Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Hoàn vương ca tích - Thêm một sự lạ của văn hóa Liễu Đôi

Thứ Năm, 02/07/2015 02:21 GMT +7
Bùi Văn Cường
 
Phát hiện và công bố một phần nhỏ của kho tàng văn hóa Liễu Đôi bằng 2 tập sách “Khảo sát văn hóa truyền thống Liễu Đôi” đã làm không ít người giật mình kinh ngạc, thậm chí đến không tin, vì rằng ở một vùng đất nghèo khó quanh quanh dãy núi đất Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam) mà dường như lịch sử đã bỏ quên ấy, lại có cả một giang sơn văn hóa lớn đến thế?

 
 
Chưa hết. Nay lại thêm một sự lạ nữa về Liễu Đôi. Tại đây, chúng tôi lại vừa phát hiện thêm một tác phẩm văn học đồ sộ- một tác phẩm dài gần chín nghìn câu thơ lục bát vừa cổ kính, vừa uyên bác, vừa có sức thu hút, thuyết phục đến lạ lùng. Tác phẩm có nhiều tên gọi khác nhau nhưng cái tên phổ biến nhất là “Hoàn vương ca tích” nghĩa là bài ca về sự tích ông vua Hoàn. Hoàn là Lê Hoàn, là vua  Lê Đại Hành ấy. Gọi “nôm na mách qué” vậy thôi, chẳng kỵ húy, chẳng sợ “phạm thượng” gì hết, vì nó là dân gian mà lại.
 
Tác phẩm lấy cuộc đời Lê Hoàn và cuộc tình lừng danh của ông với nàng Dương Thiệu Nga (người thường vẫn được gọi là Dương Vân Nga) làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt tác phẩm để miêu tả, phản ánh toàn cuộc tình hình đất nước ta đã ngàn năm bằng một bức tranh cụ thể, sinh động, dồn dập những sự kiện, những tình thế khốc liệt và những chiến công vang dội với những con người cụ thể sinh động như Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Lê Hoàn, Thiên Cang, Minh Quang, Nhữ Nương, phạm Lạng (sử gọi là Phạm Cự Lạng), Từ Mục, Dương Thiệu Nga, Đinh Tuệ, Lê Long Đĩnh và những con người có tên và không tên khác, đã có mặt thời ấy, làm nên biến động và kỳ tích thời ấy.
 
Tác phẩm cung cấp cho ta nhiều điều ta chưa từng biết, chưa từng nghe, kiến giải thẳng tỏ nhiều điều ngàn năm nay vẫn là những điều lờ mờ trong lịch sử. Để giải trình giá trị của tác phẩm gần chín ngàn câu thơ này phải có trăm trang sách. Nay thì trong một bài, có tính chất thông tin này, chúng tôi chỉ xin mời bạn đọc lướt qua vài chi tiết, vài nét chấm phá về đất nước, con người để thưởng thức mấy đoạn thơ của tác phẩm, gọi là “của lạ” trong rừng thơ Việt Nam.
 

Thơ thật là thơ, không phải loại thơ uốn éo làm duyên, lừa người vào quãng quanh co, khuất khúc cho ra vẻ uyên thâm, mà đây là một lối thơ thoải mái, đầy hình tượng, giản dị mà sâu sắc, rất dân gian mà cũng rất bác học.
 
Bà Dương Thiệu Nga (vợ Đinh Bộ Lĩnh) tình ý với Lê Hoàn mà tả thế này thì phải nói là hay, là lạ:
 
… Vừa qua giờ Ngọ thảnh thơi
Hoàn vương Thái hậu mày vơi mắt đầy…
Mây thì trải, gió thì bay
Trời xoay thì đất cũng xoay vòng tròn
Láng lai nước đổ chân cồn….
 
Sự lén lút, vụng trộm và cái đắm say chan chứa của tình yêu quả đã lên đến đỉnh điểm. Và rồi họ đưa nhau vào rừng. Giữa chốn trời cao đất rộng… suối khe quanh tám ngọn đồi, dựng nước lên trời trắng xóa, làm thành một bức màn kỳ diệu che cho họ khỏi những ánh mắt trần tục rình mò… Họ thành “người tiên”! Mọi thứ vàng son lộng lẫy của uy quyền vương đế bị họ tung hê tuốt tuột cho trời cho đất:
 
… Xiêm y đai mãng lọng cờ
Mây cuộn xuống đất, gió xô lên trời
Suối vàng có cái trăng trôi…
 
Cũng đang nói về nàng Thiệu Nga- người đẹp lừng danh kim cổ (mỗi người tưởng tượng một cách). Ở đây ta gặp nàng cụ thể, rất cụ thể trong cái đẹp dữ dội bằng xương bằng thịt của tuổi thanh xuân.
 
Môi son rừng rực, mặt hoa rờn rờn
Mắt kia sao mọc cờn cờn
Cổ kia đã trắng lại tròn hân hân…
 
Chữ nghĩa đã tinh tế, lại như tạc, như đẽo, gợi bên đông, gợi bên tây, lung linh đến lạ? Nhưng có điều, tác giả ít tả trực tiếp con người này mà thường chỉ tả nàng trong bối cảnh vẫn đủ để thấy sức quyến rũ ghê gớm của con người này. Đây là lúc nàng dạo quanh cung phủ. Cả một vùng thiên nhiên như được tắm trong một nguồn sinh lực đầy sức thanh xuân, ân ái.
 
… Đồi đông điểm ngọc, đồi tây mây vàng
Suối trong tựa ánh nguyệt tràn
Mây ngồi xổm, cá lượn đàn lên mây
Chim kề mỏ, bướm xỏ mày   
Bao nhiêu suối chảy thành cây đàn cầm…
 
Khi kinh thành Hoa Lư có biến, nàng phải bỏ kinh thành chạy ra chùa Đế Cước, náu mình trong cửa Phật, cửa Phật cũng như đắm đuối mơ màng.
 
Trời mở cửa, đất trang hoàng
Ngày xanh cánh bướm, đêm vàng tiếng chuông
Ngõ trời mở, cửa Phật buông
La đà cành liễu điểm sương mặt hồ…
 
Bên chùa có suối. Đêm, nàng lần bước bên bờ suối vắng. Suối vắng nhưng không lặng được vì tấm nhan sắc lung linh của nàng:
 
Rẽ cành trăng, ngọn lá lay
Rung rinh mặt nước đã đầy vàng phơi
Trắng phau tảng đá trăng soi
Trăng thì nổi, cát thì trôi bóng cành…
 
Và rồi trong chỗ kín đáo, “chín lần đêm thả bức mành xênh xang”, nàng tắm. Ta đã nghe Nguyễn Du tả Kiều tắm (Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên).Thì ở đây ta lại có cả một tòa thiên nhiên khác. Vâng chỉ có thiên nhiên thôi, không có Thúc Sinh, không có ai cả mà sao si mê cuồng dại đến lạ:
 
… Càng ngắm càng thấy bàng hoàng
Vén mây cho cái trăng vàng lộ nguyên
Bây giờ mặt nước duyềnh lên
Mân mê con sóng vỗ trên bóng cành
Bờ nây nả, gió loanh quanh
Nước thành lụa dệt, lá thành gấm thêu…
Một khe nước rỉ trong veo
Hai gò thảo mộc trăng trèo lên trên
Nghiêng nghiêng nguyệt xế non tiên
Giơ tay múc ngọc đổ lên thân ngà…
 
Thoáng một vài nét về khắc họa chân dung một con người vậy thôi, để xin mời bạn đọc lướt qua mấy giòng thơ về cảnh quan đất nước của một thời xa xôi ấy.
 
Đây là cảnh thung Lau, thung Lá vùng phụ cận kinh đô Hoa Lư, một vài nét thôi mà gợi cảm biết bao:
 
           … Sông đầy cho ánh nguyệt tràn
Non cao cho cái trăng vàng lửng lơ
Bãi lau râu tóc phơ phơ
Một con quốc gõ mấy bờ mõ rao
 
Và kinh đô Hoa Lư thuở trước là thế này đây:
 
… Thành xây thiên tạo lũy quy địa phù
Hang thăm thẳm, động âm ,
Hổ đi du đãng, vượn đu vách rừng
Quan hà muôn dặm như không
Mây vàng cửa Phật, hương xông Cổng Trời
Cung đình mây tỏ trăng soi
Vạc dầu lửa cháy hổ ngồi xem trăng
 
Hoa Lư bình yên này là Hoa Lư trong tay Lê Hoàn. Còn thuở Đinh Tiên Hoàng tại vị, với chính sách cường trị của ông, tình thế cũng không lấy gì làm dễ chịu lắm. Hãy nghe con hổ- một hình cụ của vua Đinh rền rĩ, đủ thấy sự ghê gớm của một thời:
 
Đêm ngày xé xác môi răng
Tay nhầy gan ruột mặt chằng máu me...
 
Vậy đó, giòng thơ đi thoải mái tự nhiên như chính giòng đời đang tuôn chảy. Xin được dẫn một đoạn thơ nói về sông Bạch Đằng- Hàm Long là nơi đã diễn ra trận thủy chiến khốc liệt của quân ta  và quân Tống thuở ấy. Tác giả đã đưa ta đến một vùng trời bể mênh mang, đẹp đến mê hồn, nhưng ở đây chúng tôi chỉ muốn dần ra cái cảm giác lạ lùng, rợn ngợp của tên tướng Lưu Đồng (sử ghi Lưu Trừng) chỉ huy đội thủy binh nhà Tống trước cảnh Bạch Đằng- Hàm Long để thấy bút pháp già dặn của tác giả:
 
... Bạch Đằng như thể con sông nhà trời
Thượng nguồn treo ngọn mây trôi
Trăm nguồn ngàn lạch mặt trời lóa ra
Đen thăm thẳm, trắng nhòa nhòa
Chập chờn hang động như là ma chơi
Bãi hà sa sú hình ngơi
Ngập quá đầu người, cú rúc như chuông
Mây thả cho nhũ đá buông,
Một con nước cường núi lặn như nghê
Đá ngầm như luc ngạc kề,
Con nước đi về chẳng biết về đâu ?...
 
Đây là biên cương vùng phía bắc tổ quốc, địa điểm của cuộc chiến hãi hùng giữa quân ta do Lê Hoàn chỉ huy và quân Tống do Hầu Nhân Bao cầm đầu. Trước trận chiến, đích thân Lê Hoàn cải trang đi khắp cả vùng xem xét địa hình, nắm vững ý đồ và đường đi nước bước của giặc rồi mới “định kế thần”, giăng bẫy lừa chúng vào chỗ hiểm rồi cho chúng một đòn chí mạng. Và cảnh núi non đất nước dưới mắt Lê Hoàn là thế này đây :
 
... Trở ra đến dặm Long Đề
Suối không có ngọn chảy về Bồng Lai
Nhấp nhô núi đứng núi ngồi...
...Bây giờ Pha Lũy mở ra
Tưởng như cái cổng thứ ba nhà trời
Ở đây rừng cõng núi chơi...
Cỏ cao ngập ánh trăng soi
Bốn bên đá trắng, cùng đòi lên mây!
Ma thiêng động đám cỏ dày
Hổ chưa quen lối, chim bay nhầm đường...
 
Biển trời sông núi linh thiêng, đẹp đẽ ấy đã giúp cho chủ nhân tài ba mưu lược của nó vùi chôn bao nhiêu vạn quân Tống xâm lăng.
 
Cái âm vang, cái hùng tráng của thế kỷ X được “Hoàn vương ca tích” chở đầy, tải đủ đến với người đọc bằng bút pháp, bằng giọng sử thì trầm hùng, vang dội, ào ạt từ đầu đến cuối tác phẩm. Xin dẫn đoạn tả võ tướng Đinh Hân từ biên ải băng ngựa về kinh thành  báo tin dữ: quân Tống đã tràn qua biên giới mở đầu cuộc xâm lăng, để bạn đọc rõ thêm cái phong cách miêu tả của tác phẩm:
 
... Cung triều, nha khí âm âm
Bán nghi bán tín, đình thần xôn xao...
Bỗng từ Châu Thúc, Nhuế Bào
Tin từ núi thẳm trời cao đưa về
Vó trần nghiêng ngửa sơn khê
Tựa như ánh chớp xé chia đoản trường
Áo bào đỏ ánh tà dương
Người như thần hiện rẽ luồn tựa mây
Dây cương đường ngựa cùng bay
Sông dài núi thẳm động dây lạ kỳ
Cưỡi đầu vân hỏa từ quy
Quỷ thẩn hay đấng tiên tri xuống trần?
Bên thì đá dựng mây vần
Bên thì sóng thần ngũ sắc đổ lên
Qua miền Bái Thượng tiền duyên
Xuống miền Nen Lá lên miền Đấu, Thưng
Chân ngựa sải gió, băng rừng
Vượt qua Hà Khẩu, đá tung Tam Đài
Qua Áng Ngữ, đến Thiện Bài
Tạt sang Đồn Thủy, giáp lai Thạch Bàn
Trông lên núi dựng mây ngàn
Ánh dương đổ tràn xuống chín lòng khe
Cổng trời gió cuốn mây đè
Tựa ánh tinh lòe cháy dưới trung thiên
 
Hoàn vương ca tích là tác phẩm dài gần chín ngàn câu thơ nhưng không hề có sự dễ dãi, lòng thòng mà gần như tất cả đều nghiêm ngặt, chặt chẽ. Nhiều đoạn, nhiều chỗ đạt đến uyên bác, thâm trầm, dồn đọng ý tứ và hình ảnh đến tuyệt vời.
 
Cũng xin lỗi bạn đọc, ở bài viết này chúng tôi đã không dám phân tích bình luận gì mấy mà chỉ trích với dẫn. Trích dẫn câu này, tiếc câu khác, trích dẫn đoạn này tiếc đoạn kia. Vẫn biết như thế là vô lối trong viết lách, song chỉ muốn để bạn đọc tiếp xúc càng nhiều với tác phẩm càng tốt. Vả chăng thơ hay tự nó sẽ nói lên cái hay của nó, cần chi bình luận phân tích nhiều?
_______________


(1) Trường ca lịch sử. Hội VN dân gian VN xuất bản 2011 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}