những câu thơ đau xót và  bi thảm đến tận cùng về thời mình sống và thế hệ thơ mình, đó là thời đại cả châu Âu cùng chống phát xít và đi qua cuộc Đại chiến thế giới thứ hai: “Chúng tôi thay những đất nước đi qua nhiều hơn cả thay giày/Qua bao cuộc đấu tranh giai cấp/Và thất vọng/Vì chẳng cuộc nổi dậy nào xóa hết nổi bất công/Chúng tôi biết điều này/Lòng oán ghét sự khốn cùng/Cũng cày xới những vết nhăn trên mặt/Lòng giận dữ những điều ngang trái/Cũng làm giọng mình khản đặc khô đi/ Ôi! Lũ chúng tôi/Từng muốn cày vỡ ra một mảnh đất bạn bè/ Đã không thể thành bạn bè nhau được/Nhưng các anh/ Khi đến được cái thời ao ước/Khi con người biết tôn trọng con người/Hãy nghĩ tới chúng tôi/Cho độ lượng! ”…“Lứa thơ chống Mỹ” chúng tôi, so với những điều bộc bạch trên đây của Brecht, quả là có phần may mắn hơn, vì chúng tôi luôn được sống trong sự đùm bọc của dân tộc, được dân mình  hiểu, dân mình tin, gắn bó lý tưởng chiến đấu với cả cộng đồng lớn lao là đồng bào ruột  thịt... Mặt khác nữa, lứa chúng tôi khi đi qua thử thách, còn có một điều khác biệt khá rõ nữa, là luôn giữ được sự bình tâm, tự tin, kín đáo đến cùng, biết “nuốt hết nỗi đau khổ vào trong” theo phong thái truyền thống của người Việt.  Có thể vì thế chăng, mà toàn bộ thơ “thời chống Mỹ”, tuy phải viết dưới 15 triệu tấn bom kẻ thù đổ xuống (theo thống kê sau chiến tranh), nhưng vẫn duy trì được sự điềm tĩnh lạ lùng, biết an lòng hướng tới cái Chân, cái Thiện cùng cảm xúc tràn đầy nhân tính, với vẻ Đẹp toàn vẹn của tâm hồn Việt Nam.

 Bây giờ, sau tất cả mọi điều, nếu cần có thêm một lời bộc bạch đến tận đáy lòng, thì thế hệ chúng tôi vẫn muốn nói rằng, cho dù mình đã gồng hết sức để vượt qua được các ngộ nhận có lúc vô cùng nghiệt ngã, các hoàn cảnh trớ trêu đến mức bất khả kháng của một thời; song dù sao, vẫn cứ còn lại đó nỗi tiếc nuối về một khoảng trống bất cập cho thơ ca của thế hệ mình, mà mình dù đã biết và tiên lượng đến đó, nhưng vẫn không sao với tới, vì lý do đơn giản là đã không thể vượt qua nổi những giới hạn chạm trần của thời mình sống, những kiến giải đóng băng dành cho thời mình biết. Và câu thơ tỏ bày đầy khẩn khoản của B.Brecht “Hãy nghĩ tới chúng tôi/ Cho độ lượng!” rút cuộc vẫn còn lại đó, vẹn nguyên ý nghĩa cho tới hôm nay, và có thể xem như lời nhắn gửi chân thành của thế hệ thơ chúng tôi đến tất cả các thế hệ mai sau./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}