Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Lê Đại Cang kiến trúc sư hệ thống đê điều Bắc Thành

Viết Hiền | Thứ Năm, 03/10/2013 03:02 GMT +7
 
JPEG - 17.1 kb
Đê Sông Hồng chiều thu

Cuộc đời, sự nghiệp của Lê Đại Cang (1771 – 1847) trải qua nhiều đời vua nhà Nguyễn, từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, với bao thăng - trầm, vinh quang - cay đắng… Ông từng được quyền giữ ấn triện Tổng trấn Bắc thành, Binh bộ Thượng thư, Đô sát viện Hữu đô ngự sử; Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên, Tổng đốc An – Hà, bảo hộ Chân Lạp..., nhưng cũng từng bị cách chức, thậm chí bị đày xuống làm lính dõng… Song, điều đáng ghi nhận là dù ở bất cứ địa vị hay hoàn cảnh nào, Lê Đại Cang cũng để lại những dấu ấn sâu đậm trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, với phạm vi trải rộng khắp 3 miền Trung - Nam - Bắc. Chỉ riêng về lĩnh vực đê điều - trị thủy, Lê Đại Cang cũng chứng tỏ phẩm chất của một “kiến trúc sư” và là “chuyên gia trị thủy” xuất chúng với việc khai mở sông đào Vĩnh Điện ở Quảng Nam, kênh Vĩnh An nối sông Tiền với sông Hậu ở An Giang, đặc biệt là những đóng góp to lớn trong xây dựng và bảo vệ hệ thống đê điều ở Bắc Thành.

Hệ thống đê điều và vấn đề trị thủy ở Bắc Thành dưới thời nhà Nguyễn

Muốn đánh giá vai trò của Lê Đại Cang đối với hệ thống đê điều và việc trị thủy ở Bắc Thành, trước hết, cần tìm hiểu về vai trò, vị trí quan trọng của hệ thống đê điều và việc trị thủy ở Bắc Thành dười thời nhà Nguyễn, nhất là triểu Minh Mạng.

Chúng ta biết rằng, từ xa xưa, Việt Nam vốn là đất nước “thuần nông”. Vấn đề đê điều, trị thủy rất quan trọng, nhất là việc thủy chế, điều hòa nước từ các con sông lớn (trong đó có sông Hồng) và thực hiện việc đắp đê chống lụt, xử lý hạn hán… Nhiều triều đại phong kiến của nước ta đều chú trọng đến việc đắp đê, trị thủy ở vùng châu thổ sông Hồng, nhất là Bắc Thành. Tuy nhiên, từ đời Lê Trung Hưng trở đi, tình hình kinh tế, - chính trị - xã hội ở nước ta diễn biến phức tạp, trong đó nổi lên là những cuộc nổi dậy của nông dân… Vì vậy, việc đê điều, trị thủy ở Bắc Thành hầu như bị lãng quên. Đến thời nhà Nguyễn, vấn đề đê điều - trị thuỷ ở vùng châu thổ Bắc Hà mới được quan tâm trở lại. Nhà Nguyễn hiểu rất rõ rằng muốn xây dựng cơ nghiệp vững bền không gì khác hơn là lo cho dân“an cư lạc nghiệp”. Vì vậy, năm Quý Hợi (1803) khi vừa mới lên ngôi, vua Gia Long khi bắt tay vào việc ổn định chính trị, kinh tế đất nước, đa rất quan tâm đến việc đê điều trị thủy ở Bắc thành. Sách Đại Nam thực lục cho biết, các quan trấn thủ Bắc Thành đã tâu lên Gia Long, rằng: “Thế nước sông Nhị Hà rất mạnh, đê bên tả, bên hữu ven sông thuộc Sơn Tây, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng hạ nhiều chỗ vỡ lở, xin thuê dân sửa đắp để chống lụt mùa thu. Lại thủ đạo các trấn nhiều nơi ứ tắc, xin hạ lệnh cho trấn thần tuỳ thế khơi vét”. Vua theo lời tâu, cho đắp 7 đoạn đê mới, lại đắp bồi một đoạn đê cũ, chi hết 80.400 quan tiền…”.

Đồng thời, vua Gia Long đã xuống chiếu lệnh cho quan lại Bắc Thành phải điều trần về việc đê. Nội dung của chiếu viết: “Làm lợi bỏ hại là việc trước tiên của chính trị. Xét xưa sánh nay, phải sao cho đúng lẽ. Những huyện ở ven sông trong địa phương các ngươi từ trước đã lập đê điều để phòng nước lụt. Song nhân tuần đã lâu, hễ đến mùa lụt thì đê điều vỡ lở, lúa ruộng bị ngập, người và súc vật cũng bị hại. Bọn ngươi, người thì sinh ở đó, người thì làm việc ở đó, thế đất tình người đã từng am thuộc.

Vậy đắp đê và bỏ đê, cách nào lợi, cách nào hại, cho được bày tỏ ý kiến. Lời nói mà có thể thực hành sẽ được nêu thưởng”. Suốt thời gian trị vì, vua Gia Long luôn chú trọng đến việc đắp đê Bắc Thành. Năm Giáp Tý (1804), Gia Long sai quan lại Bắc thành lấy dân đi sửa - đắp đê, sau lại sai Võ Trinh đi trông coi và dụ rằng: “Việc phòng luật rất quan hệ, lợi hại đến đời sống của dân, trẫm rất chú ý, người phải cẩn thận”. Năm Bính Dần (1806), vua Gia Long đã chi 95.200 quan tiền để đắp 12 đoạn đê mới ở Bắc bộ. Năm Mậu Thìn (1808), vua cho đắp thêm 10 đoạn đê mới tại các nơi như Sơn Nam thượng tại các huyện Thanh Trì, Gia Lâm, Văn Giang, tổng cộng 1.500 trượng (1 trượng bằng 0,4m dài). Năm 1809, theo lời tấu của Đô chính Bắc thành, nhà vua lại cho đắp thêm hai đoạn đê mới và tôn cao hai đoạn đê cũ, chi phí hết 87.000 quan tiền. Đáng lưu ý, cũng năm 1809, vua Gia Long đã cho đặt chức quan Đê chính Bắc thành (chuyên coi về đê điều Bắc bộ), và cử Binh bộ Thượng thư Đặng Trần Thường làm Tổng lý và quan tham chính bộ Công Nguyễn Khắc Thiệu làm tham lý. Đồng thời, nhà vua dụ rằng: “Sông có đê, đời sống của dân quan hệ ở đó. Bọn người đi phải nên kính cẩn”. Từ năm 1809, vua Gia Long quy định: Cứ tháng 10 âm lịch hằng năm các quan phủ, huyện, trấn thuộc Bắc Thành phải lần lượt đến khám, quan đê chính khám lại. Đê nào nên sửa đắp thì xét định công trình lớn hay nhỏ. Nếu là công trình lớn thì sai người hợp cùng trấn thuê dân làm. Đều khởi công vào tháng giêng hoặc tháng 2, đến tháng 4 phải xong. Tháng 9 cùng năm ban hành điều lệ về đê điều ở Bắc bộ, trong đó quy định chi tiết về quy mô, nguồn nhân lực từng loại đê và chi tiết đến cả giá thành từng trượng, thước đất đắp đê….

Việc đê điều, trị thủy ở Bắc Thành vẫn tiếp tục là vấn đề nóng được các triều vua tiếp theo của nhà Nguyễn như: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… hết sức chú trọng. Theo đó, năm 1828, theo đề nghị của các quan, vua Minh Mạng đã quyết định tăng cường thêm nhân sự cho Nha môn Đê chánh. Đến thời Tự Đức, việc đắp đê, sữa chữa và khám xét đê được quy định cụ thể, chi tiết. Vua Tự Đức đã nhiều lần xác định cách thưởng phạt về sự phòng hộ đê và phân định trách nhiệm của các phủ, huyện, tổng, lý sở tại các nơi đê vỡ… Kết quả là từ năm 1809, hệ thống đê điều ở Bắc Thành có 239.933 trượng (tương đương 960 km), thì đến cuối thế kỷ 19 hệ thống đê này đã dài tới 2.400 km…

Đặc biệt là thời Minh Mạng (triều đại mà Lê Đại Cang được cử làm Đê chính Bắc Thành) vấn đề đê điều, trị thủy đã được đặt lên hàng đầu để “an dân”. Theo đó, dưới triều Minh Mạng (1820-1840), hầu như năm nào cũng có các công cuộc trị thủy lớn ở Bắc Thành. Thậm chí, có những công trình quy mô đến mức triều đình phải huy động hàng vạn người. Điều đáng nói, không chỉ tiếp tục duy trì các luật lệ thưởng - phạt về đê điều từ triều Gia Long, vua Minh Mạng còn bổ sung nhiều điều luật chặt chẽ, nghiêm khắc hơn. Cụ thể, năm 1827, từ vụ quan lại Bắc Thành thuê dân làm đê không đúng cách thức, vua Minh Mạng đã nghiêm khắc phê phán: “Việc đê quan hệ tới việc làm ruộng không nhỏ. Công việc sửa đắp, triều đình vốn không tiếc phí, làm không đúng cách thức là lỗi Hữu Ty”. Đồng thời, nhà vua còn dụ rằng: “Đắp đê là chống nước lụt cho dân yên ở, quan hệ lợi hại không nhỏ”. Vì thế, Hiệp trấn Sơn Nam Ngô Huy Viện đã bị cách chức, còn Tham hiệp trấn Vũ Tiến Huân thì bị đánh 100 trượng và phát đi làm lính cơ. Riêng Trấn thủ (cũ) Lê Công Lý mặc dù đã chết vẫn bị thu lại bằng sắc….

“Kiến trúc sư” của hệ thống đê điều - “chuyên gia trị thủy” ở Bắc Thành

Theo sách Đại Nam thực lục, tháng 9.1828, Lê Đại Cang được vua Minh Mạng cử giữ chức quan quản lý đê chính Bắc Thành. Trên cương vị này, Lê Đại Cang từng bước chứng tỏ mình là một “kiến trúc sư” và là “chuyên gia trị thủy” xuất chúng.

Sách này chép: “Sai Hữu Tham tri Hình bộ là Lê Đại Cương sung chức quản lý Đê chính, Vệ uý vệ Cường võ Ngô Tiến Đức sung chức Tham biện, Tri phủ Thiên Trường là Nguyễn Lý Nhân làm Viên ngoại lang ty Thận cần Đê chính”. Và còn ghi cụ thể hơn: “Cương vào bệ từ. Vua dụ rằng : "Việc chống lụt quan hệ rất lớn. Ngươi là người biết lẽ, trước kia việc hình ngục ở Bắc Thành, ngươi đến nơi là làm xong ngay. Nay trách nhiệm về Đê chính càng nặng nề. Lần này đi, nên hết lòng xếp đặt để cho nước chảy thuận dòng, cho dân càng mừng êm sóng thì công ấy chẳng nhỏ đâu".

Khong phụ lòng tin của vua Minh Mạng, chưa đầy 2 tháng sau ngày nhận nhiệm vụ, tháng 11.1828, Lê Đại Cang đã xây dựng kế hoạch củng cố và làm mới hệ thống đê Bắc Thành. Sách Đại Nam thực lục ghi nhận: “Đê chính thần là bọn Lê Đại Cương đi các trấn xem xét đê cũ, đê mới, thấy có chỗ nên đắp đê mới, có chỗ nhân đê cũ mà bồi đắp thêm, phàm 18 sở, đều là đại công trình cả, duy một sở mới Kim Quan thuộc Bắc Ninh dài hơn 890 trượng, đất ấy ruộng chiêm thấp ướt, thi công rất khó, xin đến thượng tuần tháng 12 năm nay khởi công, ngoài ra như 10 sở đê mới… thuộc Sơn Nam, Bắc Ninh, Nam Định cộng dài hơn 3.060 trượng; 7 sở đê cũ … thuộc Sơn Tây, Sơn Nam cộng dài hơn 3.590 trượng, đều xin đến hạ tuần tháng giêng sang năm khởi công. Vua y cho. Chi phí cả thảy hết hơn 175.500 quan…”. Tháng 12.1828, Lê Đại Cương được vua Minh Mạng thưởng 100 quan tiền do có nhiều nỗ lực trong thi hành trách nhiệm. Sách này chép: “Thưởng Quản lý Đê chính là Lê Đại Cương 100 quan tiền. Nhà vua thấy việc đê điều bận nhiều mà Tham biện là Ngô Tiến Đức lại ốm chết, duy một mình Cương làm, kể cũng khó nhọc, nên thưởng cho Cương…”.

Chính vì tầm quan trọng của hệ thống đê điều Bắc Thành và đánh giá cao vai trò của Lê Đại Cang, tháng Giêng năm 1829, vua Minh Mạng quyết định cho dựng Công đường Đê chính ở Bắc Thành tại khu vực cửa Nam thành. Đồng thời, nhà vua lệnh cho bộ Công rằng: “Việc sông bận nhiều, một mình Lê Đại Cương khó làm xong được. Trước sai Nguyễn Văn Khoa làm Tham biện, lại là tay mới, nên không phái thêm các viên giỏi việc cùng làm thì sợ được việc này hỏng việc kia. Nay mưa xuân bắt đầu việc đê chính là khẩn yếu, dẫu đã có người chuyên trách, nhưng việc nước thì sao”. Vì vậy, vua sai Chưởng cơ Lê Thuận Tĩnh và nguyên thự Hiệp trấn Nam Định là Hoàng Quýnh lãnh nhiệm vụ giúp việc Đê chính Bắc Thành.

Tháng 4.1829, khu vực Bắc Thành liên tục có mưa, vua Minh Mạng yêu cầu quan Đê chính trình tấu về tình trạng đê điều và nước mưa. “Bọn Lê Đại Cương tâu rằng: “Việc đê phòng, công trình lớn có 18 sở, trong tháng có thể xong, sở công trình nhỏ thì hiện đương thực đắp. Vả tự cuối xuân đến nay, mưa không liên miên, xem xét thuỷ chí cũng chưa tràn quá bờ sông” (Đại Nam thực lục). Tuy nhiên, bất ngờ đã xảy ra, vì chỉ vài ngày sau, nước sông đã dâng lên trên 10 thước. Quá lo lắng, thành thần Phan Văn Thuý bèn cấp báo về triều. Vua Minh Mạng xem tờ tâu xong liền bảo bộ Hộ rằng: “Mới qua tiết tiểu mãn, chưa đến kỳ nước lớn tam phục mà nước sông đã lên mau như thế, lòng ta rất lấy làm lo. Phải phi dụ ngay cho bọn Lê Đại Cương xem việc đê có chỗ nào quan yếu chưa đắp xong, thì báo gấp cho Phan Văn Thuý lập tức phái biền binh ngày đêm sửa đắp, để khỏi chậm trễ không kịp việc” (sdd). Và Lê Đại Cang là người chủ trì chính trong việc đắp đê mới ở Kim Quan với chiều dài trên 140 trượng.

Đến tháng 8.1829, việc đắp đê ở Bắc Thành đã cơ bản hoàn thành và đoạn đê Kim Quan do Lê Đại Cang chỉ huy cũng được đắp vững chắc. Sự việc này được Lê Đại Cang tâu lên Minh Mạng: “Việc đắp đê năm nay công trình lớn 18 sở, công trình nhỏ hơn 1.000 sở, tuy chín lần nước lên to, mà đều giữ vững, không có nạn tràn ngập. Nay kỳ trước mùa thu đã qua, nước lụt sắp hết, nước sông hơi trong, thật là nhờ Hoàng thượng chăm lo nghĩ cho dân, trù tính chu đáo. Cho nên lòng trời thuận giúp, sông ngòi linh thiêng mà có sự mừng nước yên lặng này”. Xem xong, nhà vua cả mừng và liền “bút phê” rằng: “Mở xem sớ chưa hết, mà vui vẻ xiết bao, sâu cảm ơn trời, lại nhờ phúc của thần giúp đỡ, nên nước lụt vụ hạ lên vọt khác thường mà giữ được dòng sông thuận nẻo, việc vỡ đê nguy hiểm ở Kim Quan thường xảy ra và cuối cùng đã giữ được vững chắc không lo. Việc yên sông này công lao các khanh cũng đáng thưởng đó”.

Không chỉ là “kiến trúc sư” của hệ thống đê điều, Lê Đại Cang còn là người kiến tạo việc nạo vét sông, khơi thông dòng chảy của sông. Theo sách, Lê Đại Cang đã dâng sớ lên vua Minh Mạng và đề suất: “Việc đắp đê do lai xa lắm. Vài năm gần đây, nước sông làm hại, Hoàng thượng đã nhiều lần sắc bảo kinh dinh công việc đê phòng, không điều gì là không rõ ràng đầy đủ. Bọn thần trước đi hội làm, thường hỏi thăm kỳ mục các địa phương về chỗ hưng lợi trừ hại, thì đều nói rằng ngoài việc đê phòng không còn cách khác. Thứ nữa thì đến bỏ đê và khai đào dòng sông mà thôi. Thiết nghĩ từ đời Đinh Lý về trước, chưa có đê phòng, dân địa phương đào giếng cày ruộng, có hại về nước lụt hay không thì chưa được rõ. Từ đầu đời Trần sai các lộ đắp đê để chống lụt, dân gian từ đấy đến những nơi thấp trũng mà nhóm ở làm ăn, cho nên các đời theo đó mà sửa đắp, xem là điều cốt yếu trong việc giữ dân và vệ nông, người ta mới nói rằng sau khi đã có đê không thể bỏ đê được nữa. Cho nên lời bàn bỏ đê, bọn thần chưa dám chắc là định luận. Duy việc đào sông thì từ xưa đã có. Nay xem đầu nguồn của các đường sông ở Bắc Thành, ở Hưng Hóa thì có sông Thao, sông Đà, ở Tuyên Quang thì có sông Lô, sông Đáy, đến hai huyện Tiên Phong, Bạch Hạc thuộc Sơn Tây thì bốn sông hợp lưu vào sông Nhị, rồi sau chia chảy ra biển.

Khoảng đó, dòng sông quanh co khúc khuỷu đến lúc thình lình mưa lụt, thế nước chảy mạnh, qua gò tràn đống rất mau, không thể ngăn được. Đê giữ hai bên bờ, khúc nọ ôm khúc kia, thế nước ngoằn ngoèo như chứa trong ống vậy. Nếu đê không giữ nổi thì tràn vỡ ngay, vì cớ nước chảy không thông vậy. Vả lại sông Nhị là sông xung yếu của Bắc Thành : bên hữu có sông Hát chia nhánh đổ về hai sông Châu Cầu và Thanh Quyết ; bên tả có sông Nguyệt Đức ở huyện Yên Lạc, sông Thiên Đức ở huyện Đông Ngàn, đều chảy xuống Bắc Ninh, Hải Dương, rót vào sông Lục Đầu, không sông nào là không chia thế nước của sông Nhị mà chảy ra biển. Nay hai sông Hát Môn và Nguyệt Đức có nhiều cát bồi, sông Thiên Đức lại cong queo, nông hẹp, tắc mà không thông, mỗi lần nước lụt chảy mạnh thì các sông Lô, Thao, Đà, Đáy đổ thẳng sông Nhị, hai sông Hát Môn, Nguyệt Đức đến kỳ nước lụt còn có thể đầy tràn mà chảy được duy sông Thiên Đức gần thượng lưu của bờ phía bắc của thành, cửa sông từng đã cạn lấp, lại thêm bờ phía nam cồn cát nhô ra, thế nước chảy mạnh xói vào phía Bắc Thành, làm cho bờ sông sụt lở. Nơi ấy trước có kè đá, đến nay hầu đã lở mất rồi. Thế mà sông Thiên Đức thông hay tắc, hình như có quan hệ đến thế nước có xói vào phía Bắc Thành hay không. Năm trước thấy có xin vét sông ấy, bọn thần còn chưa rõ ra sao. Đến nay thân hành đến nơi mà xét rõ mới biết lời nói của người ta không phải là không có sở kiến. Nhân nghĩ một đoạn cửa sông ấy lại đâm ngang ra, thế nước không thuận nên bồi lấp đã lâu mà lòng sông ở hạ lưu thì hãy còn. Như muốn vét đào thì nên dời cửa sông lên trên để hút nước sông, mé dưới thì tuỳ thế mở rộng ra, chỗ quanh co thì nắn cho thẳng lại. Ấy là kiến thức hẹp hòi của bọn thần, như có dùng được xin sắc xuống cho đo đạc để trù tính mà làm”.(sđd).

Qua nội dung tờ sớ trên, có thể thấy, nhờ sự đi sâu, đi sát thực tế, nhờ quá trình trải nghiệm, nghiên cứu, Lê Đại Cang hiểu biết rất sâu sắc về lĩnh vực đê điều và trị thủy ở Bắc Thành. Chính vì vậy, trong thời gian giữ cương vị quan Đề chánh Bắc Thành, Lê Đại Cang còn biên soạn cuốn sách “Thống kê các đê công tư ở Bắc Thành”. Đây có thể coi là bộ sử đầu tiên về hệ thống đê điều ở Bắc Thành. Về sự kiện này, sách Đại Nam thực lục chép: “Đê chính thần Lê Đại Cương dâng sách tổng kê các đê công tư ở Bắc Thành: Đê điều các trấn Sơn Tây, Sơn Nam, Nam Định, Bắc Ninh, Hải Dương và phủ Hoài Đức thuộc hạt thành, đoạn nào đắp tự năm nào, đời nào, đoạn nào ở địa phận xã thôn nào, cùng dạng thức cao rộng bao nhiêu, sổ sách không rõ, từ trước đến nay người lãnh chức Đê chính phàm có sửa đắp, chỉ cứ theo sở tại khai báo mà giao làm, đến khi làm xong, cũng chỉ tới chỗ đê mới mà khám biện thôi. Từ khi Lê Đại Cương chuyên coi việc đê mới đi khắp xem xét. Những chỗ đê gần sát bờ sông, thân đê sụt nứt, chiếu lệ đại công trình mà đắp đê mới, tất cả 18 sở, ngoài ra các đê mới cũ đắp từ đời trước và từ năm Gia Long thứ 2 trở lại, nhiều lần sửa đắp, phàm chỗ thế nước chảy xói nên quý làm đê công, thì theo lệ tiểu công trình mà sửa đắp, chỗ nào thế nước tầm thường nên làm đê tư thì cho dân coi giữ, chỗ nào nên bỏ thì san đi. Đến bấy giờ cứ các đê điều cho đến cống nước ở đê, họp làm sách tổng kê để phòng xem đến….”.

Sách “Thống kê các đê công tư ở Bắc Thành” có nhiều vấn đề được Lê Đại Cang ghi chép rất cụ thể, chi tiết. Chẳng hạn như: “Trấn Sơn Tây có 8 huyện, 212 xã thôn, trang trại, đê công cũ mới ở các sông lớn, sông vừa, sông nhỏ cộng 248 đoạn, dài suốt hơn 59.093 trượng, đời trước đắp 45.136 trượng, năm Gia Long thứ 2 đến nay đắp hơn 13.957 trượng, và cống công 16 cửa. Đệ tư sông nhỏ ở đầu nguồn và dòng khe, dài suốt hơn 10.393 trượng và cống tư 16 cửa. Hai huyện Vĩnh Thuận, Thọ Xương phủ Hoài Đức, 8 phường thôn, 2 đê công cũ ở sông lớn, dài suốt 1.272 trượng, đắp từ đời trước, lại 1 con đê bỏ, dài 102 trượng. Trấn Sơn Nam có 16 huyện, 287 xã thôn, trang, đê công cũ mới ở sông lớn, sông vừa 368 đoạn, dài suốt hơn 88.363 trượng, đời trước đắp 73.683 trượng, năm Gia Long thứ 2 đến nay đắp hơn 14.679 trượng, và cống công 3 cửa…”…

Thăng - trầm đường quan cũng vì việc đê điều, trị thủy

Xưa kia, các cụ già ở Bắc Thành thường vẫn truyền tụng câu chuyện khi ra công đường cơ quan đê chính ở cửa Nam thành Hà Nội, Lê Đại Cang đã cho ghi tại đây câu đối : “Đề tồn Cang toại/Đề hoại Cang vong” (nghĩa là: Đê còn thì Cang còn, đê mất thì Cang cũng mất). Câu đối này cho thấy quyết tâm hết mình cống hiến cho sự nghiệp “vệ đê an dân” của quan Đê chính Lê Đại Cang.

Cuộc đời làm quan của Lê Đại Cang đã từng trải qua bao lần thăng trầm, vinh quang và cay đắng liền kế. Từ nhiều lần là nhị phẩm triều đình nhưng Lê Đại Cang cũng không ít lần bị cách chức, thậm chí bị đày xuống làm lính dõng, chính Lê Đại Cang đã từng bộc bạch rằng, cuộc đời của ông “ngọt, đắng, lo, vui đã nếm đủ mùi quan”.

Riêng đối với sự nghiệp đê điều - trị thủy ở Bắc Thành, chỉ trong khoảng hơn 3 năm đảm nhiệm cương vị Đê chính Bắc Thành, Lê Đại Cang cũng đã từng liên tục bị thăng giáng chức. Thống kê theo sách Đại Nam thực lục, chỉ trong thời gian ngắn đó, Lê Đại Cang đã 4 lần được triều đình nhà Nguyễn khen thưởng, nhưng cũng đến 2 lần bị xử phạt, thậm chí bị giáng chức như sau:

+ Thưởng: Tháng 2.1828: Được vua Minh Mạng thưởng 100 quan tiền vì “một mình khó nhọc” thực hiện công trình đê sông Hồng lớn như vậy. Tháng 2.1829: Được thưởng 50 quan tiền để “khích lệ làm việc”. Tháng 8.1829: Được khôi phục lại phẩm hàm nhờ cứu chữa kịp thời đê Kim Quan. Tháng 9.1830: Được khôi phục phẩm hàm và bổ nhiệm chức “Hình tào Bắc Thành, kiêm lĩnh Đê chính”, vì khắc phục được đoạn đê Lưu Khê bị vỡ…

+ Phạt: Tháng 5.1829: Bị giáng 3 cấp do nước dâng cao, đê Kim Quan có nguy cơ bị vỡ; trong khi đó công trình đê Đa Hòa đang thi công nhưng để thợ lười nhác, bỏ việc nhiều. Tháng 7.1830: Lại bị giáng cấp do đoạn đê ở Lưu Khê (thuộc Sơn Nam) bị vỡ…

Với cương vị Hữu tham tri Hình bộ, kiêm chức quản lý Đê chính ở Bắc Thành, chỉ trong vòng khoảng 3 năm, Lê Đại Cang đã chỉ huy xây dựng một hệ thống công trình đê điều và trị thủy tại Bắc Thành cực kỳ quy mô. Đó công trình đê điều lớn tại 18 sở, và khoảng 1.000 công trình nhỏ tại 1.000 sở. Bên cạnh đó, Lê Đại Cang còn chỉ huy việc đào lại cửa sông, “nắn” dòng chảy, nạo vét lòng sông... nhằm chống lũ lụt, vửa điều tiết nước lũ bảo vệ cho Bắc Thành. Đáng lưu ý, lần đầu tiên trong lịch sử, Lê Đại Cang đã thực hiện bộ sách “Tổng kê các đê công tư ở Bắc Thành”. Đây không chỉ là bộ sử đầu tiên về hệ thống đê điều Bắc Thành, mà còn là công trình khoa học, giúp các thế hệ sau thuận lợi trong việc quản lý hệ thống đê điều và công tác trị thủy ở Bắc Thành.

Sự nghiệp đê điều, trị thủy của Lê Đại Cang ở Bắc Thành không chỉ giúp cho người dân sản xuất, trồng trọt, bảo vệ mùa màng, an cư, lạc nghiệp, mà còn giúp triều đình nhà Nguyễn có những thành công quan trọng trong việc an dân, trị quốc.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}