Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Dân tộc:

 

Hiện tượng văn hóa tâm linh độc đáo

Hoàng Anh | Thứ Ba, 08/10/2013 03:42 GMT +7
Hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã được Ủy ban liên chính phủ về bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại tại kỳ họp lần thứ 7 diễn ra ở trụ sở UNESCO, Paris, Pháp vào cuối năm 2012. Việc Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận, cho thấy thế giới đánh giá rất cao hiện tượng văn hóa tâm linh độc đáo này.

 

Sợi chỉ đỏ tâm linh vững bền gắn kết toàn dân tộc

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước, có lẽ chưa có một quốc gia nào trên thế giới có tín ngưỡng thờ Tổ với phạm vi không gian rộng lớn toàn quốc gia và trường tồn qua hàng trăm năm lịch sử như tín ngưỡng thờ Hùng Vương ở Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là biểu trưng cho triết lý nhân văn "con người có tổ có tông" của văn hóa Việt Nam. Đây là hiện tượng rất độc đáo trên thế giới khi cả một quốc gia, một dân tộc tự coi mình có chung nguồn gốc.

Trong số 37 hồ sơ được xem xét và bỏ phiếu để trở thành di sản của nhân loại trong Kỳ họp thứ 7 của Hội đồng Liên quốc gia về Bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể UNESCO, hồ sơ “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương tại Phú Thọ” của Việt Nam được đánh giá rất cao và nhận được số phiếu gần như tuyệt đối của Hội đồng chuyên gia UNESCO.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng văn hóa mang tính nhân văn và phổ quát cao. Con người luôn có nhu cầu tìm về, hướng về nguồn cội của gia đình, của cộng đồng quốc gia, dân tộc. Sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mang đến cho mỗi cộng đồng những bản sắc riêng. Tuy nhiên, trong xã hội đương đại, tín ngưỡng này chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau và có sự biến đổi theo những xu hướng khác nhau.

Ở Việt Nam, thờ cúng tổ tiên là một tập tục có từ lâu đời, ở tất cả các thành phần dân tộc, biểu hiện cho truyền thống đạo lý uống nước nhớ nguồn. Vì vậy, người Việt Nam thờ cúng Hùng Vương - những người khai mở nhà nước Văn Lang cổ đại một cách rất tự nhiên. Từ bao đời nay, ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Phú Thọ nói riêng, Hùng Vương đã được coi là thủy tổ của dân tộc, một bậc thánh thiêng liêng nhưng gần gũi với người dân và mỗi cộng động làng xã, là điểm tựa tinh thần tạo ra sự cố kết vững bền cho quốc gia, dân tộc.

Giá trị to lớn nhất của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là tạo nên một tâm thức về cội nguồn quốc gia - dân tộc. Tâm thức này không chỉ là kết quả của nhận thức, mà nó còn là tâm tư, tình cảm, tạo nên sự hòa đồng của cả một dân tộc. Tín ngưỡng này không xuất phát ngay ở thời kỳ vua Hùng mà phải đến thế kỷ 13 - 14, từ thời Lý - Trần, dưới sức ép của giặc ngoại xâm, các nhà lãnh đạo quân sự phải xây dựng một ý thức hệ cho toàn dân tộc. Biểu tượng thờ cúng Quốc tổ là Hùng Vương, một vị cha chung mở ra đất nước Việt Nam, được tạo nên từ đó. Ý thức hệ này vô cùng quan trọng, nó kết tinh sức mạnh của cả một dân tộc, giúp chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù và giữ vững nền độc lập qua những thời kỳ lịch sử lâu dài.

Theo đánh giá của các thành viên UNESCO, ngoài những tiêu chí quan trọng về sự trường tồn theo thời gian, sự tham gia tích cực của cộng đồng, điểm độc đáo và hấp dẫn nhất của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là rất thuần Việt. Yếu tố này rất có sức nặng thuyết phục Hội đồng chuyên gia UNESCO. Trong suốt chiều dài lịch sử, biểu tượng Vua Hùng được thừa nhận trên cả nước Việt Nam như một biểu tượng cội nguồn chung cho cả dân tộc, vượt qua mọi rào cản của các triều đại phong kiến, sự khác biệt tôn giáo, các chế độ xã hội và các cộng đồng người. Trong mỗi gia đình Việt Nam, việc thờ cúng tổ tiên là một tín ngưỡng vô cùng quen thuộc và bình dị.

Nếu hệ thống lại, các huyền thoại ông cha ta có “Tứ bất tử” (4 vị thánh bất tử): Thánh Gióng – tượng trưng sức mạnh chống giặc ngoại xâm; Thánh Tản Viên– tượng trưng cho sức mạnh chinh phục tự nhiên, Chử Đồng Tử - tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân và sự sung túc, Thánh Mẫu Liễu Hạnh - người mẹ của muôn dân, tượng trưng cho vẻ đẹp nhân ái, chung thủy, từ bi, hiếu nghĩa, thiện nguyện của con người Việt Nam.

Cùng với 4 biểu tượng trên, Hùng Vương cũng chính là một biểu tượng cho tinh thần cố kết quốc gia - dân tộc.

Việc coi quốc gia – dân tộc như một “gia đình lớn”, lấy khuôn phép ứng xử gia đình, gia tộc để tạo thành khuôn khổ ứng xử của quốc gia giúp tạo nên một hệ ý thức thống nhất Việt Nam là điều không phải quốc gia nào cũng có. Tục thờ cúng những cá nhân sáng lập ra quốc gia vốn phổ biến ở các nước Đông Á, tuy nhiên, ở quy mô toàn bộ cộng đồng tham gia vào nghi lễ lại là không phổ biến. Việc cả dân tộc tôn vinh vị “cha chung” bắt nguồn từ đặc thù lịch sử Việt Nam.

Nhận định về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của người Việt, TS. Peter Knecht (Đại học Aichi Gakuin, Nhật Bản), cho rằng, tín ngưỡng thờ Hùng Vương đã gắn kết người Việt khắp mọi miền đất nước lại với nhau. PGS.TS Diana Thram (Đại học Rhodes, Nam Phi), người có 20 năm nghiên cứu Lễ hội Đền Hùng nói: “Đã có lúc tôi băn khoăn, tín ngưỡng thờ Hùng Vương là tôn giáo hay một tập tục, nghi lễ xã hội, có sức mạnh tâm linh to lớn, thậm chí như một sức mạnh chính trị nào đó”. Diana Thram cho rằng, tín ngưỡng thời Hùng Vương chính là sợi chỉ đỏ tâm linh, động lực tinh thần gắn kết toàn dân tộc, nên người Việt ở đâu muốn hành hương về đất Tổ.

Vai trò của Nhà nước và người dân đối với di sản

Trong quá trình xét duyệt hồ sơ “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” của Việt Nam, vấn đề khiến UNESCO quan ngại nhất khiến những người làm hồ sơ phải đau đầu chính vai trò của Nhà nước đối với di sản văn hóa phi vật thể này.

Không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước đối với các lễ hội, nhưng việc can thiệp quá sâu hay nói theo cách khác là “nhà nước hóa” lễ hội là điều không chỉ UNESCO lo lắng mà ngay cả những nhà khoa học trong nước đã lên tiếng. Cần phân biệt rõ hai khái niệm vai trò của nhà nước với lễ hội và vấn đề “nhà nước hóa” lễ hội.

Lễ hội Đền Hùng những năm qua được chuẩn bị chu đáo, được đầu tư công phu đã trở thành một “quốc lễ” mà Nhà nước đóng vai trò “chủ lễ”. Sự quan tâm của Nhà nước với một lễ hội là điều đáng mừng nhưng một lễ hội truyền thống dân gian phải có sự kết hợp song song vai trò của Nhà nước và vai trò của người dân.

Những năm trước đây, nghi lễ Đền Hùng đã bị nghi lễ Nhà nước hóa khiến một tập tục tín ngưỡng dân gian bị thu hẹp, vai trò của người dân sở tại bị lu mờ trước vai trò “chủ lễ” của các cấp lãnh đạo nhà nước.

Năm vừa qua, Lễ giỗ tổ Hùng Vương đã có sự góp mặt của người dân với nghi lễ rước kiệu của các làng xung quanh khu vực núi Nghĩa Lĩnh là một tín hiệu đáng mừng cho thấy nhà nước đã tôn trọng vai trò của người dân trong lễ hội.

Người dân là chủ thể của lễ hội, là người tạo ra bản sắc của lễ hội vì chính họ đã sáng tạo và gìn giữ lễ hội từ ngàn xưa đến nay. Nếu có sự can thiệp quá sâu, vô tình sẽ đẩy người dân đứng ngoài, thành người chứng kiến, đứng xem lễ hội thì sẽ không thành lễ hội đúng nghĩa.

Nếu nhìn vào lịch sử trước đây, Lễ giỗ Tổ Hùng Vương bắt đầu được coi là một quốc lễ từ thời nhà Nguyễn, cứ 5 năm tổ chức một lần. Khi cử lễ, ít khi vua có mặt, mà nơi đứng ra lo là bộ Lễ (tương tự bộ Văn hóa) cùng các quan đầu tỉnh. Tài liệu để lại cho thấy triều Nguyễn đã có những quy định cụ thể như giao việc tổ chức giỗ, trông coi hương khói mộ Tổ hàng năm cho nhân dân các xã sở tại, các vị con trưởng. Vào năm hội lệ (không phải hội chính), triều đình gửi 3 đấu gạo thơm (khoảng 20 kg) về để dân làng nấu xôi cúng Tổ. Năm chẵn, triều đình chịu trách nhiệm cử hành các nghi thức.

Người dân là chủ thể của các lễ hội, là người sáng tạo ra các giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc. Giữ gìn bản sắc và tính thiêng liêng của lễ hội, đáp ứng được nhu cầu thay đổi cho phù hợp với tính lịch sử cho phù hợp luôn cần có vai trò của Nhà nước nhưng chỉ cần đến mức nào là đủ luôn là vấn đề đáng quan tâm nhất với lễ hội nói chung và lễ hội đền Hùng nói riêng mà trong đó giá trị của “tín ngưỡng thờ cùng Vua Hùng” luôn là một bài toán cần có lời giải hợp lí.

Nhiều nhà văn hóa cho rằng, quan trọng nhất là làm sao để việc vinh danh di sản không trở thành hình thức. Trước khi được thế giới vinh danh, những giá trị văn hóa của người Việt phải có chỗ đứng trong tâm hồn và trái tim của mỗi người Việt Nam và mỗi cá nhân phải ý thức được trách nhiệm bảo tồn, gìn giữ tinh hoa của người Việt.

Ông Hoàng Dân Mạc, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ, cho biết, hồ sơ tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương của Việt Nam trình lên UNESCO nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, theo tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, sau khi được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại, sẽ giúp khích lệ nhận thức về lòng biết ơn tổ tiên.

Để phát huy giá trị tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, UBND tỉnh Phú Thọ đã có kế hoạch, đề cương cụ thể nhằm rà soát, đánh giá và đi đến thống nhất trong việc thờ cúng Hùng Vương trong cả nước. Theo đó, hơn 1.400 đền thờ Vua Hùng trên khắp Việt Nam sẽ có chung một nghi lễ. Bên cạnh đó, tỉnh Phú Thọ đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét điều chỉnh quy hoạch tổng thể quần thể di tích Đền Hùng.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}