Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Tin nóng
Thứ Ba, 19/01/2021 12:38

Mạn đàm:

 

Hồ Chí Minh - Người tạo dựng mối quan hệ Việt – Mỹ thời hiện đại

TS. Nguyễn Minh San | Chủ Nhật, 15/02/2015 15:23 GMT +7
Năm 1910, từ bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn), Nguyễn Tất Thành, dưới cái tên Văn Ba -  sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã xuống tầu ra đi tìm đường cứu nước. Trên hành trình vô cùng gian khổ ấy, Văn Ba đã có thời gian sống và làm thuê ở 2 thành phố của Mỹ là New York (trước ngày 15/12/1912) và Bruklin (thời gian trước Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất).

Thực tiễn cuộc sống của những người lao động nghèo khổ Mỹ mà Hồ Chí Minh chứng kiến trong thời gian này đã được Người đưa vào nhiều bài viết, trong đó tiêu biểu là tác phẩm Bản án chế độ thực dân. Song, cái nhìn của Hồ Chí Minh về vị thế, vai trò của nước Mỹ đối với thế giới, cũng như đối với cách mạng Việt Nam chỉ thực sự hình thành khi nước Mỹ tham gia lực lượng Đồng Minh trên mặt trận chống phát xít, trong đó có phát xít Nhật đã hất cảng Pháp, cai trị nước ta.  

Bác Hồ chỉ đạo phải giúp đỡ phi công Mỹ

Vào khoảng cuối năm 1944, một phi cơ chiến đấu của Mỹ bị hỏng máy khi lượn trên vùng trời Việt Nam, viên phi công lái chiếc máy bay này, buộc phải nhảy dù xuống một hòn núi gần tỉnh lỵ Cao Bằng. Máy bay vừa rơi, bọn Pháp hay tin, liền thả lính bao vây khắp rừng. Gặp xác chiếc máy bay, chúng tập trung tháo gỡ và sục sạo tìm cho được viên phi công. Chẳng bao lâu, quân Nhật lại mò đến, chúng chiếm xác máy bay và buộc tội Pháp đã để phi công trốn thoát. Chúng dọa sẽ nghiêm trị, nếu Pháp không tìm thấy viên phi công.

 


Bác Hồ, người đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ
 

Pháp và  Nhật đoán viên phi công chỉ có một đường trốn sang Trung Hoa, nơi có Bộ Tư lệnh không quân Mỹ đóng ở Côn Minh. Chúng hạ lệnh cho tất cả làng bản trong vùng, phải canh gác khắp các ngả đường cả ngày lẫn đêm. Chúng hứa sẽ thưởng nhiều tiền, nhiều muối gạo, cho ai bắt được viên phi công và trừng phạt nặng đối với kẻ nào giúp anh ta trốn thoát. Do đã được Việt Minh chỉ thị cho các Hội viên trong toàn quốc phải cố gắng giúp đỡ Đồng minh, nên khi viên phi công vừa rơi xuống, lập tức được tổ chức Việt Minh địa phương giúp đỡ cứu thoát. Cơ quan Báo Việt Lập do đồng chí Phạm Văn Đồng phụ trách, lúc đó đóng trên thành nhà Mạc, trong vùng núi Nước Hai, thuộc tỉnh Cao Bằng (“Việt Lập” là tên gọi tắt của tờ Báo “Việt Nam Độc Lập” của cơ quan Tỉnh Bộ Việt Minh Cao Bằng, do Bác Hồ sáng lập. Báo Việt Lập ra số đầu ngày 1/ 8/1941). Hôm ấy, cơ quan đang làm việc, bỗng anh em nghe tiếng máy bay nổ lạch bạch khác thường. Ai cũng nghĩ ngay đến tai nạn máy bay. Hôm sau, địa phương báo đúng là có phi cơ Đồng minh rơi, phi công đang chạy trốn. Đồng bào lùng rừng đã bắt gặp viên phi công đó. Anh ta run sợ, rút giấy bạc của Mỹ ra đưa. Bà con ta khoát tay, không lấy. Anh ta càng lo. Nhưng qua cử chỉ, động tác của đồng bào ta tỏ ra thiện chí, viên phi công kia hiểu được phần nào, vui mừng theo đồng bào về cơ quan báo  Việt Lập. Cơ quan lập tức cử người đi báo cáo với lãnh đạo. Đồng chí Phạm Văn Đồng chỉ thị: “Bằng mọi cách bảo vệ an toàn cho viên phi công và cần đưa anh ta lên Pắc Bó – Hà Quảng để báo cáo với Bác”. Viên phi công tên là Shaw họ William ở bang Techxax, Mỹ, cấp bậc Trung úy. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phạm Văn Đồng, anh Cao Hồng Lãnh dẫn đầu một tiểu đội, chia làm ba nhóm: Nhóm đi trước dò đường, nhóm thứ hai đưa viên phi công, nhóm sau cùng làm nhiệm vụ bảo vệ rút lui khi gặp tình huống xấu. Họ chỉ đi vào ban đêm, theo lối mòn, tránh xa đường lớn, nơi quân Pháp, Nhật có thể bất ngờ phục kích. Suốt thời gian hành quân, anh em trong tiểu đội phải ăn uống kham khổ, riêng viên Shaw mỗi bữa đều có đủ xôi thịt. Trên đường, Shaw rất vui. Anh ta đưa ảnh vợ ra khoe và làm một bài thơ tặng cho cả tiểu đội. Tiếc là đồng chí Cao Hồng Lãnh chưa đủ tiếng Anh để làm thơ đáp lại. Anh chỉ hứa sẽ đưa Shaw đến gặp một người rất giỏi tiếng Anh. Anh ta cứ luôn miệng hỏi đã sắp được gặp người nói tiếng Anh chưa? Phải gần một tháng sau, Shaw và các chiến sĩ Việt Minh mới vượt qua được quãng đường gần trăm cây số, đến Pắc Bó. Đến nơi, Cao Hồng Lãnh báo cáo với Bác. Bác bảo đưa viên phi công Mỹ vào gặp Bác ngay. Anh dẫn Shaw đến trước Bác.

- Đây là người mà tôi đã hứa cho anh được gặp – Cao Hồng Lãnh nói với Shaw.

-    Ôi ! – Shaw kêu lên.

Trước mặt anh ta là một cụ già mặc quần áo dân tộc Nùng, cổ quàng khăn, tay chống gậy, giống hệt một ông già địa phương. Khi bắt tay Shaw, ông cụ sử dụng Anh ngữ rất chuẩn, khiến Shaw kinh ngạc và kính phục. Bác kéo anh ta ngồi xuống bên cạnh và hỏi chuyện niềm nở. Từ hơn một tháng nay không ai trò chuyện, giờ gặp dịp, Shaw thấy sự sống mình rõ ràng được đảm bảo một cách ấm áp bên một cụ già có dáng vẻ người sơn cước, nhưng lại nói với anh ta về tình hình thế giới thông thạo, chính xác. Càng tiếp xúc với Bác, Shaw càng không ngờ ở Việt Nam lại có người am hiểu phong tục tập quán nước Mỹ đến như thế. Anh ta tâm sự với Cao Hồng Lãnh: “Ông Cụ đối xử thân mật với tôi như cha tôi vậy”. Qua Cao Hồng Lãnh, viên phi công Mỹ đề nghị Ông Cụ đi với mình đến Bộ Tư lệnh không quân Mỹ ở Côn Minh. Bác nhận lời. Một mặt để giúp đỡ Shaw, mặt khác, Bác cũng cần gặp bạn bè ở Vân Nam. Nhưng để có thể đi được đến Côn Minh, Bác đề nghị Shaw nghỉ ngơi độ mươi ngày cho lại sức. Vì sau gần tháng trời trèo đèo lội suối, một công việc không bình thường và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của một phi công. Bác rất hiểu điều đó.

Shaw được đưa sang ở trong cái lán nhỏ giữa thung lũng có tên là Lũng Ỷ - một địa điểm giáp ranh biên giới Trung Hoa, cách chỗ Bác ở không xa. Tại đây, theo chỉ thị của Bác, Shaw được ăn uống theo một chế độ đặc biệt, mặc dù lúc ấy, Bác và mọi người cũng chỉ sống dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân trong vùng. Ở cùng với Shaw có bốn người, chịu trách nhiệm bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho anh ta. Đinh Đại Toàn, một trong bốn người đó, kể lại: “Bác giao cho tôi, Dương Đại Hoa, Đại Tiến, Cao Hồng Lãnh bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho Shaw. Bác căn dặn: “ Đây là phi công Mỹ, thuộc phe Đồng minh chống phát xít Nhật. Các chú hãy cho Shaw ăn uống tử tế, để anh ta hiểu sự đối xử nhiệt tình của chúng ta”. Anh Cao Hồng Lãnh làm phiên dịch. Chúng tôi phải thay nhau vào các làng bản gần, xa mua gạo nếp, gà, rau… Ngày nào chúng tôi cũng phải mổ một con gà nhỡ, xôi gạo nếp trắng, dành riêng cho anh ta. Còn Bác và chúng tôi thì ăn rau tàu bay nấu với ngô non, mà cũng chỉ được ăn có một bữa. Thấy chúng tôi ăn uống kham khổ, Shaw cảm động lắm. Bữa nọ, anh ta rửa tay sạch sẽ rồi tự xé thịt gà, mời chúng tôi cùng ăn. Tôi nói: “Đoàn thể Việt minh đã chỉ thị chúng tôi có trách nhiệm phải chăm sóc sức khỏe cho ông. Ông cần phải được bồi dưỡng, còn chúng tôi đã quen rồi”. Khi nghe Cao Hồng Lãnh dịch lại, Shaw cảm động lắm. Anh làm dấu Thánh đến hai lần và miệng cứ lẩm bẩm nguyện cầu. Từ đó, mỗi khi thấy chúng tôi làm việc gì, anh ta vui vẻ sấn lại cùng làm. Mấy hôm sau, Shaw lại vui hơn, khi anh nhận được một chiếc khăn tay bằng vải phin nõn, có thêu dòng chữ đỏ “Greting” do Bác Hồ gởi tặng”.

Shaw ở Lũng Ỷ chừng nửa tháng, thì được tin chuẩn bị lên đường về Côn Minh. Trước khi tạm biệt, các bạn Việt minh tổ chức một bữa liên hoan tiễn đưa. Lúc chia tay thật cảm động. Bốn người đã sống với Shaw xếp hàng trước lán, Shaw đứng nhìn họ, im lặng một lúc lâu, rồi anh lần lượt bắt tay từng người một và nói: “Nếu không có các bạn che dấu, nuôi dưỡng, không biết là tôi đã như thế nào. Cái ơn ấy, tôi không bao giờ quên. Tôi về, sẽ báo cáo với chỉ huy của chúng tôi về tình cảm của các bạn và sẽ giúp các bạn vũ khí, lương thực, thuốc men”.

Không ai có thể đảm nhiệm việc đưa Shaw đi Côn Minh tốt hơn Bác. Không có ai đi cùng, chỉ có Bác và Shaw lên đường. Bác định đến thẳng Côn Minh, nhưng qua Tĩnh Tây gặp Trần Bảo Xương – Thiếu tướng Tư lệnh Biên khu của Tưởng Giới Thạch, ông ta không muốn để Bác trực tiếp đưa phi công Mỹ đi. Ông muốn tâng công với Đồng minh, nên ngăn chặn ngay sự tiếp xúc của Bác với Mỹ từ đây. Với ý đồ ăn chặn, Trần Bảo Xương yêu cầu Bác để Shaw lại, ông ta sẽ tự mình đưa Shaw đến Côn Minh, gặp Bộ Tư lệnh không quân Mỹ. Một mặt, ông ta muốn được Mỹ ân thưởng, mặt khác ông ta sợ rằng Hồ Chí Minh đến đó, với tên tuổi vang dội của Người, cộng với sự cứu giúp  viên phi công của Đồng minh, Mỹ sẽ ra sức giúp đỡ vũ khí và các phương tiện chiến đấu khác, làm cho ông ta sẽ mất độc quyền về khoản này. Mặc dầu Shaw không vui, nhưng Trần Bảo Xương đã tìm đủ cách để thực hiện ý định của mình cho bằng được. Thế là Bác phải chia tay với Shaw ở Tĩnh Tây. Vì đã phòng bị sẵn, Người đưa cho Shaw một phong thư, nhờ anh chuyển tận tay cho Tư lệnh lực lượng không quân Mỹ ở Côn Minh, cùng những người Mỹ có trách nhiệm ở Trùng Khánh. Bác còn kèm theo một sơ đồ tổ chức và hoạt động của Việt minh viết bằng tiếng Anh. Nội dung: Bác yêu cầu Đồng minh phối hợp chặt chẽ với Việt Minh chống phát xít Nhật. Shaw vui vẻ nhận lời và tỏ ý rất tiếc không được cùng đi với ông Cụ trên đoạn đường còn lại. Anh viết giấy, ký tên, địa chỉ của mình, để lại cho Bác và hẹn Bác sau này có dịp đến Bộ Tư lệnh Mỹ, đưa giấy này ra, họ sẽ đón tiếp Bác chu đáo. Shaw cầm chặt tay, ôm hôn Bác hồi lâu, trong lúc Trần Bảo Xương cứ nện gót giầy đi qua đi lại, phía sau hai người.

Bác Hồ với các tổ chức quân sự Mỹ ở Côn Minh – Trung Quốc

Một ngày đầu năm 1945, mặc dù sức khỏe không tốt, song Bác Hồ vẫn quyết định đi Côn Minh gặp Trung úy phi công Shaw, qua đó làm việc với các lực lượng Mỹ ở Côn Minh, như những gì mà Bác đã trao đổi với anh ta. Lần này không thể để bọn Tưởng ăn chặn như trước. Cùng đi với Bác có Đinh Đại Toàn, 32 tuổi, Phùng Thế Tài, 31 tuổi (sau này là Thượng tướng). Để giữ bí mật, mọi người phải mang tên giả. Bác gọi là Hoàng, Đinh Đại Toàn là Minh, Phùng Thế Tài là Nghĩa. Ba người đều mặc quần áo quân đội Tưởng, có giấy tùy thân do chỉ huy quân Tưởng vùng này cấp. Từ Y- Liêng đến Côn Minh, ba người đi tàu hỏa. Bác ngồi giữa, trùm khăn kín mít, vừa che gió, vừa che mắt bọn mật vụ. Hai anh ngồi hai bên để Bác dựa. Sáng lên tàu, tối đoàn mới tới nơi. Nghĩa đưa Bác vào nhà một cơ sở vững chắc của Đảng ta ở Côn Minh, lúc bấy giờ, bà Tống Minh Phương, quê gốc ở làng Kim Liên, Hà Nội đã làm ăn sinh sống ở đây nhiều năm. Nhà bà Tống Minh Phương là một tiệm ăn uống. Gia đình Tống Minh Phương đã được đoàn thể báo trước, chuẩn bị đón tiếp một người từ trong nước sang. “Chuẩn bị” – Hai tiếng ấy khiến vợ chồng bà suy nghĩ. Đã có biết bao người từ trong nước sang, mà có bao giờ được “chuẩn bị” đâu? Chắc người này quan trọng lắm nên mới phải báo trước như vậy? Vợ chồng Tống Minh Phương tự hỏi, rồi tự tìm câu trả lời. Tất cả chờ đợi. Một buổi chiều, khi mặt trời đã khuất sau những mái nhà cao của thành phố, từng đàn chim nhạn rủ nhau bay về tổ ấm. Bóng tối phủ lên làng mạc, như thường ngày, bà Phương lo đóng cửa hiệu. Bỗng trước mặt bà xuất hiện một người khách lạ, chừng trên năm mươi tuổi, ăn mặc thật không giống ai. Vô cùng sửng sốt, bà không thể đoán được giữa cái thành phố lớn - thủ phủ của tỉnh Vân Nam này, cách ăn mặc của người khách quá khác biệt kia là ai? Ngoài bộ quân phục lính Tưởng đã sờn cũ, người khách lạ còn khoác một chiếc chăn dạ bạc màu, thủng nhiều lỗ, chân đi hài sảo bện bằng rơm. Người khách kia có đôi mắt sáng khác biệt, nét thông thái tỏa rõ trên vầng trán rộng và vẻ nho nhã dưới hàm râu đen của Người. Bà đang luống cuống thì người khách lạ cởi tấm chăn choàng và bỏ mũ, hỏi Nghĩa bằng tiếng Việt:

- Cô Phương đây phải không?

- Dạ, vâng ạ - Nghĩa đáp nhanh.

Với một linh cảm nhạy bén, bà chủ quán cà phê đã nhận ra vị khách đặc biệt, ăn mặc kỳ dị đó là ai. Bà nóng bừng cả người, vì cảm xúc quá mạnh. Bà muốn reo to: “Bác!”, nhưng lưỡi bà cứ líu lại. Có gì vui hơn, vinh dự hơn là được gặp vị lãnh tụ anh minh của Đảng, của dân tộc trong khi cách mạng đang thời kỳ bí mật. Kể từ khi được giác ngộ, rồi cùng chồng hoạt động cho đến nay. Mỗi khi nghe các đồng chí và chồng nhắc đến Bác, nhắc đến những lời dạy của Người, bà vẫn thầm ao ước có một lần được gặp Bác. Hôm nay, ao ước của bà đã trở thành sự thực. Cố nén nỗi vui mừng không dám thốt lên lời, bà Phương hiểu rõ những gì phải làm để giữ bí mật, bảo vệ an toàn cho Bác, giữa nơi phố xá đông đúc, và bọn lính Tưởng, trong đó có nhiều tiên lam y (tức đặc vụ) trà trộn lui tới vùng này. Quán cà phê của bà đã nằm trong sổ đen của chúng.

Đường xa, lại phải trèo đèo, lội suối, Bác rất mệt. Anh em đề nghị Bác đi bệnh viện, nhưng Người sợ có sự gì bất trắc xảy ra. Bác chỉ đồng ý cho bà Phương mua vài ống thuốc Tây, rồi hàng ngày tiêm cho Bác. Cũng may sao, chỉ một tuần sau, Bác đã bình phục. Thấy Bác gầy, xanh xao, lại làm việc nhiều, bà Phương nấu thêm mấy món ăn có chất để Bác bồi dưỡng, nhưng Người kiên quyết không chịu: “Bác ở đây ăn uống đầy đủ rồi, không cần ăn tăng nữa. Tiền bồi dưỡng ấy, để dành mua thuốc ký ninh gửi về chiến khu”.

Thời gian Bác lưu lại Côn Minh khoảng ba tháng. Suốt ba tháng ấy, sinh hoạt hàng ngày của Bác rất nền nếp, đều đặn. Những người ở trong nhà thường bảo nhau, cứ xem Bác làm gì là biết mấy giờ, không cần xem đồng hồ. Ngoại ô Côn Minh, có những con mương, hai bờ trồng thông cao vút. Hàng ngày, Bác dậy từ năm giờ sáng, ra đấy tập thể dục. Bác chạy dọc hai bờ mương, dưới rặng thông. Lúc trở về, Bác vừa đi vừa hít thở khoan thai. Bấy giờ, buổi nào Bác cũng giúp đỡ người nhà dọn hàng. Cửa hàng ở đây, thường đông nhất vào tầm ăn sáng. Mấy anh em tất bật vẫn không kịp khách. Bác xuống đứng bán giúp bánh mỳ. Mọi người lo lắng, sợ có bọn mật vụ trà trộn với khách, phát hiện ra. Bác nói: “Các cô chú yên tâm, có xuống bán hàng như thế mới giữ được bí mật chứ”? Lúc ấy, mọi người mới hiểu ra – Bác có sống bình thản như người trong nhà, mới che mắt được bọn chúng. Quả đúng như thế. Khách mua hàng bánh mỳ, khách vào uống cà phê lâu ngày quen dần mặt, họ xì xào với nhau: “Không biết Tống Minh Phương tìm đâu được người cha già phúc hậu thế”? Tống Minh Phương tính tình hiền hậu, hay quan tâm chăm sóc đến những chuyện nhỏ trong sinh hoạt hàng ngày của Bác. Khi thấy áo Bác rách, nhất là đôi giầy vải Bác đi thòi cả hai ngón chân cái ra, chị vô cùng ái ngại. Các anh bảo chị: “Chỉ có cô là phụ nữ, cô thuyết phục, may ra Bác chịu bỏ các thứ đồ dùng cũ rách đó đi. Biết tính Bác hay tiết kiệm cá nhân để lo cho việc chung, nếu xin ý kiến trước sợ Bác không đồng ý. Cứ may quần áo mới, mua giầy mới đem về, xem như việc đã rồi. Nghe các anh bày, chị đi may ngay một bộ đại cán kiểu Tôn Trung Sơn mầu xanh xích lâm và đóng một đôi giầy vải mới. Mang hai thứ về nhà rồi, mà chị vẫn sợ. Phải đợi có cơ hội chị mới dám thưa với Bác. Một hôm, thấy Bác lấy trong tay nải ra một bộ quần áo cũ đã sờn cả cổ, rách cả tay và một đôi giầy há mõm ra dùng. Bác cho biết Bác có cuộc gặp đặc biệt với một người Mỹ trong lực lượng Đồng minh. Biết đây là cơ hội thuận lợi, chị Phương thưa, Bác đi ngoại giao cần phải ăn mặc chỉnh tề một chút, và vội lấy các thứ đã mua ra đưa Bác. Bác chỉ vào bộ quần áo của mình cười, nói: “Bộ này của Bác là sang nhất ở trong nước rồi đấy”. Chị Phương cãi lý với Bác: “Thế nhưng, bây giờ Bác đi ngoại giao với Đồng minh, cháu nghĩ là Bác phải ăn mặc đẹp hơn chứ ạ”. Chồng chị cùng các anh Minh, Nghĩa xúm lại nói mãi, cuối cùng Bác miễn cưỡng: “Nhưng Bác chỉ mặc đi ngoại giao thôi đấy nhé. Còn ở nhà Bác vẫn mặc đồ thường dùng thôi!”. Sau này, Bác thực hiện đúng như lời mình đã nói. Cho đến khi về nước Người bảo chị Phương: “Cô cất đôi giầy và bộ quần áo đi. Nếu Bác có sang nữa thì Bác sẽ dùng”. Rồi Bác lại mặc bộ quần áo chàm quê hương, đôi giầy cũ đã rách thòi cả hai ngón chân cái.

Thời gian ở Côn Minh, Bác đã chỉ đạo vợ chồng chị Phương đi tìm mua súng đạn và thuốc men, nhất là ký ninh để gửi về nước. Đích thân Bác chỉ đạo các cơ sở ta thành đường dây chuyển vận những thứ mua được về nước an toàn. Song, hoạt động quan trọng nhất của Bác ở Côn Minh là liên hệ trực tiếp với quân Đồng minh. Việc này, Bác tiến hành hết sức thận trọng. Chỉ có đồng chí Phạm Văn Đồng, vợ chồng Tống Minh Phương, Minh, Nghĩa cùng những người lo liệu công việc mới được biết. Qua Trung úy Shaw, cơ quan Thông tin chiến tranh Mỹ (OWI), cơ quan Tình báo Mỹ (OSS), khi biết tin Bác đến Côn Minh, họ đã tìm gặp Người ngay. Tiếp xúc với những nhân vật có cương vị của hai cơ quan này, Bác nói cho họ biết về những cuộc chuyển quân mới nhất của quân đội Nhật, Pháp ở các vùng núi phía Bắc Việt Nam. Người khẳng định những hoạt động quân sự dọc theo biên giới Việt – Trung là âm mưu mới của Nhật, nhằm phòng ngừa một cuộc đổ bộ của quân Đồng minh vào Việt Nam. Bác không quên nhắc lại cho Đồng minh biết rằng, Việt minh với các hội viên ở Trung Hoa và khắp các địa phương trong nước, sẽ sẵn sàng làm việc và cộng tác chặt chẽ với lực lượng không quân, tình báo của tướng Sênôn, với OSS, OWI để cung cấp tin tức về Nhật và các mục tiêu hoạt động của họ. Qua việc giải thoát phi công, cung cấp nơi trú ẩn và hướng dẫn họ đến nơi an toàn, Bác đã nói rõ thêm cho OSS và OWI về khả năng đa dạng của Việt minh. Mặc dù là một mặt trận chính trị, nhưng Việt minh đồng thời là một lực lượng vũ trang. Lực lượng này, đã tổ chức thành những đơn vị du kích và đã tích cực tiến hành một cuộc chiến đấu không cân sức chống Nhật. Bác đặc biệt nhấn mạnh, ở Đông Dương, ngoài những trận ném bom của không quân Mỹ, không còn lực lượng nào khác chống lại kẻ thù chung, nếu không có Việt minh. Ở đây, người Pháp chưa bao giờ đánh lại phát xít Nhật, mà chỉ có Việt Minh là lực lượng duy nhất đánh Nhật ở Đông Dương. Việt minh có những lực lượng trên đất liền, với nhiều khả năng chiến đấu, luôn sát cánh cùng Đồng minh. Từ đó, Bác chỉ yêu cầu Mỹ công nhận “Mặt trận Việt minh” là tổ chức duy nhất hợp tác chống Nhật và được phép đại diện cho nhân dân Việt Nam, trong cuộc chiến đấu chống phát xít bên cạnh các nước Đồng minh. Vì vậy, Việt minh cần Mỹ cung cấp phương tiện chiến đấu: Vũ khí, đạn dược, cố vấn, phương tiện thông tin liên lạc…Bác thường xuyên ra vào trụ sở hai cơ quan OSS và OWI. Ngoài việc trao đổi công việc, Bác còn tận tình giúp đỡ các nhân viên Mỹ học tiếng Trung, đọc và dịch các tài liệu Trung văn. Ngược lại, các cơ quan Mỹ giúp chuyển thư, đề nghị của Bác đến các nhà lãnh đạo chiến tranh của Đồng minh.
Cùng với cảm tình sẵn có, nhất là qua việc cứu giúp viên phi công Shaw, các bạn Đồng minh Mỹ ở OSS và OWI rất kính nể nhân cách và sự hiểu biết của Bác, nên rất muốn giúp đỡ Cụ Hồ và tổ chức Việt minh của Người, nhằm thúc đẩy mạnh hơn nữa sự phối hợp hoạt động tác chiến chống Nhật. Nhưng, những cấp chiến trường, những nhân vật có thẩm quyền quyết định vẫn làm ngơ trước thực tiễn ấy. Họ lại tìm kiếm và đặt hy vọng vào một lực lượng khác. Đó là tổ chức “Việt Nam cách mạng Đồng minh hội”.

Một lực lượng bịa đặt của bọn Tưởng. Một lực lượng hoàn toàn không có quần chúng trong nước và cũng không hề có những hoạt động chống Nhật. Sự kiện ngày 9/3/11945 xảy ra, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính ở Đông Dương, người Mỹ ở cấp chiến trường cũng chưa nhận ra vấn đề, nên họ vẫn không thay đổi sự đánh giá đối với tổ chức Việt Minh của Cụ Hồ. Trong lúc Nhật hất cẳng Pháp ở Đông Dương, thì tướng Oetđơmayơ, Tư lệnh Mỹ phụ trách Trung Hoa và Đông Dương đang họp tại Nhà Trắng. Tướng không quân Senôn tạm quyền xử lý mọi mặt. Ngay từ sáng 10/3/1945, tướng Senôn phải hộc tốc bay từ Côn Minh lên Trùng Khánh báo cáo và xin ý kiến “Minh quốc lục quân Viễn Đông Tổng Tư lệnh” Tưởng Giới Thạch. Cuộc gặp mặt có cả tham mưu trưởng của Tưởng Giới Thạch, tướng Hà Ứng Khâm. Khi đặt vấn đề nếu quân Pháp kéo sang Trung Hoa thì sao, Tưởng Giới Thạch cho ý kiến: Sẽ cho họ đóng quân trên những địa bàn cụ thể, có quy định về giới hạn. Còn nếu Pháp kéo dài cuộc chiến đấu trên đất Đông Dương, Tưởng Giới Thạch trả lời: Có thể chi viện. Mặc dù trả lời với Đồng minh như thế, nhưng khi Pháp ở Đông Dương sụp đổ nhanh chóng, Tưởng đã gấp rút cho phòng thủ biên giới. Trên thực tế, họ đã giúp nhiều quân Pháp và người Pháp dân sự chạy trốn, thông qua tổ chức cứu trợ quốc tế VNRRA. Tình hình quá mới, làm cho tướng Senôn lúng túng. Ông điện về Oasinhtơn thì được biết: Tổng thống Ruzơven đã cho ý kiến với Tổng Tư lệnh Macsan: “Ta làm bất cứ điều gì để thắng Nhật, nhưng không làm bất vứ việc gì để nhà cầm quyền Pháp có thể tưởng rằng Mỹ công nhận quyền lợi của họ ở Đông Dương”. Chỉ thị quá ư mập mờ, khiến tướng Senôn nghĩ rằng cũng có thể giúp ít nhiều, để cho Pháp đỡ mè nheo… Cũng trong ngày 10/3/1945, điện từ Bộ Chiến tranh Mỹ sang: Cấm chỉ việc giúp đỡ cho Pháp. Sau này, khi ngồi viết hồi ký chiến tranh, tướng Senôn mới nhận rõ tình thế lúc đó như sau: “… Chính phủ Mỹ chỉ quan tâm đến việc Pháp bị hất cẳng khỏi Đông Dương, như một tiền đề sau chiến tranh kết thúc – để càng thêm dễ dàng cách ly nước Pháp ra khỏi thuộc địa cũ. Còn Anh thì quyết tâm khôi phục hệ thống thuộc địa ở phương Đông và coi thảm bại của Pháp như một sự xúc phạm đến uy danh đế chế Anh. Cho nên, trong khi máy bay vận tải Mỹ không được dính dáng đến Đông Dương, thì không quân Anh đóng ở Cancútta (Ấn Độ), tìm mọi cách “xé rào”, chi viện cho tàn quân Pháp”. Vấn đề đặt ra cho Senôn lại hoàn toàn khác hẳn vấn đề đặt ra cho OSS do Henlioeo vốn là một nhà kinh doanh Mỹ làm Tư lệnh Sư đoàn tình báo OSS ở Trung Hoa, kiêm đứng đầu một lữ đoàn tình báo mật ở Côn Minh. Cùng ngày tướng Senôn nhận được lệnh đình chỉ mọi hoạt động không quân vận tải chi viện cho tàn quân Pháp. Ông ta nhận được điện từ Oasinhtơn chỉ thị gấp rút tổ chức những mạng lưới tình báo để nắm lại tình hình Đông Dương.

Từ ngày xảy ra đảo chính của Nhật, tất cả các đường dây tình báo mà Mỹ dựa vào người Pháp là chính, đều bị đứt tung, kể cả tổ chức tình báo có tính nghiệp vụ tư nhân độc lập GBT, mà không ai kiểm soát được. Vì thiếu thốn thông tin, sự chỉ đạo của mọi cấp trở nên hụt hẫng, rối loạn do không nắm được ý đồ và động thái của Nhật ở Đông Dương. Cả bộ chỉ huy, bộ tham mưu của tướng Senôn cũng không nắm được mục tiêu nào mà ném bom. Ngày 20/3/1945, Henlioen nhận được chỉ thị bật đèn xanh cho tình báo OSS “giúp bất cứ tổ chức kháng chiến nào bên trong Đông Dương tích cực hoạt động chống Nhật, miễn là các hoạt động có lợi cho các cuộc hành quân của Mỹ ở Trung Hoa”. Lúc này, những người Mỹ ở OSS, OWI đã biết Cụ Hồ chính là người mà họ đang tìm. Việt minh chính là lực lượng mà họ cần phải phối hợp hoạt động trước mắt để chống lại quân Nhật tại Việt Nam và Đông Dương.

Cú đảo chính của Nhật không hề gây sự bất ngờ về chiến lược đối với Cụ Hồ và Việt minh, bởi Bác đã tiên đoán trước là Nhật, Pháp rốt cuộc rồi sẽ cắn nhau. Bác đã đề ra những hoạt động kịp thời cho tổ chức của mình. Nhưng với Pháp và cả với Trung Hoa thì đây là một đòn bất ngờ lớn. Việc Nhật đảo chính Pháp đã làm cho luồng tin tức tình báo từ Đông Dương về Bộ Tư lệnh chiến trường Mỹ ở  Trung Hoa bị tắc. Các đường dây thông tin quân sự, chính trị của mạng lưới tình báo nấp dưới cái nhãn “Tổ chức hợp tác kỹ thuật đặc biệt Mỹ - Tưởng” (gọi tắt là SACO) và nhóm tình báo Mỹ GBT bị trục trặc. Tướng không quân Mỹ Senôn liên tiếp đòi cung cấp các mục tiêu tình báo để cho không quân oanh tạc. Quân Tưởng – Đồng minh chiến trường của Mỹ ở Đông Dương, gặp khó khăn trong việc triển khai lực lượng, trang bị đơn sơ và nghèo nàn, cũng như trong việc xây dựng các điểm phòng ngự của họ dọc theo biên giới Đông Dương. Họ không nắm được tin tức về mọi sự bố trí của quân Nhật. Lúc này, việc kiến tạo các đường dây giao liên và tăng cường các hoạt động bí mật, để đảm bảo kế hoạch ở Trung Hoa và ở Thái Bình Dương, là đòi hỏi cấp bách và thiết thực đối với quân Đồng minh. Trong tình hình khẩn cấp đó, lực lượng OSS bị Bộ Tư lệnh chiến trường Đồng minh ở Trung Hoa luôn luôn thúc ép phải báo cáo tin tức tình báo và nhấn mạnh việc OSS phải tiến hành quấy rối quân Nhật dọc hành lang Hà Nội – Nam Định – Quảng Đông. Đồng thời OSS nhận được chỉ thị cấp trên là phải làm mọi việc có thể được, để mở rộng hơn luồng tin tức và được phép sử dụng mọi nhóm chống Nhật ở Đông Dương. Đây rõ ràng là sự thay đổi lớn trong chính sách cấm đoán trước đây, của cấp chiến trường Đồng minh. Như vậy, OSS được quyền tự do tiếp xúc với Cụ Hồ, cùng các đồng sự của Cụ.

Phenn – Trung úy hải quân Mỹ lúc đó, được phái đến công tác ở “Ban Không trợ mặt đất Trung Hoa” của Mỹ (gọi tắt là AGAS), chính thức là người được Oasinh tơn cho phép tiếp xúc với Cụ Hồ, để tổ chức việc cộng tác với nhóm “Kháng chiến Việt Minh”. Phenn đã được nghe nói nhiều về một người Annam tên là Hồ Chí Minh, đã nhiệt tình cứu giúp Trung úy Shaw trở về an toàn. Phenn cũng được biết hiện giờ Cụ Hồ có mặt ở đâu đó trên đất Côn Minh. Cụ đã ra vào các cơ quan OSS và OWI, nhưng phải mất khá nhiều công, Phenn mới gặp được người đại diện của Cụ Hồ. Đó là vào chiều tối, một ngày trung tuần tháng 3 năm 1945, tại một địa điểm bí mật, do những người cộng sự của Cụ Hồ tổ chức, Trung úy Phenn đã tiếp kiến Cụ Hồ và người phụ tá của Cụ là ông Phạm Văn Đồng. Hai bên đã thỏa thuận là phía “Kháng chiến Việt minh” sẽ tổ chức mạng lưới tình báo bản xứ trong nội địa Đông Dương. Đổi lại, Mỹ và Đồng minh sẽ cử nhân viên điện đài của mình, cùng với các hiệu thính viên người Việt, do GBT đào tạo, đi theo Cụ Hồ về Việt Nam. Theo đề nghị của Bác, Phenn đã thu xếp để Cụ Hồ gặp tướng Senôn là quyền Tổng tư lệnh các lực lượng Mỹ ở Trung Hoa. Vào ngày 29/3/1945, vừa lúc quân đội Mỹ đổ bộ lên đảo Ôkynaoa của Nhật Bản, nhân danh quân đội Mỹ và Tư lệnh quân đoàn không quân – tướng Senôn nhiệt liệt cảm ơn Cụ Hồ về việc cứu thoát Trung úy phi công Shaw và đặc biệt giúp đỡ tướng Senôn trong công cuộc chống phát xít. Bác trò chuyện với tướng Senôn về đội “Hổ bay” (tức Lực lượng không quân thứ 14 của Senôn). Bác đánh giá cao tài năng và lòng dũng cảm, qua các chiến công của đơn vị Senôn. Ông ta rất thích thú vì Bác hiểu những việc ông ta làm được, kể cả thành tích không quân vận tải Mỹ, hàng ngày men theo sườn Đông Nam dãy núi Hymalaya tuyết phủ, bay trên độ cao 10.000 mét. Đường bay nổi tiếng đó, tiếng nói nhà nghề gọi là “Hump” (cái bứu). Bác cũng biết rõ. Sau đó, hai người bàn chuyện cứu phi công Mỹ nếu bị nạn, tướng Senôn hỏi:

 - Việt minh có vui lòng giúp việc tổ chức cứu những phi công Mỹ bị rơi ở Đông Dương không?

Bác trả lời:

- Nghĩa vụ của tất cả những người chống phát xít là làm tất cả những gì có thể làm được, để giúp đỡ Đồng minh.

Khi tiễn Bác ra về, tướng Senôn đã vui lòng tặng Bác tấm ảnh của mình, có ký tên và cả lời đề tặng thân thiết. Trung úy Phenn đã thu xếp với AGAS (Ban không trợ mặt đất Trung Hoa), dành một máy bay để chở Bác, cùng các đồng sự của Người tới vùng biên giới Tĩnh Tây, rồi từ đó Bác đi bộ về Pắc Bó.

Như vậy là một trong những mục đích lớn nhất của chuyến đi Côn Minh lần này, Bác đã đạt được. Người cùng các đồng chí ở Côn Minh quyết định tổ chức một bữa tiệc nhỏ, ăn mừng sự thành công đó. Bữa tiệc được tổ chức trên gác hai hiệu ăn của Tống Minh Phương. Hôm đó, có bốn người Mỹ đi ô tô đến dự. “Bồi bàn” Đinh Đại Toàn luôn bên cạnh Bác. Anh vừa dọn dẹp, vừa quan sát mọi động tĩnh trong ngoài.

Đúng 8 giờ sáng hôm sau, một chiếc ô tô của Bộ Tư lệnh không quân Mỹ đến đón Bác và hai đồng chí bảo vệ của ta. Đến sân bay Côn Minh, những người Mỹ ra tiễn mời Bác cùng hai bảo vệ chụp ảnh kỷ niệm với tổ lái, bên cạnh chiếc máy bay Đakôta. Bác nói: “Tôi già rồi, để hai thanh niên này chụp với các bạn là được rồi!”. Một cách từ chối khéo, để giữ bí mật của Bác. Thấy hai đồng chí bảo vệ của Bác ngần ngừ, Bác ra hiệu cứ chụp ảnh kỷ niệm với bạn đi. Không phải dàn dựng gì lâu, các chiến sĩ bảo vệ ta đứng hai bên, ba phi công Mỹ đứng ở giữa, nhân viên OSS đã chụp được một tấm ảnh lịch sử - bằng chứng về sự hợp tác đánh Nhật của Việt Minh và lực lượng Đồng minh.

Sau hai giờ bay, đến trưa, máy bay đỗ xuống sân bay Bát Sắc - căn cứ dã chiến của Trương Phát Khuê, cách Tĩnh Tây không xa lắm. Bác đến Bộ chỉ huy Mỹ gặp Trung úy Shaw, thì được biết anh ta đã rời khỏi nơi đây. Anh có gửi lại lời cảm ơn Cụ Hồ và những người bạn tốt Việt Nam. Bác, Nghĩa và Minh nghỉ lại Bát Sắc một đêm, đợi đón ba nhân viên điện đài của Đồng minh, được Bộ chỉ huy Mỹ phái đi theo ta về Việt Nam. Trong nhóm ba người đó, có một anh thấp lùn, tên là Đàm phụ trách vô tuyến; một anh họ Nguyễn phụ trách công tác tuyên truyền và một người Trung Quốc lai Mỹ có nhiệm vụ đến Tĩnh Tây đặt trạm liên lạc vô tuyến với nhóm Đàm, Nguyễn sắp tới. Bộ chỉ huy Mỹ cung cấp một số vũ khí cho ta như hai bên đã thỏa thuận. Bác trực tiếp cùng hai anh Minh, Nghĩa, giúp những lính Mỹ khiêng các hòm vũ khí ra xe tải. Sáng hôm sau, chiếc xe tải do một người Trung Quốc lái, đã đưa Bác và mọi người rời sân bay. Xe chạy trọn một ngày, đêm hôm đó tới Tĩnh Tây. Tại đây, Bác có cuộc gặp gỡ với Thiếu tá Archime Des L.A Patty - một nhân viên quan trọng trong tổ chức tình báo Mỹ OSS. Về sau, nhân viên này sẽ là người trực tiếp chỉ huy việc phối hợp với Việt minh chống Nhật. Cùng dự buổi gặp gỡ này với Bác, có Lê Tùng Sơn. Trong buổi gặp gỡ này, Bác một lần nữa nói với Patty những điều mà Người đã trao đổi trước đây với OSS và OWI, cũng như với Trung úy Phenn. Riêng về những vấn đề thời cuộc, Bác nói rõ hơn chính kiến của mình với Patty rằng, người Pháp chắc chắn sẽ chống lại việc giành độc lập, dân chủ của người Việt Nam, trong tương lai. Người Trung  Hoa của Tưởng Giới Thạch có những lý do của họ, để ủng hộ người Pháp. Còn người Anh, chắc sẽ không để cho cơ cấu thuộc địa ở Đông Nam Á bị sụp đổ và sẽ là một vấn đề nghiêm trọng, nếu họ giúp sức người Pháp. Về cuộc gặp gỡ này, Patty đã nói trong cuốn hồi ký “Tại sao Việt Nam?” như sau: “Hồ Chí Minh không hiện lên đối với tôi như một nhà cách mạng không thực tế, hay một người cấp tiến cuồng nhiệt theo đuổi những lời nói rập khuôn, hét to đường lối của Đảng, hay thiên về phá hoại mà không có những kế hoạch xây dựng lại. Đây là một con người thông minh, thấu hiểu những vấn đề đặt ra của đất nước mình. Một con người biết điều và tinh tế. Tôi cũng cảm thấy có thể tin tưởng Ông như một bạn đồng minh chống Nhật. Tôi biết mục tiêu cuối cùng của Ông là giành được sự ủng hộ của người Mỹ đối với sự nghiệp của đất nước Việt Nam tự do và thấy rằng ước muốn ấy của Ông, không phải trái với chính sách của Mỹ. Từ một quan điểm thực tiễn, Cụ Hồ và Việt minh hiện ra như một câu giải đáp cho vấn đề trước mắt của tôi là tiến hành các hoạt động ở Đông Dương”.

Để cho các sĩ quan tình báo Mỹ hiểu rõ Việt minh và những thiếu thốn, khó khăn của tổ chức này trong công tác phối hợp hành động với Đồng minh, Bác đã phân tích chi tiết về bộ máy tổ chức và cách thức hoạt động vủa Việt Minh, trong đó đặc biệt Người nhấn mạnh khó khăn về vũ khí và phương tiện thông tin liên lạc, đồng thời cung cấp vũ khí, các máy vô tuyến điện cho Việt minh. Chỉ có vậy thôi, Bác không yêu cầu điều gì khác. Điều này khiến cho Patty và các nhân viên OSS ngạc nhiên. Họ không thấy lãnh tụ Việt minh – Hồ Chí Minh yêu cầu tiền nong gì về các hoạt động cung cấp tin tức tình báo của Việt minh cho OSS cả. Bởi OSS và người Mỹ đã quen cách trả tiền cho các hoạt động tình báo, gián điệp. Chi tiết này, đã làm cho Bác vượt quá tầm cỡ một số Đồng minh mà Patty đã gặp để bàn bạc công việc chung chống phát xít. Patty đã đồng ý hoàn toàn những đề nghị của Cụ Hồ.

Sau buổi gặp gỡ đầy thắng lợi này, Bác lại tiếp tục cuộc hành trình từ Tĩnh Tây về Pắc Bó. Cùng với đoàn ta, còn có hai nhân viên điện đài của AGAS. Một trang mới trong quan hệ Việt – Mỹ đã mở ra./.

(Theo tư liệu trong sách “Gian lao ngàn dặm – Bác Hồ trên đất Trung Hoa những năm đầu thập kỷ bốn mươi” của Nguyễn Minh San – Nguyễn Thế Kỷ, Nxb Lao động và Ban tuyên huấn tỉnh ủy Quảng Ngãi, 1994).
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}

Tin nóng

  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}