Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Làng Cự Đà

Đông Tác | Thứ Năm, 29/01/2015 14:34 GMT +7
Làng Cự Đà cổ là tên gọi của 1 trong 3 thôn bao gồm: Khúc Thủy, Khe Tang, Cự Đà, thuộc xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ. Trong 3 thôn của xã thì Cự Đà là thôn có tuổi đời lâu nhất, những di tích còn để lại có niên đại khoảng 400-500 tuổi. Thậm chí khi tu sửa nền chùa làng Cự Đà đã phát hiện ra những viên gạch có hoa văn đắp nổi hình ô trám, hình đồng tiền, gạch múi bưởi được xếp từng hàng lớp, đặc trưng của các ngôi mộ thời Bắc thuộc cách đây hai mươi thế kỷ. Cự Đà còn là một thương hiệu nổi tiếng xa gần của 2 đặc sản là tương và miến.
 
 
Nét đẹp làng cổ
 
Làng trải dài dọc con sông Nhuệ ở đoạn ngoặt, tạo thành một tam giác tiếp giáp với thị xã Hà Đông ở phía tây, còn phía đông giáp với huyện Thanh Trì. Du khách đi theo tỉnh lộ 70A đến Cầu Bươu thì rẽ vào. Cầu đường sắt Cự Đà dài hơn 100 m bắc ngang sông Nhuệ, nối xã Tả Thanh Oai với xã Hữu Hòa.
 
Cổng ngõ nào cũng chạy ra đến bờ sông với những thềm gạch vươn tận mép nước. Quy hoạch tự nhiên của làng theo đúng mô hình “nhất cận thị, nhị cận giang” điển hình cho một làng Việt cổ vừa nông nghiệp vừa thương mại.
 
Mà làng Cự Đà đã có thời “phát” thật sự. Dấu ấn thịnh vượng được đắp nổi trên bệ cột cờ giữa làng, xây năm 1929, thời đó, làng nào có được cái cột cờ bề thế như vậy là hiếm lắm. Đến nay, đỉnh cột cờ vẫn tung bay cờ lễ hội làng.
 
Cự Đà cũng là ngôi làng có nhiều cái nhất. Ngay từ đầu thế kỷ 20, làng đã có điện thắp sáng, rồi nhà nhà trong làng đều được đánh số hệt như những ngôi nhà trên phố lớn.
 
Cổng nhà doanh nhân Cự Chân có số từ thời Pháp
 
Những năm 1920-40 của thế kỷ trước, người làng đua nhau ra Hà Nội lập xưởng, làm chủ nhà máy, chủ cửa hàng, tiệm buôn... khá đông. Một loạt tên tuổi các nhà giàu gốc Cự Đà lấy tên hiệu bắt đầu bằng chữ “Cự” như Cự Doanh, Cự Chân, Cự Phát...
 
Dấu tích của một thời làng thương mại ven đô giàu có còn để lại ở hai khối tượng cóc bằng đá xanh đặt ở bến sông cũ. Trên hai khối tượng còn khoét lỗ để đèn dầu. Đó là một loại “hải đăng” để thuyền bè buôn bán trên sông Nhuệ trong những đêm tối trời định vị đúng hướng mà ghé vào.
 
Trong một ngôi làng nhỏ, chiều dài hơn 1km rộng chưa đầy 500m từ lâu đã trở thành nơi giao thoa giữa những nền văn hóa với hai loại hình kiến trúc tiêu biểu - Nhà Việt cổ và những kiến trúc được xây từ thời Pháp thuộc. Chỉ tính riêng cái quỹ nhà “Tây” thôi cũng đã đủ để nơi đây trở thành di sản rồi.
 
Lối xuống bến sông nay người ta phơi rơm rạ và xây nhà bít hai bên. Cái xóm mới này có tên là xóm Con Cóc.
 
Cũng giống như những ngôi nhà cổ ở trên phố, ở Cự Đà, nhà cũng hai tầng, có ban công - đặc trưng của phương Tây, nghĩa là cửa vòm, gạch hoa lát cột, mảnh sứ đập ra ghép lại trang trí mặt tiền theo phong cách mosaic là “mốt” của một thời, nay ít nơi còn thấy, ngoài khu lăng mộ các ông Vua thời Nguyễn.
 
Nhà cổ thời Nguyễn giờ còn hơn ba chục chiếc, khung gỗ, lợp ngói ta, giếng nước mưa trong mát, tuổi từ hơn trăm năm trở lên. Trong đó có những ngôi nhà đặc biệt quý hiếm, trên câu đầu còn ghi niên đại “Tự Đức Giáp Tuất” (1874), nơi thờ cúng vẫn còn giữ nguyên võng vì và bộ giường thờ, ban thờ, bàn thờ...
 
Nhiều ngôi từ đường của các dòng họ như những tác phẩm nghệ thuật chạm khắc vô giá với những cuốn thư, cột, cửa đều làm từ gỗ và hoa văn tinh tế.
 
Các nhà khoa học Nhật Bản từng đến khảo sát ở đây đã đánh giá cao khối di sản vật thể này. Đáng chú ý nơi đây còn có di tích đàn tế bằng đá xanh mà người dân vẫn gọi là đàn tế trời đất, một dạng của đàn Xã Tắc thuộc loại đẹp nhất nước còn giữ được.
 
 
Băn khoăn bảo tồn và phát triển
 
Hiếm có một làng đồng bằng Bắc bộ nào còn lưu giữ đầy đủ di tích các thời suốt mấy trăm năm của người Việt như Cự Đà, nhưng đáng tiếc cho tới nay vẫn chưa được xếp hạng di tích.
 
Trong lúc nhiều cơ quan văn hóa đi xây dựng một mô hình làng Việt mới toanh, ở đâu đó, thì trớ trêu thay, làng Việt như Cự Đà, còn nguyên đặc trưng thì lại chưa được chú ý đúng mức. Nguy cơ các di sản kiến trúc trong làng bị xóa sổ bởi trào lưu đô thị hóa là có thật.
 

Bình phong nhìn ra sân và cổng
 
Chỉ trong nay mai thôi, toàn bộ hơn 100ha đất canh tác của làng sẽ phải nhường cho khu đô thị, khu công nghiệp sẽ được xây dựng kế bên. Có tiền bồi thường từ đất canh tác, người dân có thể phá nhà cũ, dựng nhà mới, bởi đã có một cơ quan quản lý nào “ra tay” bảo tồn quỹ nhà Việt cổ và nhà “Tây” ở đây đâu.
 
Đến ngay cả những người dân trong làng, rất ít người hiểu được giá trị của chính ngôi nhà mà mình đang sống. Muốn “yêu” trước tiên phải “hiểu”, chính vì thế, việc tuyên truyền cho người dân về giá trị của từng ngôi nhà, từng di tích là việc làm tiên quyết để hướng tới bảo tồn.
 
Có người dân đã tâm sự: “Ai phải ở trong những ngôi nhà với tuổi thọ hàng trăm năm mới thấu hiểu hết cái khổ. Khổ vì lúc nào cũng nơm nớp, chả biết nhà sẽ sập lúc nào. Diện tích nhà thì rộng, nhưng diện tích dành cho sinh hoạt lại hạn chế…”
 
Chính vì thế, nếu muốn gìn giữ và bảo tồn, các cấp chính quyền cần dành một quỹ đất hỗ trợ tái định cư để sự gia tăng dân số, nhu cầu về nhà ở không gây sức ép đối với dân làng. Quan trọng hơn, để di tích có được một sức sống thực sự, rất cần thiết phải phát triển du lịch.
 
Cũng đã đến lúc, cần phải tính đến một dự án lâu dài cải tạo, nạo vét lòng sông Nhuệ, để từ đó có các sản phẩm du lịch văn hóa là các di tích trải dọc hai bên bờ con sông vốn đậm đặc ngàn đời chất Việt cổ, mà Cự Đà chỉ là một dẫn chứng điển hình.
 
PGS.TS Trịnh Sinh (Viện Khảo cổ học)
 
Chạm trổ dưới vòm mái nhà
 
Xóm An Lạc cách xóm Đồng Nhân Cát 2 ngõ có ngôi nhà số 152 của gia đình ông Đinh Văn Tường, nằm ở vị trí 2 mặt đường đi, một phía là đường nhìn ra sông Nhuệ, một phía là lối vào xóm. Ngôi nhà 2 tầng đến nay đã trên trăm tuổi, tường, gạch, cổng, sân đều rêu phong. Tầng một ngôi biệt thự vẫn còn gìn giữ được gần như nguyên vẹn những bức phù điêu, họa tiết đắp nổi. Độc đáo nhất là nền gạch hoa làm bằng đá ghép mảnh nhỏ và những hoa văn trên tường trang nhã.
 

Mặt tiền một ngôi nhà nhỏ
 
Tuy nhiên, ngôi nhà cổ nhất của làng phải kể đến nhà bà Hai Chiếu, được xây dựng cách đây khoảng 300 năm. Cột, xà mang đậm yếu tố kiến trúc và mỹ thuật thời Lê (thế kỷ 18), còn cổng vòm và sân đã ít nhiều bị thay đổi.
 
(ảnh: TQ blog, Xóm nhiếp ảnh)
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}