Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Kiểu nhân vật “Đi tìm thời gian đã mất” và hiệu ứng kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Thứ Ba, 22/09/2015 10:22 GMT +7
Nguyễn Đức Toàn*
 
Phân tích thực tiễn văn xuôi Việt Nam sau 1986, chúng tôi nhận thấy xuất hiện một khuynh hướng văn học có nhiều điểm tương ứng với văn học dòng ý thức thế giới.

 
 
Khái lược về thủ pháp kỹ thuật dòng ý thức trong văn học
 
Dòng ý thức ban đầu là một thuật ngữ tâm lý học, sau đó được dùng để định danh một kỹ thuật sáng tạo nghệ thuật rồi nhanh chóng phát triển thành khái niệm chỉ một khuynh hướng/ trào lưu văn học có nguồn gốc từ phương Tây nhưng có tầm ảnh hưởng toàn thế giới. Ở Việt Nam, trong xu thế đổi mới và hội nhập văn hóa toàn cầu đã xuất hiện trên văn đàn những sáng tác mang đặc trưng bút pháp nghệ thuật dòng ý thức. Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta có đầy đủ tư liệu và chất liệu để nghiên cứu một cách có hệ thống khuynh hướng văn học này. Từ cơ sở thực tiễn văn hóa, văn học cụ thể, với đặc trưng bản địa, những luận bàn ấy có thể gợi ra các phạm trù lý thuyết và lịch sử văn học có ý nghĩa.
 
Lý thuyết văn học dòng ý thức là một thành tựu quan trọng của nền lý luận văn học thế giới thế kỷ XX. Hấp thu nền văn hóa trong tinh thần dân chủ của một "thế giới phẳng", do đó, việc tiếp nhận những lý thuyết văn học hiện đại nước ngoài vào khoa nghiên cứu văn học là sự vận động hợp lí tự nhiên, phù hợp với khát vọng của thời đại, dựa trên những tiền đề văn hóa, triết học vững chắc. Thế kỉ XX bắt đầu với hàng loạt cuộc cách mạng làm thay đổi sâu sắc đời sống tinh thần nhân loại: những phát kiến về tự nhiên mở ra cả thế giới vi mô sự sống, thế giới của những “sóng”, “hạt” và mô hình cấu trúc mới không thể nhận biết bằng giác quan, những khám phá tâm lí mà tiêu biểu là Phân tâm học của S. Freud soi rọi vùng vô thức mờ tối của con người, từ đó lý giải tinh tế những hoạt động và hành vi của cá nhân. Nhưng sự ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với nhân loại có lẽ chính là sự thay đổi ý niệm về hiện thực: thế giới giờ đây không còn là một chỉnh thể thống nhất mà con người có thể tri nhận. Hệ quả là sự tan vỡ ảo tưởng về một trật tự, phủ nhận những chân lý tuyệt đối và phổ quát. Nghệ thuật cũng vì vậy mà tích cực biểu hiện những cảm thức mới. Tư duy trừu tượng trong hội họa, tính chất phi cung thể trong âm nhạc… góp phần biến đổi bản đồ mĩ học của nghệ thuật.
 
Khí quyển tinh thần của thời đại khiến cho tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nghệ thuật nói chung đã có những cách tân và thể nghiệm không ngừng. Ngược lại với các nhà văn cổ điển coi trọng sự phản ánh hiện thực trong sự toàn thể và điển hình, cùng với thói quen miêu tả con người trong sự gắn bó sâu sắc với cội rễ lịch sử; các tác gia hiện đại lại tìm kiếm một hiện thực khác – đó là chiều sâu tâm tư đầy phong phú và phức tạp của con người, nơi lịch sử ghi dấu ấn thông qua phút giây của những rung động trong chiều sâu tâm hồn con người. Ở địa hạt văn xuôi nghệ thuật, cùng với sự thay đổi đề tài là sự cách tân mạnh mẽ lối viết nhằm tái hiện cái không thể nắm bắt, nỗ lực kể cái không thể kể. Một trong những đóng góp nghệ thuật tiểu thuyết thế kỷ này, người ta thường nhắc đến sự thể nghiệm kĩ thuật dòng ý thức phương Tây mà các đại diện tiêu biểu như Marcel Proust, James Joyce, Virginia Woolf, William Faulkner… Họ đã nỗ lực sáng tạo và góp phần hình thành một khuynh hướng văn học.
 
Văn học Việt Nam, trong đó có văn xuôi tự sự, đã đi được một chặng đường dài với nhiều thành tựu và kinh nghiệm nghệ thuật cụ thể. Trong nghiên cứu lịch sử văn học từ 1986 đến nay, vấn đề cấp thiết là việc tìm ra các phạm trù thẩm mỹ có ý nghĩa khái quát để định danh các dòng mạch, xu hướng đa dạng, phức tạp nhằm thay thế cho cụm từ "văn học đổi mới" vốn dĩ mang nặng tính chất xã hội học hoặc màu sắc chính trị. Bản thân thuật ngữ "văn học đổi mới", cho dù có nhấn mạnh vào bản chất thì vẫn không có sự định tính thẩm mỹ rõ ràng. Cách gọi tên chung chung, dần trở thành quen như thế có nguy cơ đánh đồng bản chất thẩm mỹ phức tạp, độc đáo của văn học giai đoạn sau năm 1986 với bản chất sáng tác văn học mọi thời. Hơn nữa, việc quy giản danh tính cả một giai đoạn văn học nhiều sắc vẻ, đa khuynh hướng vào một cách nói chung chung còn tiềm ẩn nguy cơ làm mất quyền sống của một số khuynh hướng cụ thể, và theo đó cũng làm bớt đi sự phong phú diện mạo lịch sử văn học.
 
Phân tích thực tiễn văn xuôi Việt Nam sau 1986, chúng tôi nhận thấy xuất hiện một khuynh hướng văn học có nhiều điểm tương ứng với văn học dòng ý thức thế giới. Hiển nhiên, "Dòng ý thức" là một trong nhiều khuynh hướng, chứ không phải khuynh hướng sáng tác duy nhất của văn xuôi Việt Nam sau 1986. Do vậy, đây cũng không phải là tên gọi duy nhất để thay thế cho cụm từ "văn học đổi mới". Theo quan sát của chúng tôi, khuynh hướng dòng ý thức là kết quả sự tương tác hai chiều giữa những thành tựu của giao lưu văn hóa và sức sống của các yếu tố nội sinh. Do sự thay đổi của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, sự chi phối của các quy tắc vận hành của văn hóa đương đại và những đòi hỏi của bản thân văn học, sự xuất hiện lối viết/bút pháp dòng ý thức trong văn xuôi đương đại là điều có thể lí giải được, thậm chí có thể xem là một tất yếu.
 
Khảo sát những tiểu thuyết có khuynh hướng dòng ý thức ở Việt Nam từ sau thời kỳ Đổi mới, bằng những sáng tạo và cách tân bút pháp, độc giả nhận thấy xuất hiện những mô hình nhân vật khác biệt với văn xuôi truyền thống, trong đó phải kể đến kiểu nhân vật "đi tìm thời gian đã mất".
 
Điều kiện xuất hiện cảm trạng "đi tìm thời gian đã mất"trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
 
Thời gian luôn là nơi cất giấu tất cả những ký ức bí mật của đời người. Bởi vậy, nó vừa là những gì hiện hữu, vừa như một kho tàng mang mật mã cá nhân. Nhờ nguồn chảy của ký ức, nhà văn hiện đại đã phục hồi dĩ vãng bằng ngôn từ nghệ thuật. Một đại diện tiêu biểu cho văn học dòng ý thức thế giới là Marcel Proust đã mong muốn người nghệ sĩ thoát khỏi quy luật thời gian, qua ngả rẽ nghệ thuật, nắm bắt được bản chất của thực tại nằm sâu, ngủ yên trong vô thức để tái tạo nó trong tư tưởng.
 
Trên thực tế, không có quá khứ nào là đơn thuần, tĩnh tại, siêu hình và biệt lập. Quá khứ không thể có môi trường tồn tại nào ngoài hiện tại, cái hiện tại hôm nay (bây giờ), cái hiện tại cũng là ngày mai (hôm sau). Nói cách khác, chỉ có hiện tại mới có khả năng nhận diện quá khứ vì hiện tại là quá khứ được nối dài. Cuộc sống là một sự đồng hiện kỳ vĩ, tinh vi, nghiệt ngã và cũng vô cùng thú vị. Cuộc sống là quá trình, và vì chúng không có trật tự trước sau không thể chặt đứt, chia đoạn được. Ngay cả khi tiếp nhận gián tiếp những gì từ quá khứ xa xưa thì toàn bộ cái quá khứ nối dài mang tên hiện tại cũng chi phối mạnh mẽ bản thân con người.
 
Trong văn học lãng mạn Việt Nam 1930 – 1945, Nguyễn Tuân đi khơi lại đống tro tàn của dĩ vãng, tìm lại những cái đẹp ngày qua đã một thời vang bóng. Cảm tưởng của người đọc khi gấp sách lại là ngậm ngùi, tiếc nuối một cái gì đã mất hút vào xa xưa. Hoang mang, bế tắc trước cuộc sống nhưng không có lối thoát, nhân vật tìm về cái “thời vàng son” của quá khứ. Trên con đường về "thu trước xa lắm lắm” đó, nhà văn tìm thấy một lối thoát cho tâm hồn mình. Nguyễn Tuân đi vào dĩ vãng với thái độ của một người đi tìm cảm giác lạ, đi tìm cái đẹp thuần túy của nghệ thuật. Nhân vật trong sáng tác của thời kỳ viết Vang bóng một thời  là hạng người thanh cao, sống nhàn hạ, biết hưởng thụ hoặc những lãng tử giang hồ và những nghệ sĩ ngông đời. Tất cả họ đều chung đặc điểm là lối sống lập dị, cầu kì. Kiểu tính cách này xuất hiện là do mâu thuẫn giữa khả năng và hiện thực.
 
Văn xuôi đương đại (trong đó chủ công là tiểu thuyết) tồn tại kiểu nhân vật nếm trải, con người được cuộc đời dạy bảo nên trưởng thành về mặt tư duy, nhận thức. Thông qua hành trình kiếm tìm thời gian đã mất, một số nhân vật nhìn lại con đường mình đã đi qua, họ nuối tiếc những khả năng không trở thành hiện thực và nhận thấy mình đã đánh mất bản thân. Mỗi người có một sự nuối tiếc và ám ảnh khác nhau, nhưng dù có cố gắng, họ vẫn không thể buông xuôi để sống với hiện tại và tương lai. Chính vì thế, hành trình tìm lại quá khứ đã mất diễn ra liên tục và trở thành nhu cầu tự nhiên, thường trực của mỗi cá thể.
 
Những dấu hiệu đặc trưng của chủ đề và thế giới nhân vật
 
Trên thế giới, các nhà văn viết theo khuynh hướng kỹ thuật dòng ý thức cũng đề cao tầm quan trọng của hồi ức: “Con người là tổng thể của các ký ức” (M. Proust), “Con người là tổng thể mọi quá khứ của họ” (W. Faulkner). Trong văn xuôi hiện đại Việt Nam, tái hiện hồi ức đang được các nhà tiểu thuyết coi là phương thức tối ưu để phản ánh các sự kiện vi mô của quá khứ, thực hiện những cuộc du hành vào mê cung của hoài niệm.
 
Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, hồi ức là những dòng chảy âm thầm, triền miên. Nó kéo dài thành nỗi trăn trở trong đời sống nội tâm nhân vật. Dù thế giới “hiện hữu” thường ngày hay thế giới “tàn phai”, người đọc đều thấy xuất hiện kiểu hiện thực dang dở. Đó là chuỗi hồi ức nhiều bất hạnh, đau buồn, tồn tại như một dòng chảy xuất phát từ những rạn nứt trong tâm hồn. Nhân vật mang trong mình nhiều hoài niệm, và với họ, sự kiện quá khứ đã in dấu ấn không thể xóa nhòa. Nó xâm nhập cả đời sống hiện thực và tâm linh, những sự vật hiện hữu và những tiếng nói vô hình. Kí ức đan xen, cài lẫn vào nhau, bị ngắt quãng bởi hiện thực, khiến nó chỉ còn là những mảnh vụn. Nhờ chiều sâu vô thức, nhân vật trên hành trình kiếm tìm quá khứ, đã chắp nối, xâu chuỗi chúng, tạo thành dòng chảy bất tận. Hồi ức không chỉ khôi phục cái dĩ vãng đã mất mà còn phục nguyên hiện tại đang chảy trôi, mai một, đang ở thì hiện tại chưa hoàn thành.
 
 Sự thể hiện dòng hồi ức của nhân vật trong các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương tạo cho tác phẩm giá trị vạn năng. Sự khôi phục thì hiện tại của quá khứ chủ yếu được nhà văn thể hiện bằng dòng suy tư triền miên của nhân vật. Hồi ức hiện lên ấn tượng trong tiểu thuyết Trí nhớ suy tàn. Tựa đề tác phẩm gợi nhắc hai yếu tố là trí nhớ (ký ức) và sự suy tàn của trí nhớ (thời gian). Cô gái (nhân vật em) hầu như chỉ sống miên man trong khoảng thời gian sáu năm về trước. Cây điệp vàng đã chứng kiến lời tỏ tình, nụ hôn đầu nồng nàn của hai người, trở thành dư ảnh gợi nhắc quá khứ. Nó đang hiện hữu, tức là quá khứ vẫn chưa thể xóa nhòa, mặc dù hiện tại, một người đã ở “bên kia quá vãng”, còn một người “trí nhớ đang suy tàn khủng khiếp”. Trong Người đi vắng, sự hồi tưởng thầm lặng chảy, đồng hiện trong tâm trí của nhiều nhân vật cùng một lúc. Tìm đến ký ức đó, nhân vật như được sẻ chia để lấy lại niềm an ủi không có trong thực tại. Ở Những đứa trẻ chết già, những người sắp bước sang bên kia thế giới đắm mình vào miền xa xăm của dòng kí ức. Những sự kiện trong quá vãng luôn đồng hành bên cuộc đời của họ nên ở những giờ phút cuối cùng, nó vẫn miên man cuộn sóng. Thời gian, không gian vô định tồn tại trong nỗi nhớ của Khẩn dành cho Kim. Hồi ức về Kim gắn liền với những kỷ niệm đẹp và không gian mơ hồ lãng mạn của kí ức (Ngồi). Bởi thế, nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thường sống phần lớn trong không - thời gian tâm tưởng.
 
Quá khứ để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí nhân vật "đi tìm thời gian đã mất", nó trở đi trở lại trong hồi tưởng, tạo thành chuỗi phi logic của những hình ảnh, sự kiện và cảm xúc. Dòng chảy bất định ấy có khi bình lặng đi bên cuộc đời, rất khó “suy tàn”; ở những nhân vật khác, kí ức lại tồn tại như một thế giới có khả năng lấn át thực tại. Sống phần lớn với thời gian kí ức, những người sống xa quê như Thuận bao giờ cũng cồn cào một nỗi nhớ, dễ thấy điều này trong tác phẩm Chinatown… Một người mẹ và một đứa con bị kẹt lại trên một chuyến tàu điện ngầm ở xứ người. Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi (chừng khoảng 2 giờ đồng hồ theo lời kể tác giả), người phụ nữ tha hương ấy đã thả ký ức của mình vào những ngày còn đi học; về một chặng dài của cuộc đời không phẳng lặng của bản thân trong thế giới không hoàn nguyên. Nhà văn coi đó là điểm tựa cho những suy tư, triết lí trước ngổn ngang sự đời, cho dù đôi lúc không hiển hiện nhưng lại là một dấu mốc ngầm để nhà văn so sánh với cuộc sống hiện tại. Có lẽ không ai cần kí ức và bị ám ảnh bởi nó bằng những người lưu vong. Với họ, dĩ vãng là điều kiện mang tính bản thể luận. Tác phẩm văn học hải ngoại có một thứ ngữ pháp của lòng hoài cảm, nỗi nhớ nhung miền quá khứ xa xôi đã trở thành nguyên tắc chủ đạo để triển khai nội dung cốt truyện, xây dựng cốt truyện và tổ chức tình tiết.
 
Cảm trạng đi tìm thời gian đã mất còn xuất hiện ở những người lính trở về sau chiến tranh như Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng - Chu Lai), Kiên (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh), Quy (Chim én bay - Nguyễn Trí Huân)... Trong hành trình lội ngược dòng quá khứ, mỗi người bị chiến tranh chà nát theo một cách riêng, họ mang trong lòng một cuộc chiến tranh của riêng mình. Kiên bấn loạn trong đời sống thực tại: say khướt suốt ngày, viết những trang văn không đầu không cuối. Với nỗi ám ảnh và niềm day dứt bủa vây, anh đã lựa chọn con đường ra đi về miền quá khứ, sống với hồi tưởng để mong gặp lại những đồng đội, ngày tháng khốc liệt, tri nhận giá trị của tình yêu và đã tìm lại chính mình. Hai Hùng sau chiến tranh đã rơi vào trạng thái chấn thương tinh thần nặng nề. Trên hành trình tìm lại những ngày đã qua, tình cờ gặp lại những người bạn cũ, nay đã đổi thay rất nhiều. Anh gặp lại Ba Sương, người phụ nữ chính tay anh đã chôn cất. Sự ám ảnh quá khứ buộc nhân vật lật giở những trang nhật ký cá nhân để kiếm tìm sự thật đã bị giấu kín về cuộc đánh tráo hình hài giữa hai chị em Ba Sương. Quá khứ trong anh đã có dịp sống dậy hùng tráng nhưng cũng đầy đau thương.
 
Hành trình tìm về quá khứ cũng đón nhận bước chân của những nhân vật đã trải qua những thăng trầm của cuộc sống, đã trải nghiệm và mất mát: đó là nhân vật "tôi" trong Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng), Chinatown (Thuận), Vũ Nguyên trong Cuộc đời dài lắm (Chu Lai)... Trong hoàn cảnh đặc biệt, họ hồi tưởng lại quá khứ, nhìn nhận và phán xét, gom nhặt những mảnh vỡ của tâm hồn mình... Trong Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, nhân vật người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng "tôi" nhớ lại quá khứ của mình và thuật lại các sự kiện. Quá khứ và hiện tại luôn đồng hiện trong những giấc mơ tỉnh - thức và những cơn ác mộng bủa vây tâm trí. Độc giả nhận thấy những sự kiện chính trong cuộc đời nhân vật đã đan xen, trộn lẫn bằng một sợi dây kết nối vô hình. Khó có thể tách bạch được đâu là sự kiện của hiện tại, đâu là quá khứ. Tìm lại chính mình là tâm thức khởi nguồn từ sự hoang mang của con người trước những "đại tự sự" bị sụp đổ. Chân lý, niềm tin bị vỡ thành nhiều mảnh, con người không tin vào bản thân, bất khả tín trước cuộc đời, quay lưng với hiện tại để trở về với nhân bản nguyên sơ. Đó là một thái độ tiêu cực nhưng mang đầy tính nhân văn trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
 
Với tiểu thuyết Sông, Nguyễn Ngọc Tư đã gửi gắm vào nhân vật khát vọng kiếm tìm, khát khao được sống là chính mình. Hệ thống nhân vật với hành trình lội ngược dòng quá khứ để kiếm tìm bản ngã xuất hiện tương đối nhiều. Nhân vật chính xuất hiện trong truyện là Ân, mở đầu câu chuyện, anh sắp xếp đồ đạc để chuẩn bị cho chuyến du khảo tới thượng nguồn sông Di, hoàn thành cuốn kí sự mà "sếp" giao phó. Ngoài ra, anh còn có mục đích cá nhân là ra đi với hy vọng học được cách quên. Nhưng trên hành trình ấy, ý định ban đầu của Ân đã vô tình biến mất. Chuyến đi đã giúp anh tìm kiếm được những chân lý thuộc về bản ngã từ quá khứ mờ xa mà chính anh chưa bao giờ chạm tới. Khoác tấm áo của một tiểu thuyết du khảo, nhà văn gửi thông điệp mong muốn mỗi cá nhân phải khẳng định sự tồn tại của mình, tìm cách vượt lên sự vô nghĩa, trống rỗng, tầm thường và tẻ nhạt của cuộc sống thường nhật.
 
Chức năng thẩm mỹ của văn học dòng ý thức
 
Một điều dễ nhận thấy, dòng ý thức đã trở thành một thủ pháp chủ công chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật của các tiểu thuyết trên. Nó tồn tại như những yếu tố hình thức góp phần khơi mở nội tâm sâu kín của nhân vật trung tâm.
 
Ở những tác phẩm viết theo lối “dòng ý thức”, hiện thực được phản ánh qua những ý nghĩ, suy tư, cảm xúc của nhân vật với sự việc được cố ý sắp xếp lộn xộn, mù mờ, lúc đứt đoạn, khi rõ nét. Sự di chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện sang nhân vật, đặc biệt là điểm nhìn bên trong, cho phép thể hiện rõ nhất những vùng sâu kín của ý thức, vô thức con người; khiến mạch kể của nhân vật trung tâm và người trần thuật đan xen, mờ nhòe vào nhau.
 
Trong dòng chảy ý thức nhân vật, người đọc thấy tư tưởng, suy cảm của nhân vật không đứng im một chiều thụ động mà luôn có sự đối thoại, tranh biện xung quanh  vấn đề. Bất kỳ tiếng nói nào cũng được giao thoa với âm điệu của tiếng nói khác, trong lời của nhân vật này lại đồng vọng tiếng nói của nhân vật khác, lời tác giả đồng vọng ý thức và giọng điệu nhân vật. Bản chất đối thoại của ý thức con người cho thấy họ “không trùng khít với bản thân mình” và điều này gắn liền với tính đa thanh, phức điệu trong tác phẩm tự sự thế kỷ XX. Từ đó, có sự thuyên chuyển “ý chỉ” (chữ dùng của M. Bakhtin) của tác giả từ hệ thống ngôn ngữ này sang hệ thống ngôn ngữ khác, hòa “ngôn ngữ chân lý” với “ngôn ngữ đời sống”, nói điều của mình bằng ngôn ngữ khác, nói điều của người khác bằng ngôn ngữ của chính mình. Như vậy, tính năng động của tư tưởng cũng đồng thời kéo theo sự năng động của ngôn ngữ. Ngôn ngữ ở đây linh hoạt, không bị gò bó, mang màu sắc cá thể đậm nét. Khi nhân vật sống trong dòng ý thức, những phát ngôn độc thoại nội tâm không có bất cứ rào cản nào, con người ta không bị cảnh giới bởi bất cứ điều gì. Ngôn ngữ mang tính trực tiếp, giản dị, tự nhiên, không nhằm thông báo sự kiện mà chủ yếu diễn tả ý nghĩ, cảm giác, những biến động trong thế giới nội tâm nhân vật nên có ảnh hưởng đến cấu trúc ngữ pháp của văn bản.
 
Sức mạnh của dòng ý thức trong tác phẩm tự sự đã đưa người đọc đến với ý nghĩ của nhân vật trong lúc ý nghĩ đó đang hình thành. Nó đặt người đọc vào tình thế đồng thời với hiện tượng đang diễn ra, tạo nên khả năng lôi cuốn người đọc. Những khoảng lặng trong đời sống tâm lý là điểm nhà văn tạo nên khoảng trống để người đọc đồng sáng tạo, thể hiện sự bình đẳng trong quan hệ tác giả - độc giả. Với thủ pháp nghệ thuật này, các nhà tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã góp phần cách tân nghệ thuật tự sự truyền thống, đem lại những góc nhìn mới về hiện thực và con người.
 _____________
 
*Th.s, Giảng viên Ngữ văn, trường Cao đẳng Hải Dương, đang NCS tại Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), chuyên ngành: Lý luận văn học
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}