Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật ở nước ta

Lê Thanh Bình | Thứ Năm, 05/11/2015 08:41 GMT +7
Với mỗi quốc gia, trong mọi giai đoạn lịch sử, bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, ngôn ngữ, sản phẩm VHNT độc đáo luôn là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của sự phát triển của quốc gia, dân tộc.
 
1. Một số vấn đề lý luận văn hóa nghệ thuật và hợp tác quốc tế đương đại
 
Hiện nay, nhiều nước đang chú trọng tới ngoại giao văn hóa, sức mạnh mềm của văn hóa, nền công nghiệp sáng tạo và vai trò của nó trong sự phát triển văn hóa mỗi quốc gia. Họ chủ động vận dụng văn hóa để tiến hành ngoại giao hiệu quả. Họ chủ trương thay đổi nhận thức, tư duy, cũng như khái niệm, từ tài trợ cho văn hóa sang việc chủ động, tích cực đầu tư hiệu quả cho văn hóa và văn hóa nghệ thuật (VHNT). Tại các nước Mỹ, Anh, Nhật, Hàn, Nga, Bắc Âu, Mỹ Latinh…, việc chi tiền cho các hoạt động văn hóa là sự đầu tư thông minh, đem lại hiệu quả và sự phát triển bền vững, lâu dài, cân đối giữa đời sống vật chất, tinh thần, hạn chế cao nhất sự tha hóa của mặt trái kinh tế thị trường. Trong bối cảnh toàn cầu hóa phức tạp, kinh tế thế giới nhiều nơi chao đảo, xung đột văn hóa ở một số vùng còn nặng nề…, họ thường đặt ra những câu hỏi rất căn bản để khi xây dựng chính sách phải có cách giải quyết thỏa đáng. Đó là chính phủ cần những chính sách hỗ trợ nào đối với hoạt động văn hóa trong và ngoài nước. Quy hoạch, tối ưu khi xây dựng một cơ sở hạ tầng văn hóa rộng lớn để người dân có thể được hưởng, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống ở các đô thị lớn. Đối với khu vực nông thôn thì chính sách lâu dài để chuyển dịch kinh tế, làm cho nông dân rời ruộng nhưng không rời làng, có thể làm giàu, từng bước được thụ hưởng và dần nâng cao dân trí, tầm văn hóa để tham gia vào đời sống VHNT thế nào? Nhà nước, các chủ thể truyền thông áp dụng cơ chế truyền thông quốc tế nào phù hợp để vừa quảng bá hình ảnh VHNT quốc gia, dân tộc vừa chống được các loại rác VHNT từ quốc gia khác chuyển đến? Làm thế nào để các nhà tài trợ tư nhân có thể tham gia đầu tư một cách dài hạn vào lĩnh vực văn hóa và khả năng nào để các lĩnh vực công tư có thể kết hợp để đầu tư vào văn hóa? Làm thế nào để khuyến khích tư duy sáng tạo của văn nghệ sĩ như một sứ giả thúc đẩy hợp tác quốc tế (HTQT) thông qua sản phẩm văn nghệ? Nhiều nhà hoạch định chính sách quốc tế khẳng định vai trò trọng tài, môi giới, PR quốc gia, Mạnh thường quân quan trọng, hiệu quả của Nhà nước cũng như các công ty, cá nhân và đặc biệt cần có sự phối hợp và liên kết giữa Nhà nước với khối tư nhân bằng những định chế hợp lý, quan hệ đối tác công tư, trong nước với nước ngoài,... Dù sao Nhà nước vẫn phải đóng vai trò chủ đạo, định hướng, chủ đầu tư chính, trọng tài, nhạc trưởng, người tác thành, kết nối cho các quan hệ HTQT về VHNT rộng hơn, đúng địa chỉ và có bảo lãnh chắc chắn cho những người sáng tác văn nghệ, nhất là người tham gia vào hoạt động HTQT.
 
2. Thuận lợi, khó khăn đối với HTQT trong lĩnh vực VHNT nước ta
 
Với mỗi quốc gia, trong mọi giai đoạn lịch sử, bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc, ngôn ngữ, sản phẩm VHNT độc đáo luôn là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên trong hoạt động HTQT, các văn nghệ sĩ, nhà sáng tạo cần chú ý đưa cái độc đáo, nhân bản nhất của sản phẩm VHNT mình ra trưng bày cùng với những cái đặc trưng, bản sắc văn hóa của dân tộc, quốc gia khác. Điều chính yếu là giữ cái bản vì là quốc hồn, quốc túy, cái riêng; còn cái sắc bề ngoài thì có thể tiếp biến, nâng cao, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp. Chính sách triển khai đồng bộ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, ngoại giao nhân dân đã thúc đẩy công tác HTQT trong lĩnh vực VHNT phát huy sức mạnh. Tuy ngân sách có hạn, nhưng nhà nước vẫn cấp đủ nguồn kinh phí cho các đại sứ quán, cơ quan đại diện tổ chức các chương trình hoạt động VHNT cho người Việt Nam ở nước ngoài cũng như cho phép người nước ngoài gốc Việt về nước biểu diễn, hoạt động sáng tạo. Nhiều chính sách đã hỗ trợ các tổ chức, cá nhân văn nghệ sĩ trong nước phát huy sáng kiến, sở trường, lợi thế cạnh tranh..., tham gia vào lĩnh vực HTQT ngày càng sâu rộng.
 
Chính sách HTQT về VHNT của ta ngày càng hoàn thiện, đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách, quản lý đã được tăng cường cả số lượng, chất lượng. Các thành tố chính của thiết chế (đội ngũ sáng tạo, sản phẩm, công chúng), các địa bàn trọng yếu, việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động quảng bá VHNT Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đều được chú trọng. Cơ sở hoạt động VHNT trong nước từng bước được kiện toàn. Các trung tâm văn hóa Việt Nam, hội đoàn người Việt tại nước ngoài, các tổ chức tập hợp đồng bào khác… đã thực sự trở thành cầu nối, điểm đến tin cậy cho cộng đồng người Việt Nam ở xa tổ quốc, là kênh truyền phát quan trọng tới công chúng sở tại.
 
Tuy nhiên, các ngành chức năng và tổ chức VHNT chuyên nghiệp, văn nghệ sĩ vẫn chưa tích cực, chủ động, sáng tạo trong HTQT. “Các nguồn lực để mở rộng hợp tác, giao lưu còn hạn chế. Việc giới thiệu tinh hoa văn hóa Việt Nam, những thành tựu trong công cuộc đổi mới của đất nước trên lĩnh vực kinh tế xã hội ra quốc tế chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Việc quản lý giới thiệu văn hóa nước ngoài tại Việt Nam thiếu sự nhất quán giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành, giữa trung ương và địa phương…”(1). Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn những mặt mà ngành chức năng phải sớm khắc phục để thúc đẩy vai trò tham gia hoạt động HTQT trong VHNT của họ. Công tác thông tin, truyền thông vẫn còn nhiều hạn chế, các sản phẩm thông tin, truyền thông, văn hóa lâu đến được với các cơ quan đại diện hoặc một số nhóm người Việt Nam ở nước ngoài. Phần đông kiều bào vẫn chưa tiếp cận được nhiều nguồn thông tin truyền thông, sản phẩm văn nghệ chính thống. Hình thức vận động kiều bào còn chưa thực sự đổi mới, đa dạng và linh hoạt để có thể quy tụ, động viên họ tham gia các hoạt động hữu ích, khả dụng, liên quan hoạt động HTQT trong VHNT cũng như quảng bá đường lối HTQT của chúng ta với bạn bè quốc tế.
 
Kinh phí tổ chức hoạt động HTQT trong VHNT hạn hẹp hoặc không tìm được nguồn. Việc quản lý từ trong nước do nhiều cơ quan thực hiện, cơ quan đại diện mất nhiều thời gian để đạt được sự thống nhất, trong khi việc tổ chức các hoạt động HTQT trong VHNT, nhất là quy mô lớn, cần có kế hoạch sớm. Mặc khác, cần triển khai một cách có hệ thống, liên tục và chọn lựa các loại hình hoạt động VHNT phù hợp, hình thức truyền thông (báo, đài, triển lãm, biễu diễn văn nghệ, ẩm thực, sách, phim ảnh, multi media…) tương thích với các đối tượng khác nhau. Ngành chức năng hiện vẫn chưa xây dựng hoàn chỉnh chiến lược HTQT trong VHNT bài bản, lâu dài, chưa có kết hoạch khả thi tổng thể, chưa có kết nối và phối hợp thật ăn ý giữa các cấp, ngành trong nước và với các đơn vị tương nhiệm của các nước trong khu vực.
 
3. Khuyến nghị các giải pháp
 
Trước hết, cần giao cho ngành chức năng chủ động rà soát và hoàn thiện hệ thống văn bản luật, dưới luật tương ứng và phù hợp các quy định của WTO, bổ sung các văn bản điều chỉnh những vấn đề nảy sinh khi hiệu lực các thỏa thuận giữa ta và WTO cho phép các nước khác cạnh tranh về VHNT ngay tại Việt Nam. Hiện nước ta vẫn chưa có Luật Văn hóa để điều chỉnh những vấn đề chung về văn hóa mà các luật chuyên ngành không thay thế được. Cần phải có chiến lược HTQT trong VHNT một cách tổng thể, toàn diện, hệ thống, từ thấp lên cao, liên thông giữa trung ương với vùng, địa phương, giữa các ngành VHNT mũi nhọn mà Việt Nam có tiềm năng, lợi thế so sánh.
 
Muốn chính sách HTQT trong VHNT phù hợp thực tiễn Việt Nam và tương thích với thông lệ, chuẩn mực quốc tế, cần tiếp tục mở rộng HTQT về đào tạo cán bộ quản lý VHNT, văn nghệ sĩ, học giả chuyên về VHNT, nhằm bắt kịp với tầm nhìn, quy trình lập chính sách, trình độ VHNT của các nước xuất sắc của khu vực, thế giới. Nhưng điểm cần thúc đẩy là phải mở rộng phạm vi, quy mô, hình thức, nội dung HTQT: đa dạng hóa, đa phương hóa đối tác, lĩnh vực, các giới chức quản lý, văn nghệ sĩ của các nước; phải nhấn mạnh yêu cầu chất lượng cao để chọn lựa được những ứng viên có tài năng, tiềm năng, tâm huyết với quyền lợi dân tộc, để nhà nước, những quỹ lớn trong, ngoài nước ủng hộ, tài trợ cho họ học tập, nghiên cứu, thử nghiệm, phục vụ nhu cầu trong nước, quốc tế.
 
Tập trung bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của dân tộc, đưa các giá trị đó một cách hấp dẫn, nghệ thuật vào đời sống, ứng xử, văn học, báo chí, phim ảnh…; vào chương trình đào tạo, HTQT với nước ngoài. Nên chú trọng các giá trị văn hóa có thể nâng cao 3 nhân tố đặc biệt là: tầm vóc văn hóa dân tộc, tính cách văn hóa dân tộc và các truyền thống văn hóa tốt, tiến bộ, hợp quy luật...
 
Để hoạt động HTQT trong VHNT đạt chất lượng, hiệu quả, ngoài chiến lược vĩ mô, tổng thể, dài hạn về ngoại giao văn hóa, VHNT, cần hoàn thiện, cập nhật các chính sách nhánh củng cố phát triển nội lực văn hóa trong nước như: chính sách phát triển nguồn nhân lực dài hạn, ngắn hạn; đào tạo và sử dụng, thúc đẩy tài năng VHNT; cử ứng viên đào tạo ở nước ngoài trong VHNT, hoạch định chính sách HTQT trong VHNT; đầu tư cho các thiết chế văn hóa, các công trình văn hóa (nhà hát, rạp chiếu bóng, nhà triển lãm, thiết chế văn hóa tại địa phương, các trại sáng tác, nhà thi đấu, công trình giả trí cho thanh thiếu niên); chính sách quản lý lễ hội, quy định giấy phép, tuổi nghề đối với hoạt động biểu diễn; chính sách cấp đúng, đủ, kịp thời, hiệu quả đối với hoạt động VHNT, HTQT trong VHNT.
 
Tăng cường hợp tác quốc tế nhiều mặt, trong đó có cả HTQT trong VHNT với các nước, vùng lãnh thổ có đông công dân Việt Nam, đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết các hiệp định và thỏa thuận song phương, đa phương và tác động ở cấp cao trong quan hệ với các nước có đông người Việt nhằm hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài về pháp lý, về văn hóa tinh thần... để họ ổn định, tham gia HTQT trong VHNT vì quê hương, đất nước và cộng đồng sở tại. Tích cực phát huy vai trò của các hội hữu nghị, hội nghề nghiệp, hội VHNT, hội liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài…, phát huy vai trò cầu nối giữa đồng bào trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là văn nghệ sĩ là người Việt Nam ở nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi để họ góp phần tham gia hoạt động HTQT trong VHNT và các hoạt động liên quan nhằm mục tiêu xây dựng đất nước thịnh vượng, có nền văn hóa độc đáo, hay, đẹp. Ngành chức năng cần nắm được danh sách các lực lượng văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài tâm huyết, tiến bộ, nhiều công lao để có các hình thức đãi ngộ, khen thưởng, động viên xứng đáng; có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các hình thức tổ chức sinh hoạt VHNT, tập hợp lớp văn nghệ sĩ trẻ trong người Việt Nam ở nước ngoài.
 
Duy trì và phát triển các lớp dạy tiếng Việt, nghiên cứu, đánh giá nhu cầu dạy, học tiếng Việt, phối hợp với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước nghiên cứu biên soạn sách giáo trình, chuyên khảo phù hợp với việc tổ chức dạy tiếng Việt cho con em kiều bào. Làm được vậy sẽ luôn có các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài biết tiếng mẹ đẻ, có điều kiện phát huy HTQT trong VHNT và gắn bó với quê hương, đất nước. Xây dựng một chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về VHNT của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; có đề án tập hợp tuyển tập các sáng tác của người Việt Nam ở nước ngoài; định hướng phát triển dòng văn học người Việt viết bằng tiếng bản địa và bằng tiếng Việt ở các nước. Kiến nghị chính sách cụ thể hỗ trợ giáo viên ở trong nước đi dạy tiếng Việt, VHNT Việt cho cộng đồng, đặc biệt là những địa bàn khó khăn như Lào, Campuchia, Thái Lan... 
 
Chú trọng chất lượng, hiệu quả việc tổ chức các đoàn quảng bá hình ảnh đất nước, sự sáng tạo độc đáo của VHNT Việt Nam; sáng tạo, đổi mới việc tổ chức các ngày lễ, tuần văn hóa, ngày văn hóa Việt Nam tại nước ngoài để phục vụ các mục tiêu thiết thực như HTQT trong VHNT, củng cố, phát triển giá trị văn hóa Việt ở nước ngoài, thu hút đầu tư, hợp tác VHNT và lĩnh vực khác... Ngành chức năng chủ động hơn trong tổ chức hoặc phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động VHNT, cá nhân văn nghệ sĩ tổ chức các show diễn, triển lãm tác phẩm, giới thiệu bài hát tiếng Anh, thơ bằng tiếng bản ngữ…; định kỳ thời gian, lựa chọn chương trình, đưa các nghệ sĩ trong nước sang biểu diễn phục vụ cộng đồng và bạn bè quốc tế.
 
Tăng cường chất lượng các sản phẩm truyền thông quốc tế như ấn phẩm sách báo, báo điện tử, hỗ trợ các báo này có chuyên trang bằng tiếng nước ngoài; xây dựng chương trình truyền hình đối ngoại hấp dẫn; sản xuất băng đĩa, phim ảnh, truyện, thơ ca; xây dựng thư viện trên mạng bằng tiếng Việt, tiếng Anh... để phục vụ độc giả người Việt và bạn bè quốc tế. Thúc đẩy sớm đưa VTV4 vào hệ thống truyền hình cáp ở Mỹ, Úc và các nước khác, tạo điều kiện cho các kênh truyền hình khác (VTC, HTV...) vươn ra ngoài nhằm đa dạng hóa nguồn thông tin nhất là các chương trình VHNT, có hướng HTQT về VHNT. Phát triển các hình thức hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật, hội thảo, hội chợ, triển lãm, ẩm thực, hát dân ca...; đầu tư phát huy hiệu quả hoạt động VHNT, trại sáng tác, thi các giải VHNT- thể thao tại các Trung tâm văn hóa Việt Nam ở các địa bàn có đông người Việt.
 
Ban hành các văn bản pháp luật chuyên về mở rộng giao lưu văn hóa với nước ngoài, xuất nhập khẩu văn hóa phẩm, đưa hiện vật bảo tàng, tác phẩm nghệ thuật, trình diễn văn hóa dân gian, tác phẩm đặc sắc của nghệ nhân... ra trưng bày giới thiệu ở nước ngoài, xây dựng hệ thống chính sách tạo điều kiện cho cả người nước ngoài sáng tác về chủ đề Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài về đầu tư xây dựng những cơ sở văn hóa, nghệ thuật hoặc sáng tác VHNT tại nước ta. Trao đổi, giới thiệu và phổ biến sâu rộng những tác phẩm văn học, nghệ thuật mang đậm bản sắc, tâm hồn, cốt cách của người Việt Nam, của các tác giả là người Việt Nam ở nước ngoài và các tác giả ngoại quốc am hiểu đúng, sâu, thân thiện, có tác phẩm hay về Việt Nam đối với bạn đọc trong nước. Trên cơ sở các hội văn học nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài của từng quốc gia, tổ chức thành lập Hội văn học nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài, đề nghị ủy ban Trung ương Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam coi Hội văn học nghệ thuật của người Việt Nam ở nước ngoài của quốc gia đủ điều kiện là một thành viên chính thức của mình, để hỗ trợ các hoạt động sáng tác, HTQT trong VHNT có hiệu quả. 
_______________
 
1. Nguyễn Văn Tình, Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2009, tr.130-131.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 342

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}