Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Thứ Năm, 26/11/2020 17:34

Bài Viết:

 

Khuynh hướng sử thi trong thơ ca VN 1955- 1975

Hà Thị Dung (Hà Nội) | Thứ Tư, 28/05/2014 16:59 GMT +7
Khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm trong văn học giai đoạn thơ ca kháng chiến chống Mỹ, đặc điểm ấy cũng thể hiện đậm nét trong thơ ca cách mạng.

Khuynh hướng sử thi không chỉ bó hẹp trong một số bài thơ mà gần như là hơi thở xuyên suốt hầu hết các tác phẩm thơ ca. Dù dung lượng hạn chế của một bài thơ, một đoạn thơ nhỏ nhưng những vần thơ ấy có sức bao quát cả một giai đoạn lịch sử, một chiến dịch lớn, nói lên những vấn đề hệ trọng của một dân tộc và thời đại, vận mệnh của đất nước và nhân dân. Cảm hứng anh hùng và cảm hứng yêu nước, ý thức độc lập, ý thức tự chủ, sự thống nhất giữa cá nhân và cộng đồng, dân tộc là cảm hứng chủ đạo, bao trùm trong thơ.

Trong suốt hai mươi năm, hiện thực cách mạng và đời sống lịch sử của dân tộc tác động sâu sắc đến tâm tư tình cảm của người Việt Nam và để lại dấu ấn rõ nét trong văn học nói chung và thơ ca nói riêng. Thơ ca lúc này là thơ ca của những sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Các sáng tác thuộc khuynh hướng sử thi tập trung vào các đề tài có ý nghĩa toàn dân tộc, thể hiện những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử. Vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân bị mờ đi trước những vấn đề chung của đất nước, những vấn đề mang ý nghĩa vận mệnh chung của cả cộng đồng. Hình tượng thơ mang tính sử thi, tiêu biểu cho lý tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện và tiêu biểu cho sức mạnh, vẻ đẹp, ý chí và khát vọng của nhân dân và dân tộc. Giọng điệu sử thi là giọng điệu trang trọng, ngợi ca hào sảng, tráng lệ, hào hùng... Chất sử thi không chỉ đến giai đoạn này nới xuất hiện mà nó đã từng xuất hiện ở những giai đoạn trước đó. Chỉ có điều đến giai đoạn này, nó càng ngày càng phát triển mạnh mẽ và trở thành huynh hướng nổi bật trong nền thơ dân tộc.

Khuynh hướng sử thi là khuynh hướng nổi bật và chủ đạo của thơ ca kháng chiến chống Mỹ. Điều này đã giúp thơ ca giai đoạn này phản ánh được những chuyển động kỳ vĩ của lịch sử dân tộc, làm sáng bừng lên những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam. Chất sử thi dạt dào trong mỗi vần thơ đã tác động sâu sắc đến tâm tư, tình cảm của mỗi người Việt Nam, có sức lay động sâu xa. Và có lẽ chính điều này đã góp phần làm nên sức sống mãnh liệt của thơ ca.
Khuynh hướng sử thi thể hiện trước hết ở đề tài, chủ đề mà thơ hướng đến. Hiện thực mà thơ ca phản ánh không phải là bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống mà là hiện thực cách mạng của dân tộc, là đời sống của dân tộc. Thơ không thể là tiếng nói riêng của mỗi cá nhân mà là tiếng nói chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc. Trong suốt hai mươi năm ấy, hiện thực cách mạng và đời sống lịch sử của dân tộc là bình diện nổi bật, bao trùm toàn bộ đời sống xã hội, thu hút và chi phối mọi bình diện khác trong đó có văn học nói chung và thơ nói riêng. Thơ ca hai mươi năm này là thơ của những vấn đề, những sự kiện lịch sử, của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Cái riêng tư, đời thường dường như bị lãng quên, ít được đề cập đến, nếu được nói đến thì chủ yếu cũng là để nhấn mạnh thêm trách nhiệm và tình cảm của cá nhân đối với cộng đồng. Có thể nói, mọi đề tài, chủ đề, cảm hứng của thơ đều được trực tiếp khai thác hoặc liên quan chặt chẽ với hiện thực lịch sử, với những vấn đề và vận mệnh của dân tộc, nhân dân.

Thơ ca lúc này không hướng đến những đề tài riêng mà thơ hướng đến những vấn đề chung của cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thơ nói lên niềm vui lớn của nhân dân trong cuộc sống xã hội chủ nghĩa và khát vọng xây dựng cuộc sống mới của nhân dân. Thơ ca ngợi vẻ đẹp sáng ngời của đất nước. Cuộc sống lao động sôi nổi, hào hùng của toàn dân tộc ùa vào thơ. Thơ lúc này như trái tim đập những nhịp đập chung của dân tộc.

Khi viết về cuộc sống xã hội chủ nghĩa, thơ trước hết là bài ca về đất nước tươi đẹp. Những vết thương chiến tranh được hàn gắn lại, đất nước thay da đổi thịt, nhịp cầu mới in bóng dưới dòng sông, ruộng đồng xanh lấn vành đai trắng, những ngôi nhà mới lại hồng lên sắc mặt. Tổ quốc hiện ra trong vẻ lộng lẫy của địa hình sông núi, của đất nước rừng vàng biển bạc, trăm sắc trăm màu. Cảm hứng đầu tiên ấy được thể hiện rất đằm thắm như không nén được xúc động trong thơ Tố Hữu:  Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!/ Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt / Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát/ Chuyến phà dào dạt bến nước Bình ca (Ta đi tới - Tố Hữu).

Đất nước được chiêm ngưỡng trong ánh sáng một ngày mới. Đất nước mở ra bát ngát xuôi ngược trăm miền phơi phới... Làm sao có thể giấu niềm tự hào trước vẻ đẹp sáng rực của đất nước Việt Nam! Trên những trang thơ thấm đẫm sự tự hào, yêu thương. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện lên thật đẹp, từ vùng biển quê hương đến núi đèo xa lạ, nơi đâu đất nước cũng mang trong mình nét đẹp mới mẻ, diệu kỳ.

Không chỉ ở vùng biển quê hương mà trên khắp Tổ quốc, đất nước con người đang đổi thay trong khuôn mặt mới. Và cho đến những miền xa thẳm, nơi chỉ có những con đường mòn vết chân ngựa nơi đỉnh núi bốn mùa sương phủ, bản làng heo hút xa vắng, trên những đèo mây, những tầng núi đá, nơi nào cũng ấm nóng cuộc sống lao động xã hội chủ nghĩa. Thơ không chỉ là những ruộng lúa và cánh cò bay lượn thân quen, thơ còn là nông trường bát ngát của chủ nghĩa xã hội: Nông trường ta rộng mênh mông/ Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài (Nông trường cà phê - Tế Hanh)

Thơ ca 1955 - 1975 đã trở thành tiếng nói chung của toàn dân tộc. Lời thơ sử thi biểu hiện ngay ở đề tài cuộc sống xã hội chủ nghĩa mà thơ hướng đến. Thơ ca ngợi đất nước xã hội chủ nghĩa tươi đẹp, đất nước của tất cả chúng ta, nói lên niềm vui, niềm tự hào to lớn của toàn dân tộc. Bên cạnh đó thơ hướng về nhịp sống lao động chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu lại được biểu hiện trong khí thế lao động quên mình trên mọi miền đất nước. Cuộc sống xây dựng khẩn trương sôi nổi trong nhịp điệu mới đang diễn ra trên khắp miền đất nước từ rừng sâu, núi cao đến vùng trung du, đồng bằng duyên hải và các hải đảo xa xôi... và đi vào thơ với muôn vẻ diệu kỳ.

Góp phần vào đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, Huy Cận đã có những vần thơ hay viết nên cuộc sống lao động và niềm vui của dân tộc trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đoàn thuyền đánh cá là một bài thơ thành công của Huy Cận. Bài thơ là một khúc tráng ca về tinh thần lao động mới, ca ngợi sức lao động và sự chiến thắng của con người với thiên nhiên. Cảm hứng thơ hòa quyện giữa chất liệu hiện thực khỏe khoắn và lãng mạn cách mạng, đã thể hiện vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên, khung cảnh lao động rất thực và cũng rất thơ mộng: Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng / Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng/ Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông/ Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. (Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận).

Thơ ca chân chính không phải là tiếng nói riêng lẻ của một cõi lòng nào. Nguồn nuôi dưỡng vô tận của thơ ca chính là mạch tâm tình của quần chúng mà thơ phải cố gắng bắt cho được. Thơ ca 1955 – 1975 mang đậm khuynh hướng sử thi đã làm được điều ấy. Trong những trang thơ viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội thơ đã bỏ qua những điều riêng tư, nhỏ nhặt của cá nhân và hướng đến cuộc sống lao động, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cuộc sống mới và con người mới trên đất nước Việt Nam trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đem lại những vần thơ tươi vui, đầm ấm, phơi phới lạ thường. Thơ viết về đề tài mang tính sử thi – về cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ là những trang thơ ca ngợi Tổ quốc xã hội chủ nghĩa tươi đẹp, cuộc sống lao động tưng bừng thay đổi khắp nơi trên đất nước, thơ còn là tiếng ca vui của nhân dân, một niềm vui đầy sức tự hào của người chiến thắng. Làm sao có thể trong phút giây nói hết được niềm vui, niềm hạnh phúc to lớn của người Việt Nam trong những ngày đầu sống trong hòa bình, tự do, làm chủ đời mình, làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội: “Tập làm chủ, tập làm người xây dựng”.
Viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội với những vần thơ dạt dào chất sử thi, các nhà thơ đã diễn đạt cảm nghĩ của đông đảo nhân dân, đã dựng được những đài thơ để ghi lại và tô điểm thêm cho kỳ đài lịch sử. Từ cảm hứng lịch sử nhà thơ đã sáng tạo và viết nên những vần thơ đầy chất sử thi để ngợi ca nhân dân, đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với lòng yêu mến không cùng đất nước và con người Việt Nam. Hiện thực mà thơ ca chiếm lĩnh không phải là bất kì lĩnh vực lớn nhỏ nào của đời sống con người riêng tư, cũng không phải với một sự quan tâm ngang bằng dành cho mọi lĩnh vực, hiện thực mà thơ ca chiếm lĩnh và khai thác ở đây là hiện thực cách mạng của dân tộc, là đời sống rộng lớn của nhân dân. Bên cạnh những vần thơ viết về đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nhà thơ còn hướng ngòi bút của mình vào đề tài đấu tranh thống nhất đất nước.

Đề tài đấu tranh thống nhất đất nước là đề tài nổi bật, đã thu hút rất nhiều tài năng: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư,... là những nhà thơ có nhiều đóng góp về điều này. Bởi nỗi đau chia cắt là nỗi đau chung, khát vọng, ý chí đấu tranh thống nhất đất nước là khát vọng, ý chí của toàn dân tộc. Hơn ai hết Tố Hữu có những vần thơ xúc động về đấu tranh thống nhất đất nước. Thơ Tố Hữu có sức sống mãnh liệt, sâu bền trong lòng mọi người trước tiên có lẽ vì thơ ông là tình cảm, là nỗi niềm chung của toàn dân tộc. Tâm sự riêng tư, cá nhân dường như lúc này không được nhà thơ nói đến. Nỗi đau, niềm xót xa về cảnh đất nước chia cắt luôn thường trực trong tâm hồn nhà thơ. Miền Nam chính là “miền sâu thẳm” trong cõi lòng ông, là “nỗi niềm nhức nhối tim gan”, là điều ông không thể nào yên : Có thể nào yên miền Nam ơi, máu chảy/ Tám năm rồi. Sáng dậy, giữa bình minh / Tim lại đau, nhức nhối nửa thân mình. (Có thể nào yên).

Với tấm lòng tha thiết hướng về miền Nam, khi viết về đề tài, chủ đề đấu tranh thống nhất đất nước, thơ không chỉ nói đến nỗi đau chia cắt, khát vọng đấu tranh thống nhất đất nước của dân tộc mà thơ còn ghi lại hình ảnh miền Nam anh dũng, kiên cường dù phải chịu đựng muôn vàn hy sinh vì tội ác của quân xâm lược. Hình ảnh mảnh đất Huế thân yêu đang ngày đêm bị kẻ thù giày xéo gây bao đau thương tang tóc trong những vần thơ Tố Hữu làm nghẹn ngào bao trái tim người đọc : Từ ấy, xa quê mẹ đến nay/ Lắng nghe từng buổi, nhớ từng ngày/ Giặc về giặc chiếm đau xương máu/ Đau cả lòng sông đau cỏ cây (Quê mẹ )
Những vần thơ của Tố Hữu xuất phát từ những vấn đề lớn, vấn đề chung của đất nước, có sức lay động lớn trong tâm hồn mỗi người. Thơ của Tố Hữu là thơ của “lẽ sống lớn, của tình cảm lớn”. Con đường thơ của Tố Hữu luôn song hành với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Qua tâm hồn chan chứa yêu thương của nhà thơ, các vấn đề sự kiện chính trị liên quan tới vận mệnh của dân tộc trở thành nguồn xúc cảm nghệ thuật mãnh liệt. Nỗi đau chia cắt, khát vọng, ý chí đấu tranh thống nhất đất nước là nỗi niềm tình cảm, khát vọng chung của cả dân tộc. Đi từ tình cảm chung ấy, thơ Tố Hữu viết về đề tài đấu tranh thống nhất đất nước đậm đà chất sử thi.

Bên cạnh đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất đất nước, khuynh hướng sử thi còn thể hiện đậm nét trong thơ 1955 - 1975 qua những vần thơ viết về đề tài ra trận. Năm 1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh cả nước, ồ ạt kéo quân vào miền Nam, đồng thời leo thang đánh phá miền Bắc với quy mô ác liệt. Cuộc kháng chiến chống Mỹ thổi vào trong thơ luồng cảm hứng sử thi hào hùng. Tạm gác lại đề tài về đời sống thường ngày, những vấn đề riêng tư, thơ lúc này hướng ngòi bút vào đề tài lớn: đề tài ra trận. Sống trọn vẹn với dân tộc, gắn bó máu thịt với vận mệnh chung của nhân dân, đất nước, điều ấy thôi thúc rất nhiều nhà thơ viết về đề tài ra trận. Và mỗi nhà thơ lại có cách khám phá, thể hiện khác nhau. Tố Hữu gọi là “dòng thơ lửa cháy”, Chế Lan Viên quan niệm là “những bài thơ đánh giặc”, với Huy Cận là “chiến trường gần đến chiến trường xa”. Thơ viết về đề tài ra trận đã thể hiện được sự ra quân hùng mạnh của dân tộc.

Ra trận, đối diện với kẻ thù, sự sống và cái chết gần nhau trong gang tấc nhưng dân tộc ta vẫn không lùi bước. Vì tình yêu đất nước tha thiết, họ đã ra đi với niềm vui, niềm lạc quan, phấn khởi: Những buổi vui sao cả nước lên đường / Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục... / Súng nhỏ súng to chiến trường chật chội/ Tiếng cười hăm hở đầy sông, đầy cầu (Đường ra mặt trận - Chính Hữu)

Tiếng cười hăm hở trên đường ra trận trong thơ Chính Hữu dội mãi trong lòng người dân Việt Nam niềm tin yêu không dứt. Được ra trận, chiến đấu với kẻ thù, đó là hạnh phúc. Ra trận chiến đấu với kẻ thù là nhiệm vụ của toàn dân tộc, là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người dân Việt Nam, là sự kiện lịch sử lớn, gắn bó chặt chẽ với vận mệnh, số phận của nhân dân. Viết về vấn đề chung ấy, thơ đã rung lên trong lòng người đọc cảm xúc sâu đậm về khí thế ra quân hùng mạnh của dân tộc Việt Nam trong những năm tháng gian lao mà hào hùng, vĩ đại. Cả nước hành quân. Một cuộc hành quân dài suốt bốn nghìn năm đã chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Thơ ca cũng hành quân đi vào cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc. Thơ tắm mình trong cuộc thử lửa lớn lao, ánh ngời lên chất thép của tâm hồn thời đại. Hình ảnh đoàn quân đi vào tuyến lửa vì lòng yêu Tổ quốc, vì lẽ sống lớn lao của dân tộc và của thời đại được thể hiện trong những vần thơ không thể quên, vừa hùng tráng, vừa trữ tình đằm thắm:
Viết về đề tài ra trận, những vần thơ sử thi trong hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ còn là những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu.

Thơ ca Việt Nam những năm chống Mỹ cứu nước mang theo những phẩm chất cao quý và vẻ đẹp lạ lùng. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được kết tinh và biểu hiện rực rỡ trong một cuộc chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của dân tộc. Những giá trị tinh thần cao đẹp biểu hiện tập trung trong hình ảnh người Việt Nam chiến đấu. Thực tế chiến đấu vĩ đại ấy, sự nghiệp lớn lao và con người cao đẹp ấy là mảnh đất quý nuôi dưỡng vô tận mọi nguồn cảm hứng thi ca. Chế Lan Viên đã nói lên cảm nghĩ của một tâm hồn thơ trẻ chứa chan hạnh phúc khi được sống, được chiến đấu và được viết trên thực tế chiến đấu nóng bỏng anh hùng của đất nước Việt Nam: Rất trữ tình là nhịp bước hành quân/ Vần thơ xung phong là vần thơ chân chất/ Thời đánh Mỹ là thời tươi đẹp nhất/ Tỏa nắng cho thơ là triệu mắt anh hùng.

Hiện thực hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ đã “tỏa nắng cho thơ”, góp phần làm nên sức sống mãnh liệt cho thơ. Những vần thơ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng như những bông hoa nở dọc chiến hào điểm tô thêm vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của con người Việt Nam. Vẻ đẹp tâm hồn và giá trị tinh thần cao cả nhất của người Việt Nam đánh Mỹ kết tinh rực rỡ trong chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Thơ chống Mỹ dù rộng mở, dù đi xa đến đâu về mặt đề tài vẫn luôn xoay quanh vầng sáng trung tâm ấy để luôn lấp lánh vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng. Tiếng nói anh hùng đã trở thành tiếng nói tự nhiên của tâm hồn, tình cảm, hay nói cách khác chất trữ tình gắn bó, hòa quyện với chất anh hùng ca trong những vần thơ lúc này. Cả đất nước, cảnh vật, con người hòa thành một khúc hợp ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.

Thơ ca 1955 - 1975 với những vần thơ ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng dạt dào chất sử thi đã sáng tạo thành công những hình tượng tập thể về quần chúng nhân dân rất đỗi anh hùng mà thắm thiết, ân tình, khắc họa được hình tượng những con người mang tình cảm, tư tưởng với tâm lý tập thể cộng đồng, gắn bó với hàng chục triệu người trong sự nghiệp cách mạng giữ nước và dựng nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hình tượng dân tộc Việt Nam anh hùng in bóng vào trang thơ với tầm vóc lớn lao, gắn bó với chiều sâu lịch sử, những hình tượng kết hợp nhuần nhị tính chất sử thi, trữ tình và chất chính luận.

Nền thơ chống Mỹ một mặt gắn bó với những sự kiện, biến cố lịch sử đã tạo nên những trang thơ có tính biên niên sử, mặt khác nó đã tổng hợp, khái quát, nêu được vấn đề lớn, vấn đề chung của toàn dân tộc dựa vào hồn của thời đại, đạt đến tầm sử thi. Thơ viết về đề tài ra trận đã thể hiện bức tranh rộng lớn, bao quát về cuộc hành quân hùng mạnh của dân tộc, thể hiện vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong tập thể anh hùng chiến đấu dũng cảm… những vần thơ ấy đậm khuynh hướng sử thi, chất sử thi là ánh sáng cháy lên bên trong mỗi vần thơ. Trong những năm tháng cả nước cùng ra trận, đời sống và số phận của mỗi người tất yếu phải gắn chặt với vận mệnh của đất nước, với cuộc chiến đấu của dân tộc. Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, thơ không thể không trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng, khát vọng, tình cảm chung rộng lớn và thống nhất của mọi người, của toàn dân tộc.

Tổ quốc là một đề tài lớn, bao quát thơ ca kháng chiến chống Mỹ. Khuynh hướng sử thi đòi hỏi các nhà thơ nhìn con người và cuộc đời không chỉ bằng con mắt cá nhân mình mà chủ yếu là con mắt có tầm bao quát lịch sử, dân tộc và thời đại. Tố Hữu gọi đó là con mắt “nhìn bốn hướng - trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau - trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu!”, còn Chế Lan Viên gọi là “con mắt Bạch Đằng - con mắt Đống Đa”. Với cái nhìn sử thi, các nhà thơ đã tập trung khám phá, thể hiện hình tượng Tổ quốc Việt Nam trong chiều sâu văn hóa suy tưởng và hình tượng Tổ quốc hào hùng trong chiến tranh. Những vần thơ ca ngợi Tổ quốc đậm chất sử thi lay động sâu sắc tâm hồn mọi người, rung lên trong lòng chúng ta tình yêu dạt dào, lòng kính phục, ngưỡng mộ Tổ quốc thương yêu.

Bằng cảm xúc chân thành, nồng cháy các nhà thơ đã viết nên những trang thơ thể hiện hình tượng Tổ quốc Việt Nam trong chiều sâu văn hóa lịch sử với niềm tự hào tha thiết. Kế thừa quan niệm về Tổ quốc của ông cha ta, các nhà thơ đã cảm nhận và miêu tả hình tượng Tổ quốc trong chiều sâu văn hóa lịch sử mà thành công nhất phải kể đến Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Khoa Điềm, ...

Ý thức về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước đã mở rộng và làm sâu sắc hơn trong thơ quan niệm về đất nước, dân tộc và về sự thống nhất liền mạch giữa quá khứ và hiện tại. Ta luôn bắt gặp trong thơ viết về Tổ quốc những từ ngữ và hình ảnh về thời gian lịch sử, về bốn nghìn năm đất nước: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận” (Tố Hữu), “Ta sống cùng Tổ quốc bốn nghìn năm mà ta chưa hiểu hết” (Chế Lan Viên). Và luôn vang lên trong những trang thơ nói về Tổ quốc tên của những anh hùng giữ nước, những triều đại vẻ vang, những chiến công oai hùng. Chưa bao giờ lịch sử đấu tranh của dân tộc lại được làm sống dậy với tất cả niềm tự hào và say sưa như trong thơ lúc này, bởi vì lịch sử cần thiết và thực sự phải trở thành động lực tinh thần, sức mạnh to lớn cho con người Việt Nam ở cuộc đối đầu với kẻ thù hung bạo trên thế giới: Hỡi những anh hùng ngàn năm dựng nước/ Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Quang Trung / Tất cả hôm nay xuất trận trùng trùng/ Lớp lớp anh hùng tràn như sóng cuộn/ Trương Định cũng về đây bóng che nhà hát lớn (Gặp các anh hùng)

Hình ảnh Tổ quốc hòa quyện giữa quá khứ và hiện tại. Quá khứ anh hùng, lịch sử vẻ vang đã trở thành điểm tựa vững chắc cho dân tộc Việt Nam những ngày đánh Mỹ. Quá khứ hào hùng gắn bó máu thịt với hiện tại và cùng xông trận chiến đấu với kẻ thù. Chưa bao giờ trong thơ Lê Anh Xuân hình tượng Tổ quốc hiện lên oai hùng, gắn bó giữa truyền thống và hiện tại trong âm hưởng hùng tráng đến như vậy.

Tổ quốc trở thành cảm hứng lớn của thơ ca và viết về Tổ quốc là những trang thơ đậm đà chất sử thi. Thơ ca cách mạng giai đoạn này đã làm giàu cho thơ ca dân tộc bằng vô vàn vẻ đẹp của Tổ quốc và con người Việt Nam. Vẻ đẹp của truyền thống đã kết tinh rực rỡ, làm nên khuôn mặt của dân tộc Việt Nam. Tự hào biết bao khi ta được sống lại với Tổ quốc thân yêu trong những giai đoạn lịch sử vẻ vang của cha ông.

Hình ảnh Tổ quốc gắn liền với vẻ đẹp văn hóa dân tộc. Cảm nhận và miêu tả Tổ quốc trong hình ảnh  Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Trần Hưng Đạo,… Chế Lan Viên đã mang đến một cái nhìn độc đáo về Tổ quốc trong vẻ mặt văn hóa tiêu biểu của dân tộc. Ông là một trong những nhà thơ có suy nghĩ rất sâu về Tổ quốc và có những vần thơ thật hay: “Ôi hôm nay ta mới hiểu thêm về Tổ quốc”. Trong giờ phút xung trận của cả nước chống Mỹ, giữa đau thương bom đạn, Chế Lan Viên vẫn nhìn ra cái dịu dàng, êm ả của tâm hồn và cảnh sắc Việt Nam ẩn chứa chiều sâu của văn hóa dân tộc. Có thể nói hình tượng Tổ quốc trong chiều sâu văn hóa lịch sử là hình tượng đẹp đẽ, thành công bậc nhất trong thơ ca kháng chiến chống Mỹ. Với cái nhìn sử thi, các nhà thơ đã cất lên tiếng nói thơ trong sáng, hào hùng về Tổ quốc Việt Nam trong chiều sâu văn hóa suy tưởng và để lại niềm tin yêu trong lòng người đọc bao thế hệ. Khuynh hướng sử thi đã tạo nên trong thơ hình tượng Tổ quốc trong chiều sâu văn hóa lịch sử sáng ngời vẻ đẹp của truyền thống và hiện tại. Và những vần thơ đậm chất sử thi cũng đã khắc họa thành công hình tượng Tổ quốc hào hùng trong chiến tranh chống Mỹ, những năm tháng ác liệt, gian truân nhưng  vĩ đại của dân tộc: Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm/ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng/ …Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả/ Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn/ (Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? - Chế Lan Viên)

Những câu thơ ấy bằng sức mạnh của thi ca đã gợi dậy sâu xa từ trái tim người Việt Nam tình yêu đất nước. Tình yêu ấy đủ sức chiến thắng mọi quân thù, bảo vệ vững chắc Tổ quốc thân yêu. Bên cạnh Chế Lan Viên, Tố Hữu, Huy Cận, hồn thơ đằm thắm với quê hương, đất nước, giữa những ngày đánh Mỹ lại càng tự hào khám phá một Việt Nam bất khuất mà hào hoa, hiên ngang mà nhân ái chan hòa: Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững/ Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa/ Trong và đục sáng hai bờ suy tưởng/ Sống hiên ngang mà nhân ái chan hòa (Đi trên mảnh đất này)

Chất sử thi bao trùm, trở thành hơi thở xuyên suốt hầu hết các tác phẩm thơ ca. Thơ tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất, có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất? Độc lập tự do hay nô lệ? Đây là thơ của những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử, của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Điều ấy đã được biểu hiện rõ trong đề tài mà thơ hướng đến. Đề tài chung, bao quát, rộng lớn của toàn dân tộc đó là: đề tài về cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề tài đấu tranh thống nhất đất nước, đề tài ra trận, đề tài về Tổ quốc…
Viết về cái chung, những vần thơ ấy đã ghi dấu ấn một thời kỳ lịch sử, tác động sâu sắc đến tâm tư, tình cảm của mỗi người Việt Nam.Hình tượng trong thơ tiêu biểu cho lý tưởng chung của dân tộc, gắn bó số phận mình với số phận đất nước, thể hiện và kết tinh những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng. Đó là những con người có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi của dân tộc và thời đại, nhân danh cộng đồng mà chiến đấu vì sự sống còn của Tổ quốc. Giọng điệu sử thi chủ yếu là giọng anh hùng ca, giọng ngợi ca, trang trọng và giọng bi hùng, bi tráng.

Trước yêu cầu của lịch sử, sử thi vẫn là yếu tố chủ đạo trong nền văn học cách mạng, nhưng những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trạng thái sử thi của đời sống tinh thần xã hội vốn gắn với tính chất hào hùng của cuộc kháng chiến như “một môi trường dẫn truyền và cộng hưởng cảm xúc” cũng lắng dần. Cái tôi sử thi vốn là âm hưởng chủ đạo của thơ chống Mỹ không còn là loại hình thuần nhất và độc tôn sau khi đã hoàn tất sứ mệnh của nó với tư cách là sự thể hiện đến đỉnh cao của tinh thần công dân và tính chiến đấu./.
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}