Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sự kiện:

 

Kỷ niệm 125 năm thành lập tỉnh Thái Bình

Văn hiến | Thứ Ba, 17/03/2015 13:00 GMT +7
   Ngày 16 tháng 3 năm 2015, Tỉnh ủy Thái Bình phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đồng tổ chức hội thảo khoa học chủ đề “Thái Bình – 125 năm hình thành và phát triển”.
 

Đồng chí Nguyễn Hồng Diên - Phó bí thư thường trực, chủ tich UBND tỉnh Thái Bình 
với các nhà nghiên cứu Trương Sỹ Hùng, Nguyễn Văn Huy, Dương Trung Quốc và Nguyễn Thanh
 
 Trong lời khai mạc và nêu giới hạn hội thảo, ý kiến của hai đồng chí Phạm Văn Sinh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh và đồng chí Nguyễn Hồng Diên, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đều thống nhất nêu rõ: Tỉnh Thái Bình thành lập đến nay (21/3/1890 – 21/3/2015) mới được 125 năm; nhưng từng mảnh đất đất và con người Thái Bình đã tồn tại hàng nghìn năm cùng với những chặng đường lịch sử thăng trầm của cộng đồng dân tộc Việt Nam và thế giới. Hình ảnh bản đồ tỉnh Thái Bình ngay từ khi mới thành lập đến nay gần như con rùa vàng từ biển Đông vừa thoát mình leo lên đất liền mang lại ánh hào quang rực rỡ cho một vùng quê đất nước.125 năm hình thành và phát triển,Thái Bình ngày nay đã và đang mang sức sống mới, diện mạo kinh tế, chính trị và văn hóa có nhiều đổi mới. Có được những thành quả tốt đẹp ấy là nhờ các thế hệ cán bộ lãnh đạo của Đảng bộ và nhân dân Thái Bình lúc nào cũng cần cù chịu khó, lăn lộn, trăn trở với biển lúa, biển người và cả biển Đông nữa mà bền bỉ, déo sức vững một niềm tinn theo Đảng, Bác Hồ, không ngừng phát huy nội lực của mình, cùng cả nước kiên trì cách mạng.
 
Với gần 50 bài tham luận khoa học và nhiều góc độ lý giải khoa học, khách quan tại hội thảo các tác giả đã đưa ra được những số liệu thống kê thiết thực, những luận cứ lịch sử chính xác minh bạch luận giải, thuyết phục, được dư luận đánh giá cao.Nhân dịp này, tạp chí văn hiến giới thiệu bài nghiên cứu khá quan trọng của nhà nghiên cứu Trương Sỹ Hùng nêu một vấn đề được nhiều người quan tâm, đã được trình bày tại hội thảo. 
          
Dưới đây là một bản tham luận trong Hội thảo nói trên
 
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA DANH THÁI BÌNH TỪ KHI MỚI THÀNH LẬP TỈNH
 
Trương Sĩ Hùng
 
         Nhìn lại lịch sử hình thành địa danh Thái Bình từ khi chính thức là tên một tỉnh, trong lòng đất nước Việt Nam là cần thiết. Mỗi địa danh ra đời theo phân cấp hành chính quốc gia dù có xuất nhập tên gọi, chu vi, diện tích dù được mở rộng hay thu hẹp do nhu cầu phát triển kinh tế và văn hóa xã hội của từng thời điểm lịch sử nhất định, thì những danh nhân văn hóa, những thành tựu kinh tế, chính trị vẫn đọng lại dấu ấn lịch sử trong những lát cắt đồng đại, giữ mãi niềm tự hào chính đáng, nó trở thành sức mạnh nội lực vĩnh cửu cho từng thế hệ kế tục. 
         Theo biên niên sự kiện "Ngày 21 tháng 3 năm 1890, toàn quyền Đông Dương Jules Piquet (Juy-lơ Pi-kê) ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình. Địa bàn tỉnh Thái Bình gồm: phủ Thái Bình, phủ Kiến Xương (được tách từ tỉnh Nam Định) và huyện Thần Khê (được tách từ tỉnh Hưng Yên và đã nhập vào phủ Thái Bình). Tỉnh lỵ tỉnh Thái Bình đặt tại phủ Kiến Xương, bên sông Trà Lý."(1)
             Bốn năm sau, ngày 28 tháng 11 năm1894, "toàn quyền Đông Dương lại có nghị định mở rộng địa bàn tỉnh Thái Bình: cắt hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà (thuộc phủ Tiên Hưng tỉnh Hưng Yên) sáp nhập vào tỉnh Thái Bình, lấy sông Luộc làm ranh giới giữa hai tỉnh Thái Bình và Hưng Yên. Hai huyện Hưng Nhân và Duyên Hà ở về hữu ngạn sông Luộc. Như vậy địa bàn tỉnh Thái Bình bao gồm phần đất của hai tỉnh Nam Định và Hưng Yên tạo nên."(2) 
          Lẽ ra, từ 1890 trở đi, các văn bản hành chính phải ghi tên tỉnh Thái Bình, song thực tế lại không phải như vậy. Để thấy vấn đề ngày càng sáng tỏ, trước khi ghi nhận những thành tựu nghiên cứu địa danh tỉnh Thái Bình cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thì dù nhiều ít ở cấp độ nào sách xưa dấu cũ vẫn gợi mở những ý tưởng khoa học thuyết phục.
           Vào thế kỷ XV khi Nguyễn Trãi viết Dư địa chí thì địa danh Thái Bình chỉ là 1 phủ, được đề cập đến trong một tổng thể phủ Tân Hưng: "có bốn huyện, 270 xã; huyện Ngự Thiên có 51 xã; huyện Thanh Lân có 43 xã; huyện Duyên Hà có 42 xã; huyện Thần Khê có 34 xã. Phủ Thái Bình có bốn huyện, 187 xã; huyện Quỳnh Côi có 42 xã, 1 thôn; huyện Phụ Dực có 35 xã, 2 châu ; huyện Đông Quan có 50 xã, 1 trang; huyện Thụy Anh có 60 xã, 1 thôn, 1 trang,  (...) Phủ Kiến Xương có 3 huyện, 162 xã; huyện Thư Trì có 59 xã; huyện Chân Định có 65 xã; huyện Vũ Tiên có 38 xã." Điều ghi nhận và đánh giá chung về thổ nhưỡng những nẻo đường xưa thì "Đất vùng Sơn Nam bằng phẳng, cao ráo, cấy lúa thì thích hợp, nhân công làm lụng hơn các lộ khác. Các triều phí dụng nuôi quân đều nhờ ở đấy."(3) Với bấy nhiêu chữ, tương đương với hai câu văn chính luận, Nguyễn Trãi mượn lời Lý thị  đã đặc tả được những nét điển hình nhất của một vùng quê đất nước - thời Lê - đương đại thuộc trấn Sơn Nam, mà về sau đến cuối thế kỷ XIX những miền đất ấy sẽ trở thành tỉnh Thái Bình. Những trang sử oanh liệt đánh giặc cứu nước từ thời Hai Bà Trưng với danh tướng Bát Nàn, khởi nghiệp nhà Trần từ đất thiêng Thái Đường, A Sào, Phụ Phượng, thời Lê- Nguyễn với những đóng góp xuất sắc của nhà bác học nông thổ Lê Quy Đôn...về sau đều làm nổi bật truyền thống đó.   
         Gần 400 năm sau Đồng Khánh địa dư chí (4) (1866-1867) lại nhắc đến địa danh Thái Bình. Thái Bình lúc đó vẫn chỉ là một phủ gồm 3 huyện: Đông Quan, Thanh Quan, Thụy Anh và một phân phủ Thái Bình, gồm hai huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực; thêm trọn cả 4 huyện: Vũ Tiên, Chân Định, Thư Trì, Tiền Hải của phủ Kiến Xương, thuộc tỉnh Nam Định; cùng với các huyện Duyên Hà, Hưng Nhân, Thần Khê kiêm lý của phủ Tiên Hưng, thuộc tỉnh Hưng Yên. Tháng 12 năm 1851 "dồn vào và rút bớt các phủ, huyện, châu thuộc hạt các tỉnh (...) tỉnh Hưng Yên (...) huyện Hưng Nhân giao cho huyện Duyên Hà kiêm lý; phân phủ Khoái Châu trước đã đặt thì bớt đi."(5)Thời Lý trở về trước, phủ Tiên Hưng có tên gọi là hương Đa Cương 多岡鄕. Thời Trần đặt tên là phủ Long Hưng 龍興府. Nhà Hồ đổi tên là phủ Tân Hưng 新興府.Thời thuộc Minh đổi tên là phủ Trấn Man 鎭蠻府.Thời Lê lấy lại tên phủ Tân Hưng; đến đời Kính Tông vì kiêng tên húy vua Lê Duy Tân (1600-1619) nên phủ Tân Hưng được đổi là phủ Tiên Hưng 先興府(ở đây không tính huyện Tiên Lữ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên).Phủ lỵ Tiên Hưng đóng ở địa phận hai xã Cổ Quán và Lễ Xá, tổng Cổ Quán, huyện Thần Khê. Xung quanh phủ lỵ đắp thành đất, chu vi 271 trượng 2 thước, cao 2 thước, dày 1 trượng. Bên ngoài thành đất có hào rộng 1 trượng 6 thước, sâu 4 thước. Một cửa tiền cao 1 trượng 2 thước. Một cửa tả, một cửa hữu đều cao 1 trượng. Bốn góc thành mỗi góc đều đặt một pháo đài. 
     Phủ hạt phía đông giáp huyện Đông Quan (thuộc tỉnh Nam Định, cách 14 dặm). Phía tây giáp sông Nhị Hà, đối bờ với huyện Nam Xương (thuộc tỉnh Hà Nội, cách 21 dặm). Phía nam đến địa giới huyện Thư Trì (thuộc tỉnh Nam Định, cách 5 dặm). Phía bắc đến địa giới huyện Quỳnh Côi (cách 15 dặm). Đông tây cách nhau 15 dặm. Nam bắc cách nhau 20 dặm. 20 tổng nay nằm trong đất Thái Bình.
    Các tác gia công trình khảo cứu địa dư còn ghi nhận về đặc điểm khí hậu huyện Tiên Hưng rằng: "Tháng giêng tháng hai trời ấm áp. Tháng ba thường mưa phùn. Mùa hè tháng tư, tháng năm nắng gắt, tháng sáu mưa nhiều, nước sông dâng to. Mùa thu từ tháng bảy về sau gió mát (tục gọi là gió may). Tháng tám đôi khi có bão. 
   Tục ngữ có câu:
Mồng 9 tháng 9 có mưa
Thì con đi sớm về trưa mặc lòng
Mồng 9 tháng 9 không mưa
Thì con bán cả cày bừa mà ăn(6) 
 
     Mùa đông tháng 10 tháng 11 có gió bấc thổi, rét buốt. Tháng chạp bắt đầu bớt rét." Và biết bao thế hệ các dòng họ người Thái Bình cổ thời ở vùng đất Tiên Hưng xưa "phần nhiều làm nghề nông, ít người buôn bán","hai huyện Duyên Hà, Thần Khê thường luôn được mùa"."Dân các xã ven sông thường trồng khoai, đậu, cà, rau củ, vừng, mía, kê, đay. Có giống cà ngon không huyện nào bằng. Ba xã Xuân Trúc, Kiều Thạch, Quan Khê huyện Hưng Nhân có nghề dệt chiếu cói. Vườn nhà thường trồng cây chè bạng. Ven đê thường trồng vải, nhãn, thanh trà, ổi ... để bảo vệ thân đê. Nhiều người sinh sống bằng nghề chài lưới đánh cá. Huyện Thần Khê nhiều người hào hiệp, nhưng hay tranh chấp kiện tụng."(7) 
     Chánh phân phủ Thái Bình gồm 5 huyện. Phủ Thái Bình kiêm lý huyện Đông Quan; thống hạt huyện Thanh Quan, Thụy Anh và phân phủ Thái Bình kiêm lý huyện Phụ Dực, thống hạt huyện Quỳnh Côi. Phủ lỵ phủ Thái Bình thời Nguyễn "đặt ở xã Kinh Lũ, mặt hướng về phía nam. Xung quanh phủ lỵ đắp thành đất, dài rộng mỗi chiều đều 45 trượng, cao 7 thước, 2 tấc; mặt thành rộng 1 thước 5 tấc, chân thành rộng 1 trượng 5 thước, chung quanh có hào rộng 4 trượng, sâu 3 thước. Phủ hạt phía tây giáp phủ Kiến Xương, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía bắc giáp tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp biển cả."(8)Phủ Thái Bình thời Lý tên là hương Thái Bình 太平鄉, thời Trần là lộ An Tiêm 安暹路, thời thuộc Minh là huyện Thái Bình 太平縣 thuộc phủ Trấn Man. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đặt tên là phủ Thái Bình 太平俯. Thời Tây Sơn vì kiêng húy vua Quang Trung, phủ Thái Bình đổi tên là phủ Thái Ninh. Thời Nguyễn lấy lại tên phủ Thái Bình. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) tách hai huyện Quỳnh Côi, Phụ Dực để lập phân phủ Thái Bình. Quốc sử quán triều Nguyễn chép: "những phủ tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết như tri phủ Tiên Hưng kiêm lý huyện Thần Khê, thống hạt huyện Hưng Nhân và Duyên Hà(...) Tri phủ Thái Bình kiêm lý huyện Đông Quan, thống hạt huyện Thụy Anh; đồng tri phủ kiêm lý huyện Phụ Dực,thống hạt huyện Quỳnh Côi." (9) Năm Tự Đức thứ 4 (1851) tách huyện Thanh Quan của phủ Kiến Xương nhập vào phủ Thái Bình. Nhận thức khái quát nặng theo quan điểm Nho giáo, Phan Huy Chú đã viết: "Phủ Thái Bình ở phía đông trấn Sơn Nam. Huyện Thụy Anh sát đến cửa biển, phong cảnh đẹp, nhân vật nhiều; huyện Phụ Dực, Quỳnh Côi, Đông Quan cách biển hơi xa, nhân vật đều cứng cỏi. Về người khoa mục thì huyện Phụ Dực nhiều hơn, rồi đến huyện Đông Quan, huyện Quỳnh Côi, huyện Thụy Anh."(10)  Với cách nhìn nhận đánh giá có phần võ đoán, nhóm biên giả Đồng Khánh địa dư chí cho rằng: "Ba huyện trong phủ phong tục đại khái giống nhau. Riêng huyện Thụy Anh ở ven biển, dân chúng phần nhiều làm nghề đáng cá. Xã Vạn Đồn có nghề đan lưới cá, xã An Chỉ giỏi nghề dệt vải mịn. Theo Thiên chúa giáo gián tòng chỉ khoảng 1/10 (...)"đều nhiều lúa thu, ít lúa hè; xen trồng dâu, đay, khoai, đậu. Duy huyện Thanh Quan dệt vải trắng nhiều hơn các huyện khác. Đất huyện Thụy Anh hợp với trồng cây thuốc lào."(11)
    Phân phủ Thái Bình 太平分俯 được thành lập năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) trên cơ sở hai huyện Quỳnh Côi và Phụ Dực tách ra từ phủ Thái Bình,"phủ lỵ đóng ở địa phận xã Dục Linh", "cả hai huyện trong phân phủ đều thuần hậu, chất phác. Nhà nông nhiều, học trò ít, không có người làm thợ và đi buôn. Theo Thiên chúa giáo có 12 xã, thôn gián tòng (...) Huyện Phụ Dực tất cả đều là ruộng cấy lúa thu, có đặc sản là cây nam sài hồ. Huyện Quỳnh Côi lúa thu cũng nhiều, có ít lúa hè, có nhiều cât củ đậu."(12)  
        Phủ Kiến Xương 建 昌府 có tên từ thời Trần. Niên hiệu Khải Đại thứ 1 (1403) Hồ Hán Thương đổi tên là phủ Kiến Ninh 建 寧府. Quang Thuận thứ 10 (1469) thời Lê đặt lại là phủ Kiến Xương, gồm 3 huyện: Thư Trì, Chân Định, Vũ Tiên. Năm Minh Mệnh thứ 9 (1828) lập thêm huyện Tiền Hải. Minh Mệnh thứ 12 (1831) nhập thêm huyện Thanh Quan, tách ra từ phủ Tiên Hưng. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) lại tách huyện Thanh Quan nhập sang phủ Thái Bình.
     "Phủ Kiến Xương ở về phía đông tỉnh thành (tỉnh Nam Định cũ - T.S.H). Đường thủy đi xuôi dòng chừng nửa ngày thì đến, ngược dòng thì mất chừng một ngày. Đường bộ đi mất già nửa ngày. Phủ kiêm lý huyện Vũ Tiên, thống hạt ba huyện: Thư Trì, Tiền Hải, Chân Định. Phủ lỵ đặt ở địa phận xã Kỳ Bố huyện Vũ Tiên; xung quanh đắp lũy đất dài rộng mỗi chiều 45 trượng, cao 7 thước 2 tấc. Mặt thành rộng 5 thước, chân thành rộng 1 trượng. Ngoài thành trồng tre xanh, có hào rộng 4 trượng, sâu 3 thước. Phủ hạt phía đông giáp phủ Thái Bình, phía tây giáp phủ Xuân Trường, phía nam giáp biển lớn, phía bắc giáp tỉnh Hưng Yên.
     Đông tây cách nhau 20 dặm. Nam bắc cách nhau 53 dặm (...) Phong tục các huyện Thư Trì, Chân Định, Vũ Tiên đại khái cũng như các nơi khác. Duy Tiền Hải là huyện mới lập, ở sát vùng biển, giọng nói của người dân thô nhanh, người ta thường gọi là "giọng miền biển". Theo Thiên chúa giáo ước chừng 1/10 dân số(...) Sản vật nhiều ruộng cấy lúa thu, ít lúa hè. Chân Định có nghề dệt đũi. Chân Định, Thư Trì có muối, mắm rươi." Thời khí "nóng lạnh vừa phải. Chỉ có vài nơi gần biển có nhiều chướng khí, mùa hè oi bức, mùa đông rét buốt. Lúa thu xuống cấy vào tháng 6, đến tháng 10 thì gặt. Lúa hè cấy vào tháng 12, tháng 5 năm sau thì gặt."(13)
      Tháng 3 năm Thành Thái thứ 2 (1890) chia đặt các tỉnh đạo mới ở Bắc Kỳ. Trích các phủ huyện Thái Bình, Kiến Xương tỉnh Nam Định lập thành tỉnh Thái Bình.(14) 
       Đầu thế kỷ XX, Phó bảng Phạm Văn Thụ (1866 - 1930) đã viết Thái Bình phong vật chí năm Canh Tý (1900) - niên hiệu Thành Thái thứ 12 - trùng với dịp kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh Thái Bình - khi ông đương chức tri phủ huyện Tiên Hưng. Tác giả viết bằng chữ Hán, nhưng vì là quan chức đương thời Pháp trị nên trong sách có nhiều "gợn sạn" khi dùng đại từ nhân xưng ở ngôi thứ hai. Đối lập với những thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp, Phạm Văn Thụ gọi Bang Tốn, Đốc Đen, Đốc Nhưỡng, Lãnh Nhàn... là "giặc" phạm tội "phanh thây nướng xác dân chúng"; ông lại xu phụ thực dân Pháp.Tiếp thu cách đặt chương mục của các bộ sách Đồng Khánh địa dư chí, Đại Nam dư địa chí ước biên, Đại Nam nhất thống chí ...và các mục theo yêu cầu đặt ra của sở liêm phóng Bắc Kỳ, Phạm Văn Thụ đã sớm có những ghi chép chi tiết về lịch sử, kinh tế, chính trị đương đại. Dựa trên cơ sở đã, đang và sẽ đảm nhiệm các chức vụ  tri phủ các huyện: Thư Trì (1893), Thần Khê (1894), Duyên Hà, Phụ Dực (1895); Tri phủ các phủ: Kiến Xương (1896 - 1898) Tiên Hưng (1898 - 1903); Án át tỉnh Thái Bình (1904 - 1908)...Tuần phủ Thái Bình (1913 - 1920), về cuối đời ông tỏ ra hối hận trong những trang hồi ký.(Ngô Đức Thọ - Lời dẫn khi dịch Thái Bình phong vật chí). 
       Song, có công trình sử học quốc gia lại vẫn chưa có ghi nhận mới. Hai mươi năm sau khi có quyết định thành lập tỉnh Thái Bình, sách Đại Nam nhất thống chi vẫn viết về các phủ, huyện, xã, thôn...của Thái Bình vẫn thuộc tỉnh Nam Định. Trong Biểu dâng sách ngày 8 tháng 12 năm Duy Tân thứ 3 (1910) có viết: "Chúng tôi được lĩnh các chức tổng tài, toản tu... ở quốc sử quán, kính tâu về việc vâng mệnh làm sách Đại Nam nhất thống chí đã xong, nay xin trình dâng."(15) Mặc dù Phàm lệ đã nêu 30 nguyên tắc biên soạn sách đã cho biết: "Sách này được biên chép từ năm Thành Thái thứ 18 (1906) về trước, cho nên những việc từ năm thứ 19 (1907) về sau đều không đăng tải."(16) Hơn nữa, bản khắc in Đại Nam nhất thống chi được làm vào năm 1910, nghĩa là sách viết hoàn chỉnh khi tỉnh Thái Bình đã hiện diện 17 năm và khi bản khắc in sách này ra đời 20 năm, nhưng các sử thần vẫn quên hẳn sự kiện trọng đại như vậy.Và ở đoạn cuối của mục viết về Thành lập và thay đổi của tỉnh Nam Định, Đại Nam nhất thống chí viết: "Năm Tự Đức thứ 4 (1851), bỏ phân phủ Thiên Trường, Kiến Xương, lại giảm quan lại bốn huyện (...) phủ Kiến Xương kiêm coi huyện Thư Trì, huyện Chân Định kiêm coi huyện Tiền Hải, phủ Thái Bình kiêm coi huyện Thụy Anh. Nay lĩnh bốn phủ, hai phân phủ và 18 huyện."(17)
       Rõ ràng là các nhà sử học thời Nguyễn do Cao Xuân Dục làm tổng tài đã cố tình "bỏ quên" sự kiện toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Thái Bình năm 1890. Trước khi viết bài biểu dâng sách Đại Nam nhất thống chi khoảng hai năm, năm 1908 "Duy Tân năm thứ 2 ngày 14 tháng 11 năm Mậu Thân, Phụ chính đại thần, thái tử thiếu bảo, hiệp biện đại học sĩ, lĩnh học bộ thượng thư, quốc sử quán tổng tài kiêm quốc tử giám, quản tu thư cục An Xuân nam, thần Cao Xuân Dục kính ghi lời tựa". Sách Đại Nam dư địa chí ước biên cũng chỉ tóm lược theo tư liệu đã được chần đi, soát lại từ Đồng Khánh địa dư chí và Đại Nam nhất thống chí biên soạn cách nhau gần 50 năm, và vẫn không chịu ghi nhận sự hiện diện của tỉnh Thái Bình đã được thành lập từ năm 1890. Đó là quan điểm ấu trĩ của các nhà Nho yêu nước, ngầm căm ghét chế độ bảo hộ thuộc địa của thực dân Pháp mà chưa có phương thức đấu tranh trực diện, chưa biết cách tập hợp lực lượng để tạo thành sức mạnh vật chất và tinh thần sáng suốt để đánh thắng ngoại xâm. Các tác giả đã tảng lờ, cố tình quên hay nói cách khác là một cách phản đối yếu ớt, không công nhận nghị định thành lập tỉnh của chính phủ bảo hộ, do một nhóm đình thần hiện đang làm việc tại Huế thể hiện.
       Việc ghi nhớ những sự kiện có liên quan đến tỉnh Thái Bình là một tất yếu lịch sử do nhu cầu thực tế đòi hỏi của từng thời điểm cụ thể. Mặt khác sự nhu nhược, nhượng bộ đến thất bại hoàn toàn của vua quan nhà Nguyễn, đã nghiễm nhiên trao chủ quyền nhà nước vào tay thực dân Pháp; cùng với xu thế chung của sự phát triển kinh tế và văn hóa toàn cầu, đương nhiên việc thành lập tỉnh Thái Bình không ai phủ nhận được. Khác với cách nhìn nhận hẹp hòi đó, có người đã kịp thời ghi nhận. Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện có Thái Bình địa dư ký 太平地輿記 - ký hiệu A - 500 là cuốn sách đầu tiên viết về Thái Bình với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh. Có thể sách này được viết vào khoảng sau năm 1907 một vài năm vì ở phần viết về cầu cống ở huyện Vũ Tiên có nói rõ một sự kiện:"Cầu Lạc Đạo làm bằng sắt năm 1900, đến năm 1907 xây lại thành cầu gạch, có cửa cống đóng tháo nước." Nếu tạm thời chấp nhận như vậy thì bất chấp quan niệm bảo thủ của các sử gia triều đình ở Huế, một nhà nho chưa rõ tên đã chính thức viết một cuốn sách địa chí tỉnh Thái Bình khá sớm, ít nhất là đi trước các tác giả Đồng Khánh địa dư chí, Đại Nam nhất thống chí và Đại Nam thực lục trên dưới 30 năm.
       35 năm sau (1925) tên tỉnh Thái Bình vẫn không được các sử gia của triều đình nhà Nguyễn nhắc đến. Có lẽ là bất khả kháng, nên chỉ thấy một tư liệu trong Đại Nam thực lục- Chính biên đệ thất kỷ chép sự kiện: "Bề tôi bộ Lại tâu xin tuân chiểu điều khoản trong ân chiếu nhân lễ tứ tuần đại khánh, ban thưởng cho những người thuộc nông giới, thương giới (...) Nguyễn Trí Phúc người Thái Bình mở thương cục, lĩnh môn bài hạng nhất, kế nhận làm cầu đường, đê điều ở các tỉnh Bắc Kỳ đều đã hoàn thành, lại giúp công trái dựng trường học khoảng 20.000 đồng, đều xin thưởng hàn lâm viện biên tu. Nguyễn Hữu Bản lĩnh môn bài hạng nhất mua bán dầu lửa, xin thưởng hàm Hàn lâm viện kiểm thảo (...) vua đều cho."(18) Dường như câu văn cũng tránh dùng từ chỉ địa danh tỉnh Thái Bình một cách chính thức, mà chỉ viết chung chung là "người Thái Bình."      
      Tuy nhiên, năm 1926 nhà in Lê Văn Tân ở Hà Nội đã xuất bản sách Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của nhóm tác giả Đỗ Đình Nghiêm - Ngô Vi Liễn - Phạm Văn Thư, có mục viết riêng về tỉnh Thái Bình.
       Viết bài tựa cho quyển sách, học giả Phạm Quỳnh tỏ nỗi vui mừng: "Trời đã sinh ra giống Việt Nam ta ở trong một cõi sơn hà tốt đẹp như thế này, khí thiêng của sông núi có khi tan rồi có khi tụ, có lẽ nào người mình cứ yếu hèn mãi hay sao? Cuộc đời biến đổi, thế sự thăng trầm, nhưng núi sông vẫn còn đó trơ trơ, không bao giờ mất được. Nòi giống ta ắt cùng với non sông này sống lâu muôn tuổi: há phải lo chi?"(19)Chính các soạn giả trong Nhời dẫn cũng đã bộc lộ tâm tư: "Hiện nay chỉ có mấy quyển địa dư gồm cả Đông Pháp viết bằng Pháp văn mà thôi; chưa có quyển nào viết bằng quốc văn và nói riêng từng tỉnh một, thế thì về khoa địa dư học tài nào cho phổ thông được."(20) 
         Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ đã biên khảo  ngắn gọn, khá đầy đủ những thông tin cơ bản của 23 tỉnh, 4 đạo và 2 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng. Phần viết về tỉnh Thái Bình như sau:
Tỉnh Thái Bình
 
     Vị trí và diện tích: Tỉnh Thái Bình bắc giáp Hải Dương, tây và nam giáp Nam Định và Hà Nam, đông giáp vịnh Bắc Kỳ, tây nam giáp Hưng Yên. Diện tích đo được 825.000 mẫu ta (2.970 km vuông).
 Địa thế: Thái Bình là một tỉnh đồng bằng. Đất lắm phù sa ở các sông bồi đắp lên, nên ruộng tốt lắm.
   Sông ngòi: Thái Bình nhiều sông thiên tạo và sông đào lắm.Nhưng có ba con sông lớn nhất là sông Hồng Hà, sông Luộc và sông Trà Lý.
   Sông Hồng Hà chảy qua Thái Bình độ 82 km, tự làng Mỹ Xá (Hưng Nhân) đến Đoan Đông trại (Tiền Hải). Về  trung lưu thì có ba chi là sông Bông Khê, sông La Khê và sông Lạc Đạo; về quãng thứ ba là chỗ sông Liêm Giang và giáp bể thì có bốn chi lưu là sông Lưu Giang, Lộc Giang, sông Lân và sông Đông Giang. Về tả ngạn sông Hồng Hà lại còn có ba chi lưu rất tiện lợi về đường giao thông là: sông Luộc, sông Trà Lý và sông Lân.
   Sông Luộc làm giới hạn cho tỉnh Thái Bình trong một khoảng độ dài 50km, chảy qua huyện Hưng Nhân, Duyên Hà, Quỳnh Côi và Phụ Dực. Khi sông ấy chảy đến sông Hóa thì có:
    1) Sông Tiên Hưng dài 55 km. Sông này lại có mấy con sông như sông Tịnh Xuyên, sông Cô Quan, sông Văn Giang, sông Nguyên Xá, sông Do Kỵ, sông Cô Khúc và sông Bình Cách. 
     2) Sông Đan Hội dài 32 km.
     3) Sông Quỳnh Côi.
     4) Sông Diêm Hộ, dài độ 60 km. Sông này bắt đầu từ làng Hưng Nhương (Phụ Dực) và làng Đại Nam (Quỳnh Côi) rồi đến làng Hổ Đội và Bích Du thì chảy ra bể.
     5) Sông Hóa dài độ 40 km. Về hữu ngạn sông ấy có một chi lưu là lạch Ninh Cù, giao thông tỉnh lị với sông Luộc.
     6) Sông Trà Lý dài độ 63 km chảy qua thành phố Thái Bình và những huyện giàu nhất trong tỉnh. Sông ấy có lắm chi lưu, phần nhiều đã kể ở trên như sông Bồng Khê, sông La Khê, sông Lạc Đạo, sông Liên Giang, sông Long Hậu, sông Ngu Dung và lạch Thường Hô.
     Còn sông Lân là chi lưu sông Hoàng Hà về tả ngạn. Sông này suốt năm tàu bè đi lại được.
     Khí hậu tỉnh Thái Bình thì lành lắm. Về mùa hạ nhờ có gió bể thổi vào cũng được mát mẻ.
    Dân cư tỉnh Thái Bình được 884.000 người.
    Tỉnh lỵ Thái Bình và các phủ huyện: Tỉnh lỵ Thái Bình cách Hà Nội 110 km, cách Hải Phòng 75 km và cách Nam Định 19 km. Tỉnh Thái Bình chia ra làm: 
            1) 3 phủ: Kiến Xương, Thái Ninh và Tiên Hưng
            2) 9 huyện: Vũ Tiên, Thư Trì, Tiền Hải, Đông Quan, Thụy Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Duyên Hà và Hưng Nhân.
             3) 95 tổng và 820 xã.
    Đường giao thông
     Đường giao thông tỉnh Thái Bình phần nhiều là đường thủy. Những sông Hồng Hà, sông Luộc, sông Hóa và các chi lưu thuyền bè đều đi lại được tiện lắm.
     Đường bộ thì có các đê theo các dòng sông và nhiều đường đã lát đá. Lại có đường từ tỉnh lỵ đến Nam Định, Phủ Lý, Hưng Yên và Ninh Giang (Hải Dương) cùng là các đường từ tỉnh lỵ đến các phủ huyện.
     Đường tự Nam Định sang Thái Bình xa 19 km. Đường này từ phía đông bắc qua đò sông Hồng hà thì đến bến Tân Đệ ở làng Bổng Điền, thuộc huyện Thư Trì. Qua km số 12 thì đến huyện Vũ Tiên. Qua một cánh đồng than thán những ruộng thì km thứ 19 là tỉnh lỵ. Đi tàu thủy từ Hà Nội thì đến bến Tân Đệ, rồi lên đi bộ hay đi xe đến tỉnh.
    Canh nông: Đất Thái Bình phần nhiều là đất phù sa, đã lắm màu lại có nhiều sông ngòi, nên sự canh nông phát đạt lắm. Suốt trong tỉnh được đến 318.782 mẫu ruộng, một phủ Kiến Xương đã có đến 34.085 mẫu. Bởi thế Thái Bình là một tỉnh lắm gạo nhất Bắc Kỳ. Dân cũng trồng ngô, khoai, đậu, kê, lúa, chè, bông, dâu, cói, thầu dầu...v.v.
    Kỹ nghệ: Ở làng Hải Triều và Thanh Triệu thuộc huyện Hưng Nhân có hai xưởng dệt chiếu của người Trung Hoa. Ở làng Phương La và làng Nguyên Xá có nghề dệt tơ lụa nổi tiếng. Tại tỉnh có hội Đồng Ích mở một nhà máy tơ to lắm. Dân có nghề đánh cá, làm mắm và làm muối nữa.
    Thương mại: Trong tirng có đến 180 cái chợ, nhưng được 20 cái là to nhất, như chợ Mè, chợ Bông, chợ Cao, chợ Kẻ Sóc. Buôn bán thịnh nhất là gạo, thóc, ngô và chiếu.
     Những nơi cổ tích và thắng cảnh: 
          1) Chùa Keo. Chùa này làm ở địa hạt làng Dũng Nghĩa và Hạnh Nghĩa, thuộc huyện Vũ Tiên, thờ ông Khổng Minh Không là một vị quốc sư đời nhà Lý.
          2) Đền Bát Não phù tướng. Đền này làm ở làng Tiên La, huyện Duyên Hà, thờ bà Bát Não phù tướng , xưa làm tướng của hai bà Trưng Trắc và Trưng Nhị. Hội vào hôm 16 tháng 3 ta.
          3) Đền vua nhà Trần. Đền này ở làng Thái Đường, huyện Hưng Nhân thờ các vua nhà Trần. Năm nào cũng cứ đến ngày Kawfm tháng hai, 24 tháng Tư, Rằm tháng tám và 16 tháng Chạp thì dân làng làm lễ.
          4) Lăng nhà Hậu Lê ở làng Mỹ Đại huyện Hưng Nhân có lăng nhà Hậu Lê.Cứ đệ niên dân làng mở hội tự ngày mồng 9 đến ngày 1 tháng Giêng.
          5) Đền Quang Hoàng thái hậu. Đền này ở làng Quang Lạc, huyện Thư Trì thờ bà Quang Hoàng thái hậu về đời Hồng Đức. Cứ ba năm một lần, đếnngày 25 tháng ba thì dân làng mở hội.
           6) Đền vua Thủy Tề. Đền này ở làng Dao Phong, huyện Phụ Dực. Năm năm có hội từ 21 đến 26 tháng tám.
           7) Đền Triệu Vũ đế ở làng Thượng Gia, phủ Kiến Xương, hội về ngày mồng 1 tháng Tư.
            8) Đền Tư Long ở làng Đông Vinh, phủ Kiến Xương thờ đức An Hải Thiên Dương đại vương. Đệ niên có hội về ngày 11 tháng Giêng và tháng tám."
         Trên đây là đoạn trích đầy đủ sách Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ cuốn sách thứ hai viết riêng về mảnh đất và con người tỉnh Thái Bình, kể từ khi thành lập.
       Sách Tỉnh Thái Bình (1933) của Dương Thiệu Tường, cũng ra đời trong bối cảnh tương tự đã có nhận xét: "Tuy mới thành lập, Thái Bình là một trong những tỉnh lớn của xứ Bắc Kỳ." Nhận thức vấn đề tương đối biện chứng, trong lời tựa tác giả viết: "Trong tất cả năm châu, bất cứ một quốc gia nào cũng phải có sử để ghi lại những sự kiện đã qua. Tỉnh là một phân khu quan trọng của một nước, dân số ở đấy đông và khối lượng sự việc xảy ra không phải là ít. Đối với một tỉnh mà không hề có được một chú thích trong đó có ghi lại tất cả những điều chỉ dẫn về mặt địa lý, kinh tế và chính trị liên quan đến địa hạt, là điều sơ xuất có thể dẫn đến một hậu quả nào đó. 
        Nước An Nam vốn đã có bộ lịch sử, tên gọi là Đại Nam nhất thống chí trong đó có ghi chép tất cả các sự kiện lịch sử và những điều chỉ dẫn về mặt địa lý của cả nước. Nhưng tất cả những tài liệu cần thiết chỉ có thể được tập hợp trong khi xây dựng bộ sử, hơn nữa kể từ khi xuất bản sách này đất nước đã trải qua nhiều đổi thay sâu sắc, đã đạt được những tiến bộ lớn lao về mặt kinh tế, chính trị và rất nhiều sự kiện quan trọng đã xảy ra. Cho nên điều cần thiết phải bổ sung."(21)
       Một văn bản bằng tiếng Pháp Notice sur la province de Thaibinh - Ký hiệu M. 10372, Thư viện quốc gia Việt Nam rất có thể có niên đại những năm 1930, bởi trong Danh sách các công sứ Thái Bình tác giả có chép: "Colas quan cai trị hạng nhì từ ngày 3 tháng 11 năm 1933". Đặc biệt trong sách Chú thích về tỉnh Thái Bình là những số liệu thống kê về các hoạt động kinh tế và văn hóa xã hội sau hơn 40 năm thành lập rất chính xác, khoa học có giá trị sử liệu.
       Nhìn lại lịch sử một vùng quê đất nước trong phạm vi một tỉnh dưới góc độ địa chi là những căn cứ khoa học có giá trị vĩnh cửu. Những số liệu, những thành tựu văn hóa xã hội, những nhận thức về thiên nhiên, khí tiết, những biến động phạm vi cương thổ...đòi hỏi mỗi thời đều phải nhìn lại mà hướng tới nhằm hoạch định những chính sách tốt đẹp nhất hướng tới tương lai. 
        Nửa sau thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, tỉnh ủy, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân Thái Bình đã chỉ đạo các ngành các cấp sưu tầm, dịch thuật, tổng kết, biên soạn khá nhiều tài liệu về mảnh đất và con người từ tỉnh đến huyện, xã làm tư liệu để giáo dục truyền thống lịch sử vẻ vang của quê hương. Những công trình nghiên cứu cơ bản như: Lịch sử đảng bộ Thái Bình (Tập I - 1999, tập II - 2002, tập III - 2004), Văn học dân gian Thái Bình (1981) Danh nhân Thái Bình (Tập I - 1986, tập II- 1988, tập III- 1989 - 1985)... đã ghi dấu ấn đậm, đáp ứng kịp thời nhu cầu đòi hỏi bức thiết trong công cuộc đổi mới, hướng tới xây dựng một nền kinh tế - văn hóa giầu có, đậm bản sắc dân tộc. Đầu thế kỷ XXI có một số công trình đồ sộ về hình thức như: Văn chương Thái Bình 10 thế kỷ (2009), Địa chí Thái Bình (2010), Từ điển Thái Bình (2011)... nhưng đã bộc lộ nhiều hạn chế phương pháp sử dụng tư liệu khoa học.
       Kỷ niệm 125 thành lập tỉnh Thái Bình là một dịp nhìn lại và hướng tới tương lai; sao cho truyền thống tốt đẹp của văn hóa cổ của một miền quê đồng bằng ven biển tiếp tục được phát huy. Một bộ dịch thuật đầy đủ Toàn tập Lê Quý Đôn tầm cỡ bác học quốc tế, một bộ sưu tập Thơ văn yêu nước Thái Bình cỡ 3.000 trang. Một loạt các tác giả là các bậc tiền bối cách mạng (xứng đáng và đủ tư liệu in riêng) như: Nguyễn Văn Năng, Trần Cung, Đặng Châu Tuệ... đang chờ dịp có điều kiện gia nhập cuộc sống hiện đại. Có như vậy địa danh tỉnh Thái Bình ngày càng trở thành một địa chỉ đỏ, một khuôn viên rạng rỡ, xứng đáng là "một tỉnh gương mẫu về mọi mặt."
 
(1)(2) Viện sử học, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858 - 1918), Nxb. Giáo dục, H, 1999
(3) Viện sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H, 1969 - trang 199 - 200
(4) Viện nghiên cứu Hán Nôm, Đồng Khánh địa dư chí Nxb Thế giới, H,  2003
(5) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, H, 2007- Trang 230 - Tập VII
(6) Phạm Đức Duật - Trương Sỹ Hùng - Nguyễn Huy Hồng, Văn học dân gian Thái Bình, Nxb Khoa học xã hội, H, 1981
(7) Viện nghiên cứu Hán Nôm, Đồng Khánh địa dư chí Nxb Thế giới, H,  2003
(8) Viện nghiên cứu Hán Nôm, Đồng Khánh địa dư chí Nxb Thế giới, H,  2003, trang 337- Tập I
(9) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Nxb. Giáo dục, H, 2007- Trang 437 - Tập III
(10) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục, H, 2008 - trang 115, 116 - Tập I
(11) Viện nghiên cứu Hán Nôm, Đồng Khánh địa dư chí Nxb Thế giới, H,  2003- Trang 339 - Tập I
(12) Viện nghiên cứu Hán Nôm, Đồng Khánh địa dư chí Nxb Thế giới, H,  2003- Trang 45 - Tập I
(13) Viện nghiên cứu Hán Nôm, Đồng Khánh địa dư chí Nxb Thế giới, H,  2003- Trang 327-328 - Tập I
(14) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục đệ lục kỷ phụ biên, Nxb. Văn hóa- văn nghệ, TpHCM, 2011- Trang 110
(15) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Nxb Lao động, H,  2012- Trang 21 - Tập I
(16) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Nxb Lao động, H,  2012- Trang 25. - Tập I
(17) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Nxb Lao động, H,  2012- Trang 1125. - Tập II
(18) Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục- Chính biên đệ thất kỷ , Nxb. Văn hóa- văn nghệ, TpHCM, 2012 - Trang 253-254
(19)(20) Đỗ Đình Nghiêm -Ngô Vi Liễn - Phạm Văn Thư, Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ , Nhà in Lê Văn Tân Hà Nội - 1926 
(21) Nhiều tác giả, Tài liệu địa chí Thái Bình, tập IV, Sở VHTT&DL Thái Bình, 2009 
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}