Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Làng - Đơn vị cơ sở trong xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn

Hà Nhi | Thứ Sáu, 28/08/2015 10:35 GMT +7
Sở dĩ có khẳng định làng (đôi khi làng cũng là thôn) là một đơn vị cơ sở trong công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn là vì làng đáp ứng được những tiêu chí cơ bản của một cấp độ, một thiết chế tổ chức và hoạt động văn hóa ở nông thôn.
 


Từ nhiều năm nay, Đảng và Nhà nước luôn nhấn mạnh nhiệm vụ đưa văn hóa thâm nhập, thấm sâu vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Như vậy, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, rốt cuộc, cũng là tìm mọi phương thức, mọi giải pháp làm cho hoạt động văn hóa lan tỏa trong cuộc sống hàng ngày, làm cho giá trị văn hóa đến được với mỗi người dân và người dân ngày càng được tiếp xúc, hưởng thụ những hoạt động, những giá trị văn hóa ấy ngay tại nơi sinh hoạt hàng ngày của mình, ngay tại cơ sở của mình. Cơ sở ấy có thể là gia đình, nhà trường hay bất cứ một thiết chế nào trong hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Và đời sống văn hóa ấy được xây dựng, được diễn ra trên và trong những cấu trúc xã hội lớn và nhỏ. Trong những cấu trúc xã hội ấy, có làng ở nông thôn và phường ở đô thị. Ở đây, chúng tôi chú ý tới làng như một đơn vị cơ sở hoàn chỉnh để tiến hành xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn.
 
Sở dĩ có khẳng định làng (đôi khi làng cũng là thôn) là một đơn vị cơ sở trong công cuộc xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn là vì làng đáp ứng được những tiêu chí cơ bản của một cấp độ, một thiết chế tổ chức và hoạt động văn hóa ở nông thôn.
 
Thứ nhất, làng có vị trí địa lý, tự nhiên cơ bản ổn định, ít biến động.
 
Thứ hai, làng có một cộng đồng dân cư cơ bản ổn định.
 
Thứ ba, làng bước đầu có thiết chế, thể chế chính quyền ổn định.
 
Thứ tư, rất quan trọng, làng có một thiết chế văn hóa cơ bản đầy đủ: cơ sở vật chất, bộ máy quản lý và tổ chức hoạt động, các hình thức và loại hình hoạt động văn hóa.
 
Như vậy, làng ở Việt Nam là một địa bàn tụ cư ở nông thôn, một cộng đồng dân cư có đủ điều kiện để xây dựng một hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở. Những năm trước đây, chúng ta thường quan niệm về đơn vị cơ sở lớn hơn, quy mô hơn, vì thế mới có nhiều quan điểm về xây dựng văn hóa trên địa bàn huyện, trên quy mô xã… Nhưng càng ngày, thực tiễn và lý luận đều cho thấy rằng, trên một địa bàn rộng quá, hiệu quả đầu tư, hiệu quả hoạt động và khả năng hưởng thụ giá trị văn hóa của người dân không cao và nảy sinh nhiều bất cập. Thời gian gần đây, phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở nghiêng về sự nhỏ hóa để gia tăng hiệu quả đầu tư, hoạt động và hưởng thụ văn hóa của người dân. Làng, thôn, ấp, bản…, vì thế, được chọn là cơ sở để xây dựng đời sống văn hóa.
 
Tuy nhiên, cũng cần có sự phân biệt rất rõ rằng đời sống văn hóa ở cơ sở không hoàn toàn trùng lắp với đời sống văn hóa ở đơn vị cơ sở. Những cơ sở để xây dựng đời sống văn hóa thường bao gồm nhiều đơn vị cơ sở. Tính chất của từng cơ sở, từng đơn vị cơ sở cũng không hoàn toàn đồng nhất. Chẳng hạn như làng, thì cũng đã có không ít tính chất khác nhau. Có làng thuần nông, có làng ven đô thị, có làng đan xen nông dân và công nhân, có làng lương, giáo sống chung, có làng xen kẽ dân tộc nhiều người và dân tộc ít người chung sống… Đời sống văn hóa làng ở nông thôn, vì thế, ngoài những cái chung mang tính đồng nhất, còn có những khác biệt cơ bản so với đời sống văn hóa phường, phố ở đô thị.
 
Nông thôn là một trong những loại vùng kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta, có những đồng nhất cơ bản về nhiều mặt với các vùng khác (đô thị chẳng hạn), đồng thời, quan trọng hơn, có những khác biệt về bản chất trên nhiều phương diện. Có thể tìm thấy sự đồng nhất và khác biệt ấy trong vị trí địa lý, điều kiện sinh thái, lịch sử hình thành và phát triển, di sản văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ, phương thức làm ăn, đời sống văn hóa cơ sở… và nhiều phương diện khác. Sự đồng nhất đảm bảo cho vùng nông thôn như là một bộ phận thống nhất khăng khít của đời sống văn hóa cơ sở nói chung. Tính khác biệt tạo nên sự đa dạng văn hóa của vùng nông thôn so với các vùng khác, tuy nhiên, cùng gắn bó trong sự thống nhất của văn hóa Việt.
 
Vì thế, nghiên cứu, khảo nghiệm hay xây dựng đời sống văn hóa cơ sở vùng nông thôn phải dựa trên cơ sơ khai thác những đồng nhất và khác biệt đó.
 
Trước hết là sự đồng nhất, với những khía cạnh sau:
 
Trong quan niệm khoa học cũng như trong nhãn quan quản lý chung, nông thôn là một vùng văn hóa tương tự các vùng văn hóa khác. Nó phải đáp ứng và tuân thủ những cái chung như: tiêu chí vùng, những vấn đề văn hóa xã hội, hệ thống và mạng lưới hoạt động văn hóa, những loại hình hoạt động văn hóa cơ sở, những tiêu chí xây dựng cộng đồng, làng bản, gia đình văn hóa… trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.
 
Dù là vùng, miền nào, thì đó cũng là bộ phận một đời sống văn hóa chung, thống nhất và sự đồng nhất, trực tiếp hay gián tiếp, biểu lộ qua việc thực hiện mục tiêu phát triển của cả dân tộc, mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, làng, thôn, bản ấm no, gia đình hạnh phúc, cá nhân tiến bộ. Sự đồng nhất ấy là hết sức phong phú, ở đây, chúng tôi xin phép không dẫn ra nhiều và coi đó là cơ sở tất yếu để phát triển văn hóa nông thôn cũng như các dân cư sinh sống ở làng theo hướng đích chung của Đảng và Nhà nước.
 
Điều đáng quan tâm hơn cả là những khác biệt:
 
Đúng hơn, đây là những đặc thù của văn hóa nông thôn trên phạm vi cả nước. Chính điều này quy định sắc thái văn hóa riêng cũng như quy định phương thức, hình thức xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn, của nông thôn sao cho vừa đáp ứng định hướng chung, vừa phù hợp đặc thù riêng. Tuy nhiên, trong những khác biệt của văn hóa thôn làng so với văn hóa của các vùng khác, trong đó có đô thị ở Việt Nam, lại phải chú ý tới một cấp độ nhỏ hơn: sự đồng nhất và khác biệt của đời sống văn hóa tỉnh, địa phương này so với đời sống văn hóa tỉnh, địa phương khác.
 
Những khác biệt đó của văn hóa nông thôn, về cơ bản, được thể hiện ở một số khía cạnh sau đây:
 
Về địa lý tự nhiên: đây là vùng văn hóa châu thổ, đồng bằng trong tương quan với văn hóa núi, văn hóa biển…
 
Về cư dân: đây là vùng tụ cư đan xen đông đúc của rất nhiều tộc người, trong khi các vùng khác thuần nhất hơn về tộc người.
 
Về kinh tế xã hội: đây là vùng khó khăn, nghèo hơn về cơ sở kinh tế xã hội, giao thông… kém so với một số vùng khác, nhất là các đô thị trung tâm.
 
Về văn hóa: đặc trưng văn hóa châu thổ ven sông, văn hóa làng và sự đa dạng của các di sản văn hóa tộc người tạo nên nét văn hóa độc đáo, phong phú của vùng nông thôn với những nét chung của cả cộng đồng và nét riêng của từng đối tượng người. Đặc trưng văn hóa vùng ấy đòi hỏi có cách nhìn, cách đầu tư, cách xây dựng, phương thức hòa nhập riêng khi xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở từng làng và ở vùng nông thôn. Đáng chú ý, đây là vùng rất giàu có về di sản văn hóa vật thể và phi vật thể (ăn, mặc ở, kiến trúc, lễ hội, tín ngưỡng, văn hóa dân gian, nhạc cụ dân tộc, diễn xướng, du lịch văn hóa…), do đó, trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, đặc biệt trong xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, cần đặc biệt chú trọng đến tính đa dạng và giàu có này để có giải pháp phù hợp và đúng đắn…
 
Còn có thể nêu ra nhiều khía cạnh đồng nhất và khác biệt giữa vùng văn hóa nông thôn với văn hóa đô thị và các vùng văn hóa khác, cũng như giữa cộng đồng người này với cộng đồng người khác, song đây không phải là mục đích của bài viết này. Nhấn mạnh đặc trưng vùng cũng như nêu sự đồng nhất và khác biệt ấy, chúng tôi coi đó là cơ sở quan trọng để từ đó, chúng ta chú trọng một số vấn đề đặt ra trên thực tiễn khi tiến hành xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở vùng nông thôn nước ta.
 
Những vấn đề đặt ra trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn nói chung, và làng nói riêng, được thể hiện ở những khía cạnh sau:
 
Thứ nhất, cần một lần nữa khẳng định rằng, xây dựng và phát triển đời sống văn hóa ở cơ sở (các vùng miền, địa phương, các cơ quan, đơn vị, trường học…) là định hướng và chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Thực tiễn phát triển đời sống văn hóa cơ sở ở các vùng văn hóa, ở nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng, vùng biên và hải đảo…, với nhiều thành tựu nổi bật, đã minh chứng cho sự đúng đắn và phù hợp ấy. Tuy nhiên sự cào bằng, sự triển khai mô hình hóa một cách khá cứng nhắc, chưa thực sự chú ý tới đặc thù vùng miền hoặc tộc người đã khiến ở nhiều nơi đời sống sinh hoạt văn hóa ở cơ sở chưa thực sự có chất lượng cũng như thiếu sức thu hút quần chúng nhân dân. Có thể nói, có một sự chênh lệch trong triển khai và thực hiện chủ trương, phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở giai đoạn trước: mạnh ở đô thị, ở vùng đồng bằng mà yếu ở vùng núi, ở nông thôn… Có thể dẫn ra nhiều ví dụ từ thực tiễn chứng minh cho nhận định trên.
 
Rõ ràng, đã đến lúc cần chú trọng đến tính linh hoạt và đa dạng trong xây dựng mô hình thiết chế văn hóa ở các cơ sở (không chỉ nhà văn hóa như miền xuôi mà nhà sàn, nhà rông ở miền núi, không chỉ văn hóa làng, khu phố ở miền xuôi mà văn hóa buôn, bản, ấp…ở miền núi và tộc ít người… chẳng hạn). Nói tóm lại, tôn trọng, tận dụng tính đặc thù văn hóa vùng, văn hóa các cộng đồng người trong thực hiện chiến lược và định hướng chung về xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở, đặc biệt là văn hóa cơ sở ở nông thôn, một địa bàn rộng lớn, là một vấn đề hết sức quan trọng, cần được chú ý đúng mức.
 
Thứ hai, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở là một quá trình hai chiều. Một chiều là văn hóa sở tại, văn hóa của người dân mà họ cùng sống, cùng làm, tự thực hiện từ ngàn đời, phù hợp với truyền thống, phong tục, tập quán, quy ước, thói quen, địa dư… của vùng và của cộng đồng người. Dấu ấn văn hóa cộng đồng, làng, gia đình ở nông thôn được ghi nhận chủ yếu qua chiều hoạt động này. Đó, chẳng hạn, là trang phục từng cộng đồng người…, là ngôn ngữ, chữ viết, kiến trúc nhà ở, là lễ hội, tín ngưỡng, văn học, âm nhạc, văn hóa ẩm thực, là ứng xử văn hóa trong làng, trong gia đình, giữa các cá nhân… Một chiều khác là văn hóa mới được đem đến bởi các cấp quản lý văn hóa, phù hợp với định hướng và chủ trương mới của Đảng và Nhà nước về xây dựng văn hóa và đời sông văn hóa trên phạm vi cả nước. Có thể thấy đây là những hoạt động phần lớn mang tính chuyên nghiệp: các loại hình sân khấu chuyên nghiệp, chiếu bóng, phát thanh truyền hình, nhà văn hóa, thư viện… Người dân ở nông thôn cũng như các vùng văn hóa khác có nhu cầu về cả hai chiều, hai loại hoạt động đó.
 
Tuy nhiên, do gặp rất nhiều khó khăn về địa lý, kinh tế, xã hội, giao thông, thói quen thích ứng… so với các đô thị và thành phố, nên văn hóa chuyên nghiệp và mô hình thiết chế văn hóa mới khó và ít có điều kiện ăn nhập vào đời sống người dân nông thôn. Vì thế, bên cạnh việc đẩy mạnh chiều hoạt động đưa văn hóa về cơ sở thì vẫn cần coi khai thác chiều hoạt động tự quản của dân là cơ bản, quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn. Quan hệ hài hòa giữa hai chiều hoạt động này là một đòi hỏi thực tiễn, song, đến nay, ngoài việc đưa văn hóa tới người dân, cần đặt nặng việc tổ chức hoạt động văn hóa của cộng đồng, của gia đình phù hợp truyền thống và giá trị văn hóa vốn có của họ.
 
Thứ ba, di sản văn hóa truyền thống của vùng nông thôn nói chung, của từng cộng đồng người trong vùng nói riêng là hết sức to lớn và đa dạng. Di sản ấy đã được hình thành, phát triển, trao truyền qua nhiều thế hệ đến ngày hôm nay. Trong những di sản cổ truyền (từ xưa truyền lại) đó, có cả những giá trị văn hóa truyền thống (với ý nghĩa là những tinh hoa) và cả những gì hủ tục, lạc hậu, phản truyền thống. Vì vậy, quá trình sàng lọc để tìm ra cái hay mà phát triển, tìm ra cái dở để hạn chế, loại bỏ là quá trình hết sức quan trọng, cần thiết.
 
Để làm được điều này, sự có mặt cụ thể của công tác nghiên cứu khoa học là hết sức quan trọng. Vì vậy, cần có chương trình sưu tầm, nghiên cứu các di sản văn hóa của từng cộng đồng người, di sản văn hóa vùng nông thôn một cách sâu sắc, cụ thể để hoạch định, giữ gìn, phát huy những gì, hạn chế cái gì và loại bỏ cái gì. Bên cạnh sự định hướng về đường lối của Đảng và Nhà nước, việc sưu tập, nghiên cứu sâu sắc, đúng đắn sẽ tạo nên những định hướng khoa học, giúp ích cho việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, văn hóa cơ sở vùng nông thôn và từng làng xã.
 
Thứ tư, đặc thù đời sống văn hóa của người nông dân, sắc thái văn hóa vùng nông thôn quy định hàng loạt vấn đề trong xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở ở làng thôn. Đó là phương thức hoạt động, mạng lưới văn hóa, loại hình văn hóa, cán bộ văn hóa, phong cách quản lý, thiết chế văn hóa… trong đó thiết chế văn hóa là một vấn đề chúng tôi cho là có tầm quan trọng đặc biệt. Đó có phải là bê y nguyên mẫu hình nhà văn hóa miền xuôi đặt lên miền núi không? Đó có thể là nhà văn hóa kiểu nhà sàn không? Đó là trung tâm văn hóa huyện hay xã, hay là tụ điểm văn hóa ở thôn làng? Đành rằng việc xây dựng thiết chế văn hóa quy mô cho xã là điều đáng làm, song với địa bàn nông thôn khi mà làng và văn hóa làng ngày càng tỏ rõ vị thế quan trọng của nó, thì điều này cần xem xét cho phù hợp. Vả lại, thực tiễn nhiều năm xây dựng nhà văn hóa ở nhiều vùng miền và sự hoạt động không đúng công năng của nó đã cho chúng ta một bài học cần ghi nhớ. Do vậy, theo chúng tôi, nên xây dựng loại hình tụ điểm văn hóa làng với quy mô vừa phải, hình thức đậm tính dân tộc (nhà văn hóa, chợ văn hóa chẳng hạn) để người dân có thể đến đó sinh hoạt, biểu diễn và hưởng thụ những gì của mình, phù hợp với mình. Trên cơ sở đó, các cấp quản lý văn hóa đưa dần những nét văn hóa, những hoạt động văn hóa mới vào cho phù hợp…
 
Như bất kỳ một sự phát triển văn hóa nào, văn hóa cơ sở ở nông thôn, ở làng có rất nhiều vấn đề riêng và chung trong xây dựng và phát triển. Đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải quan tâm. Các vấn đề đó đang đặt ra trước mắt hàng ngày, hàng giờ. Trong hàng loạt vấn đề ấy, chúng tôi chú trọng đến 4 vấn đề sau:
 
Vấn đề linh hoạt và đa dạng trong xây dựng phương thức hoạt động văn hóa cơ sở dựa trên đặc thù văn hóa vùng và văn hóa cộng đồng người vốn phong phú và đa dạng của nông thôn.
 
Vấn đề về tính hai chiều của việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nói chung và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở địa bàn nông thôn nói riêng: chiều trên xuống, chiều dưới lên và quan hệ hữu cơ giữa hai chiều đó.
 
Vấn đề về kế thừa và lọc bỏ những di sản văn hóa cổ truyền ở nông thôn phù hợp định hướng của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
 
Vấn đề về sự lựa chọn phù hợp đối với phương thức hoạt động, cán bộ, mạng lưới… đặc biệt là thiết chế văn hóa ở cơ sở địa bàn nông thôn, nhất là thiết chế văn hóa làng, đảm bảo cho sự phát triển văn hóa và phát triển kinh tế ở nông thôn cả nước.
 
Đó là những vấn đề mà chúng tôi cho là cơ bản khi đề cập tới việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn. Hy vọng nó sẽ góp vào hệ vấn đề chung mà Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lý văn hóa đang quan tâm và đặt ra để giải quyết về mặt lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, khi mà mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng đều hết sức chú trọng tới việc xây dựng văn hóa ở từng đơn vị cơ sở để làm nền tảng cho phát triển, thì làng (văn hóa làng, làng văn hóa) chính là một đơn vị cơ sở phù hợp để có thể tập trung xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn cũng như đời sống văn hóa cơ sở trên cả nước./.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 351

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}