Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Khảo sát hiện tượng phá cách trong thơ Đường luật Hồ Chí Minh

Thứ Năm, 05/11/2015 09:24 GMT +7
 Lê Đình Sơn

Bác Hồ trong quá trình sáng tác đã để lại một số bài thơ tiêu biểu thể hiện sự phá cách thơ tứ tuyệt ở nhiều hình thức khác nhau. Có bài thơ Bác phá luật bằng trắc, phá luật thơ như “Vãn cảnh”, “Báo tiệp”. Có những bài thơ tứ tuyệt, Bác làm ta ngạc nhiên trước hiện tượng đổi mới thơ tứ tuyệt luật Đường như bài thơ tiếng việt “Vô đề” và bài thơ ngụ ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán ở đầu tập thơ “Ngục trung nhật ký”.
 
1. Lịch sử thơ Đường Trung Quốc, có một số bài thơ của các nhà thơ nổi tiếng cố tình phạm thi luật. Người ta cho những lỗi đó là “dụng ý nghệ thuật” của tác giả. Phải chăng những dụng ý ấy làm cho bài thơ của họ càng có ấn tượng lâu bền trong lòng bạn đọc qua bao thời đại. Xin nêu hai trường hợp điển hình. Nhà thơ Lý Bạch trong câu đầu bài thơ “Hoàng Hạc Lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng” vẫn giữ từ “nhân”(cố nhân) mà không thay từ khác có thanh trắc để hợp luật. 
 
“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu”
 
Bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu cũng phạm luật “Nhị tứ lục phân minh” ngay từ câu đầu tiên.
 
“Tích nhân dĩ thừa Hoàng Hạc khứ”
 
Lẽ ra từ thứ tư “thừa” và chữ thứ sáu “Hạc” phải mang thanh trắc và thanh bằng. Tác giả Thôi Hiệu nhận ra điều này nhưng ông vẫn không sửa. Ở Việt Nam, Hồ Xuân Hương trong bài thơ “Đèo ba dội” cũng thể hiện một dụng ý nghệ thuật khi sai luật bằng trắc ở từ thứ hai của câu thơ.
 
“Một đèo, một đèo, lại một đèo”
 
Từ “đèo” chữ thứ hai của câu thơ trên lẽ ra phải mang thanh trắc, nhưng ở đây tác giả vẫn dùng thanh bằng để nhấn mạnh ý nghĩa ba lần điệp từ “đèo”. Cùng với điệp ba lần từ “một”, câu thơ “Một đèo, một đèo, lại một đèo”, tạo cho ta một cảm giác sâu sắc về núi non trùng điệp hùng vỹ của một vùng đất Tam Điệp Ninh Bình xưa và nay. 
 
Bác Hồ trong quá trình sáng tác đã để lại một số bài thơ tiêu biểu thể hiện sự phá cách thơ tứ tuyệt ở nhiều hình thức khác nhau. Có bài thơ Bác phá luật bằng trắc, phá luật thơ như “Vãn cảnh”, “Báo tiệp”. Có những bài thơ tứ tuyệt, Bác làm ta ngạc nhiên trước hiện tượng đổi mới thơ tứ tuyệt luật Đường như bài thơ tiếng việt “Vô đề” và bài thơ ngụ ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán ở đầu tập thơ “Ngục trung nhật ký”.
 
Sau đây chúng tôi xin bàn đến sự phá cách trong bài thơ “Vãn cảnh”
 
“Mai khôi hoa khai hoa hữu tạ
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình
Hoa hương thấu nhập lung môn lý
Hướng tại lung nhân tố bất bình”
 
Thơ dịch:
 
“Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng,
Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình
Hương hoa bay thấu vào trong ngục,
Kể với tù nhân nỗi bất bình”
 
Tìm hiểu lỗi phá cách bằng trắc ở ba bài thơ trên của Lý Bạch, Thôi Hiệu, Hồ Xuân Hương ta thấy rằng những từ phạm luật thơ đều là danh từ như “cố nhân”, “Hoàng Hạc”, “đèo” ở bài “Vãn cảnh”, từ “Mai khôi” cũng thuộc danh từ.
 
Mai khôi hoa khai hoa hữu tạ.
 
Bài thơ “Vãn cảnh” được Bác làm theo luật trắc của thơ tứ tuyệt. Như vậy chữ thứ hai của câu đầu phải mang thanh trắc. Nhưng chữ thứ hai ở đây lại mang thanh bằng (Khôi). Thông thường chữ thứ hai và chữ thứ sáu trong câu thơ phải cùng thanh. Chữ thứ sáu của câu thơ: “Mai khôi hoa khai hoa hữu tạ” là thanh trắc (Hữu). “Mai khôi” là một danh từ vì vậy Bác chấp nhận như một dụng ý nghệ thuật mà không thay từ khác. Phải chăng những “lỗi” bằng trắc thuộc về danh từ như đã nói ở trên là sự trùng hợp ngẫu nhiên của các nhà thơ lớn!. “Vãn cảnh” được Bác Hồ làm theo thể tứ tuyệt trốn vận cùng với điểm nhấn phá cách bằng trắc, câu thơ thứ nhất gây cho người đọc một ấn tượng, một suy cảm đáng trân trọng về loài hoa hồng mà Bác thể hiện quan điểm nhân văn tốt đẹp trong suốt bài thơ. Bài thơ còn là một quan điểm thẩm mỹ, đúng đắn, lành mạnh khi hình tượng hoa hồng được Bác sử dụng phép nhân hóa.
 
Bắt nguồn từ một hiện tượng thiên nhiên - cảnh nở tàn của hoa hồng trong khoảng lắng suy tư; buổi chiều, nhà thơ đã gửi vào đó những chiêm nghiệm về cuộc đời, những nỗi niềm xúc cảm của mình. Trong vô vàn những hiện thực hiển diện quanh mình, tác giả chọn hoa hồng - loài hoa tượng trung cho vẻ đẹp đáng trân trọng nâng niu. Tạo hóa đã sinh ra hoa hồng, phú cho nó vẻ đẹp hương sắc thế mà không cho nó hưởng ngoại lệ, cái đẹp ấy giờ đây đang tàn phai.
 
Mai khôi hoa khai hoa hữu tạ.
 
Câu thơ với năm thanh bằng và hai thanh trắc như gợi dậy một cách cụ thể sự lan tỏa của hương hoa và thực tại những cánh hoa đẹp đang dần rụng khơi dậy trong lòng người đọc một cảm giác nao lòng. Nao lòng trước quy luật của tạo hóa. Quy luật cào bằng mọi số phận, quy luật áp đặt luật lệ không trừ ai.
 
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình.
 
Cái đẹp ở đây cũng phải chịu chung số phận khắc nghiệt. Đến đây chúng ta có thể nói rằng tạo hóa đã vô tình khi tạo ra cái đẹp để rồi đánh đồng số phận nó với tất cả.
 
Khái quát được thực tế chứng tỏ Bác không hề vô cảm mà trong Người đậm chất nghệ sỹ và trái tim nhân ái vô bờ. Trái tim ấy giúp Người cảm nhận được sức sống của cái đẹp: Mặc dù hoa nở rồi tàn, hoa không tránh được quy luật của tạo hóa, song hoa tàn nhưng linh hồn hoa không tắt, bằng chứng là hương hoa bay đi tìm đến với hồn đồng điệu.
 
“Hương hoa thấu nhập lung môn lý,
Hướng tại lung nhân tố bất bình”
 
Đến hai câu thơ này hình tượng thơ có sự vận động, hoa hồng từ chỗ là một ý niệm trìu tượng, một cái bóng thì đây trở thành một linh hồn cụ thể với tâm sự nỗi niềm muốn chia sẻ với tù nhân. Hoa tìm đến Bác bởi Bác là người mang trong mình phẩm chất một nghệ sỹ nên hơn ai hết có thể cảm thông, sẽ chia với số phận mong manh của cái đẹp. Tỏ bày nỗi bất bình hương hoa đã khẳng định được sức sống của mình, hoa không cam chịu sự bất công của tạo hóa mà bay đi đòi quyền sống. Tư tưởng nhân văn cao cả của Bác chính là ở sự phát hiện mới mẻ ấy.
 
Ở trên nói vô tình, ở dưới nói bất bình. Hoa là nhân vật nhập thân do nỗi niềm của hoa chính là nỗi niềm ấm ức với sự bất công – bất bình cho hoa, phải chăng cũng là nỗi bất bình của Bác trước cảnh giam hãm, tù đày.
Đồng cảm được với số phận của một loài hoa Bác khẳng định được bản thân mình và sự bất khả chiến bại của cái đẹp trong mọi hoàn cảnh.
 
Có lẽ “Vô đề” dưới đây được xem là thơ đề từ cho tập “Ngục trung nhật ký”. Chúng ta biết thơ đề từ thường định hướng tư tưởng chủ đề, quan điểm tư tưởng và nghệ thuật của tác giả qua tập thơ. Bài thơ “Vô đề” của Bác Hồ đem đến cho chúng ta những bài học giáo dục sâu sắc. Đó là lẽ sống đúng đắn, khát vọng và mục đích, hành động phấn đấu cho một sự nghiệp lớn, lý tưởng cao đẹp. Muốn đạt được những điều ấy, con người phải rèn luyện tinh thần, bản lĩnh phải cao. Bài “Vô đề” thể hiện sự kế  thừa và cách tân thể thơ tứ tuyệt đường luật mạnh mẽ của Bác Hồ.
 
Bài thơ “vô đề” thuộc tập “Ngục trung nhật ký” Bác Hồ có dụng ý phá cách thơ tứ tuyệt:
 
“Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại
Dục thành đại sự nghiệp
Tinh thần cánh yếu đại”
 
Thơ dịch:
 
“Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao”
 
Có thể nói bài thơ Bác viết bằng chữ Hán ngũ ngôn tứ tuyệt không có đề tựa trên đây là một hiện tượng độc đáo bất ngờ. Cách hiệp vần của bài thơ không theo quy luật bắt vần thông thường của thơ tứ tuyệt. Nếu là vần bằng ở cuối câu thứ nhất “trung” thì chữ cuối của câu thứ hai Bác lại dùng từ mang thanh trắc (ngoại). Chữ cuối của câu thứ ba và câu thứ tư cũng đều thanh trắc (nghiệp, đại). Như vậy xét cách hiệp vần của bài thơ này, Bác không theo mô hình gieo vần bằng của tứ tuyệt Đường thi. Nghiên cứu kỹ đặc điểm hợp vần của bài thơ, chúng tôi thấy Bác vận dụng một cách sáng tạo luật gieo vần trắc của thơ ngũ ngôn tứ tuyệt. Hai vần trắc ở câu thứ hai (ngoại) và câu thứ tư (đại) chính là vần của bài thơ “Không đề”. Gieo vần trắc trong thơ Đường luật rất ít xảy ra. Bài thơ trên Bác vẫn mạnh dạn cách tân, bung phá tạo nên một hiện tượng “lạ” trong thơ Đường luật Việt Nam. Nếu xem bài thơ này được Bác viết theo kiểu vần trắc thì chữ cuối của câu thứ ba phải mang thanh bằng, nhưng ở đây Bác lại dùng thanh trắc (nghiệp). Thành ra bài thơ không chỉ độc đáo về cách hiệp vần mà còn đổi mới phá cách trong việc dùng thanh bằng trắc ở cuối câu thứ nhất và thứ ba.
 
Những dụng ý “nghệ thuật” được Bác dùng trong bài thơ càng làm nổi bật ý nghĩa tương phản, đối lập giữa “thân thể” và “tinh thần” của chủ thể trữ tình bài thơ:
 
“Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao”
 
Ta càng cảm phục hình tượng người tù cộng sản trong lao ngục. Kẻ thù có thể giam hãm, cùm trói thể xác của Bác Hồ. Chúng không bao giờ trói buộc được tinh thần, tư tưởng, trí óc của người cộng sản. Ta bắt gặp ý tưởng đẹp đẽ này trong câu thơ của Xuân Thủy tương đồng với ý thơ của Bác.
 
“Đế quốc tù ta, ta chẳng tù”
 
Cấu trúc đặc biệt của vần thơ cách dùng nhấn mạnh những từ “đại sự nghiệp”, “cánh yếu đại” ở hai câu cuối bài thơ có giá trị như một khích lệ, một quy luật tất yếu của sức mạnh tinh thần trước bất kỳ một hoàn cảnh gian nan, khó khăn nào.
 
“Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao”
 
Mới đọc thoáng qua, một số người băn khoăn, khó xác định bài thơ trên thuộc thể loại thơ bốn câu năm chữ hay thơ ngũ ngôn tứ tuyệt? Chúng tôi cho rằng Bác làm bài thơ này theo thể tứ tuyệt vần trắc trốn vận. Chữ cuối của câu thứ nhất lẽ ra phải mang thanh trắc và hợp với hai vần (ngoại, đại) nhưng Bác đã tĩnh lược vần trắc thứ nhất.
 
Căn cứ vào bản dịch thơ, tác giả Nam Trân cũng dịch bài thơ “Vô đề” trên đây theo thể vần bằng nuux ngôn tứ tuyệt.
 
2. Thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh còn khá nhiều bài mang “dụng ý nghệ thuật” của Bác. Chúng ta khảo sát một số bài thơ dưới đây:
 
Bài “Thiên Giang ngục”.
 
“Lung ngoại lục thập cửu nhân áng,
Lung trung đích áng bất tri số
Giam phòng khước tượng bào dược đường
Hựu tượng nhai thượng mại áng phố”
 
Thơ dịch:
 
“Ngoại lao sáu chín chiếc ang người
Chồng chất trong lao biết mấy mươi
Nhà ngục mà như nhà chế thuốc
Gọi là hàng chĩnh cũng không sai”
 
Ngay câu đầu bài thơ, Bác không chịu tuân thủ luật “Nhị tứ lục phân minh”. Chữ thứ hai, thứ tư, câu thơ đầu đều là trắc (ngoại, thập). Phải chăng khi dùng số từ 69 Bác muốn giữ nguyên cách gọi số lượng từ tiếng Hán mà không cần sửa cho đúng luật bằng trắc. Đây là một đặc điểm thường bắt gặp trong lối viết của Bác.
 
Cách gieo vần của bài tứ tuyệt này cũng rất đặc biệt. Các từ “áng”, “số”, “phố” ở cuối câu thứ nhất, thứ hai, thứ tư đều mang thanh trắc, ba từ này hợp vần với nhau. Bài tứ tuyệt “Thiên Giang ngục” Bác gieo vần trắc tạo cho người đọc một cảm giác vừa ghê sợ vừa hài hước. Nhà ngục Thiên Giang ở Quảng Tây là nơi giam người mà ngoài ngục cũng như trong ngục là hình ảnh những chiếc ang chôn người đáng sợ. Bác còn dùng lối nói khôi hài, tương phản giữa cái chết và cái nhà thuốc cứu người.
 
“Nhà ngục mà như nhà chế thuốc
Gọi là hàng chĩnh cũng không sai”.
 
Bài thơ vần trắc, cùng với sự phá cách tạo trái khoáy trong ta về sự vật, hình ảnh được miêu tả. Nếu bài “Thiên Giang ngục” mang tính đối lập thì bài “Cướp áp”(Cái cùm) Bác lại nêu một nghịch lý. Ấy là miệng cái cùm trông như miệng loài ác thú. Thế mà cứ tối tối mọi tù nhân phải tranh nhau đưa chân vào miệng cùm để mong có giấc ngủ yên dằm. Nếu không, giấc ngủ của họ sẽ bị đe dọa. Đó cũng chính là cái mâu thuẫn giữa hành vi và suy nghĩ của tù nhân trong hoàn cảnh bị giam cầm. Cái nghịch lý trong hành động không cần làm mà cứ phải thực hiện trong chính mỗi con người. 
 
“Tranh ninh ngã khẩu tự hung thần
Vãn vãn trương khai bã cước thôn
Các nhân bị thôn liễu hữu cước
Chỉ thặng tả cước năng khuất thân”

     *
“Thế gian cánh hữu ly kỳ sự
Nhân mẫn tranh tiên thượng cước kiểm
Nhân vị hữu kiểm tài đắc thụy,
Vô kiểm một xứ khả an niên”
 
Thơ dịch:

I

“Dữ tựa hung thần miệng chực nhai
Đêm đêm há hốc nuốt chân người
Mọi người bị nuốt chân bên phải
Co duỗi còn chân bên trái thôi”
II
“Nghĩ việc trên đời kỳ lạ thật
Cùm chân sau trước cũng tranh nhau
Được cùm chân mới yên bề ngủ
Không được cùm chân biết ngủ đâu”
 
Sự bung phá cao độ về luật bằng trắc, luật thơ ở đây dường như nhấn mạnh ý nghĩa tính chất phi lý mà Bác nêu trong bài thơ. Có lẽ cái phi lý tính đó được Bác thể hiện như một đột phá so với thơ tứ tuyệt cổ điển. Bác muốn bung rời chất dính kết nghiệt ngã giữa các câu thơ trong bài thơ này. Câu hai, ba ở bài một, câu ba, bốn ở bài hai là một chứng minh hùng hồn. Cùng với tính chất trào lộng thâm thúy, bài thơ có giá trị hiện thực tố cáo sâu sắc chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch thời bấy giờ.
 
Khảo sát bài thơ “Kha tưởng đào” Bác lại có lối phá luật rất linh hoạt.
 
“Nhất tâm chỉ tưởng tự do cảnh
Biểu mệnh khiêu xa tha tẩu khai,
Khả tích tha bào bán lý hữu
Hựu bị cảnh binh tróc hồi lai!”
 
Thơ dịch:
 
“Tự do anh ấy hằng mong mỏi
Liều mạng đâm nhào nhảy xuống xe
Rủi quá chạy đâu chừng nửa dặm
Bị ngay cảnh sát bắt lôi về.”
 
Câu một và câu bốn hợp thành một cặp câu thơ của bài tứ tuyệt. Nhưng câu bốn không trùng khớp với luật “nhị tứ lục phân minh” ở câu một thành ra dụng ý nghệ thuật của Bác ở đây có tác dụng nhấn mạnh lòng khát khao muốn sống cuộc đời tự do của người tù. Ý tưởng tự do đó khiến hành động của người tù trở nên táo bạo. Hành động nhảy xe đào thoát của người tù bất thành, nên câu thơ thứ tư Bác tỏ nỗi niềm thương cảm và sẵn sàng để câu thơ chảy theo mạch cảm xúc mà không cần chú trọng quy ước về luật thơ:
 
“Khả tích tha bào bán lý hữu
Hựu bị cảnh binh tróc hồi lai!”
 
Bài “Báo tiệp”
 
“Nguyệt thôi song vấn thi thành vị?
Quân vụ nhưng mang vị tố thi,
Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng
Chính thị liên khu báo tiệp thì”
 
Thơ dịch:
 
“Trăng vào cửa sổ đòi thơ
Việc quân đang bận xin chờ hôm sau
Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu
Ấy tin thắng trận Liên khu báo về”
 
Xét phương diện tổ chức dính kết thơ tứ tuyệt, bài “Báo tiệp” đã phá luật thơ. Thông thường thơ tứ tuyệt có hai cặp câu thơ kết dính với nhau. Mỗi cặp câu thơ đều có sự tương ứng về thanh âm giữa các chữ hai, bốn, sáu trong từng cặp câu thơ. Khảo sát bài “Báo tiệp” ta thấy Bác có ý đảo ngược sự tương ứng âm thanh của các cặp câu. Cặp câu một gồm câu một và bốn
 
Nguyệt thôi song vấn thi thành vị?
    B T   B
  Chính thị liên khu báo tiệp thì
   T       B           T
Cặp câu hai gồm câu hai và ba
Quân vụ nhưng mang vị tố thi,
T        B T
Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng
        B       T              B
 
Hiện tượng ngược nhau về bằng trắc (B-T) trong bảng thống kê trên chứng tỏ bài thơ phá luật thơ. Phân tích bài thơ này chúng ta ít chú ý đặc điểm phá luật thơ của Bác. Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh khi phân tích kết cấu bài “Báo tiệp” có nói một cách tế nhị dường như câu 1,2 và câu 3,4 là hai phần của hai bài thơ khác nhau hợp lại, nhưng có tác dụng hỗ trợ nhau làm sáng tỏ chủ đề bài thơ.
 
Dụng ý nghệ thuật phá luật thơ của Bác trong bài thơ này có giá trị như sự xuất thần của ngọn bút trong đêm thu khi âm hưởng tiếng kèn chiến thắng chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947-1948 báo về hòa hợp với ý tưởng câu kết bài thơ.
 
Chính thị liên khu báo tiệp thì
 
Sự tương khắc về âm thanh giữa hai cặp câu thơ trong bài “Báo tiệp” càng chứng tỏ bản lĩnh của một tâm hồn chiến sỹ và nghệ sỹ Hồ Chí Minh.
 
Trong di sản thơ Đường của Bác còn có một trường hợp rất hi hữu nhưng lại trở thành một bài thơ nổi tiếng được giới nghiên cứu và bạn đọc quan tâm đặc biệt.
 
Bài “Không đề”
 
“Đã lâu không làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem ra sao
Lục khắp giấy tờ vần chửa thấy
Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao”
 
Đây là bài thơ tứ tuyệt vừa phá luật bằng trắc vừa phá chất dính kết. Đặc biệt hai câu 1 và 2 hầu như Bác dùng thanh bằng là chính.
 
“Đã lâu không làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem ra sao”
 
Luật “nhị tứ lục phân minh” bị bung phá mạnh mẽ ở hai câu thơ trên có lẽ xuất phát từ cách nói dân dã, khẩu khí đời thường của Bác tạo nên phong cách độc đáo của bài thơ. Hai câu 3,4 Bác trở lại tính ổn định của luật tứ tuyệt Đường thi:
 
“Lục khắp giấy tờ vần chửa thấy
Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao”
 
Có lẽ không khí đánh Mỹ bùng lên của xuân Mậu Thân 68 khắp chiến trường Miền Nam, hậu phương lớn, tiền tuyến lớn đánh mạnh thắng to đã khơi dậy cảm hứng sáng tác của Bác làm nên phút thăng hoa nghệ thuật để có được câu kết thần tình:
 
Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao.
 
Cái vần “thắng” ở đây cho phép tác giả lãng quên một cách có ý thức khi vận dụng sáng tạo luật thơ Đường.
Khảo sát các bài thơ Đường trên đây, chúng ta đi đến một nhận xét tổng quát. Hiện tượng phá luật trong thơ tứ tuyệt Bác Hồ theo thời gian tiệm tiến từ “Ngục trung nhật ký” trở đi ngày càng có sự bung phá đa dạng, táo bạo hơn. Phải chăng hiện tượng phá luật này nhằm đáp ứng nhu cầu cá tính sáng tạo của Bác Hồ, nhu cầu tiếp thu truyền thống và cách tân văn học. Phá luật trong thơ Đường là một hiện tượng độc đáo, thường xảy ra ở các nhà thơ lớn. Hiện tượng này có ý nghĩa như một nút nhấn tạo cái bất ngờ lý thú, tạo sự đồng cảm sâu sắc đối với người đọc trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn chương.
 
Như vậy qua khảo nghiệm hiện tượng phá luật như những dụng ý nghệ thuật của tác giả Hồ Chí Minh chứng tỏ rằng thơ tứ tuyệt của Bác tiếp thu một cách sáng tạo di sản thơ Đường Trung Quốc ngày càng mang tính dân tộc cao hơn và phong phú hơn. Đây là một trong những biểu hiện sinh động của quá trình dân tộc hóa thơ Đường luật Việt Nam./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}