Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phi vật thể:

 

Lễ hội Lượn Hai

I Ly | Thứ Hai, 30/09/2013 02:33 GMT +7
(Văn Hiến) - Mỗi khi mùa xuân tới, khắp nơi trên đất nước ta lại bước vào một mùa lễ hội. Trong không khí xuân tươi ấy, xin hãy đến với những người anh em tộc Tày để được chứng kiến những lễ hội đặc sắc của họ. Sau tết Nguyên đán đón xuân, người Tày nói chung, người Tày vùng Đông Khê, tỉnh Cao bằng nói riêng “thường mở hội cầu mùa, cầu sức khoẻ cho mọi người và tổ chức vui chơi. Có thể đó là hội tung còn trong lễ xuống đồng (Lồng tồng), hoặc đó là hội mẹ Trăng, còn gọi là hội Trăng, hay hội Lượn Hai”1.
JPEG - 24 kb

 

Nghiêng về phía phần hội, chúng tôi gọi đây là hội Lượn Hai, hay hội hát mời Trăng. Đây là một lễ hội quan trọng của người Tày, thường được chuẩn bị hết sức chu đáo và kéo dài nhiều ngày, chủ yếu riêng trong từng bản, quá lắm là mời thêm một số người thân thích, quen thuộc ở một vài bản lân cận tham gia mà thôi. Vì thế, có thể thấy ngay đây là một lễ hội mang tính hướng nội trong phạm vi bản, có lẽ, nó biểu hiện sự rơi rớt của một tâm lý cát cứ, ít giao lưu, giữa các bản trước kia, hoặc giả một vấn đề gì đó mà các nhà nghiên cứu lễ hội chưa tìm ra được. Thế nhưng, đó là những chuyện về sau.

Như đã nói, hội hát mời Trăng thường được tổ chức dài ngày và được chuẩn bị, sửa soạn khá công phu, ngay khi dân bản còn say sưa trong tết Nguyên đán. Đúng vậy, ngay từ sáng mồng một tết Nguyên đán, trong lễ cúng thổ công tại bản, một thanh nữ xinh đẹp, trong trắng được dân bản lựa chọn, cử ra làm lễ xin phép thần linh cho mở hội Lượn hai (hát mời mẹ Trăng). Sau khi được thần linh đồng ý (mà thường thì thần linh bao giờ cũng đồng ý với những ý định và hành động tốt đẹp của con người), cô gái kính mời già bản (hoặc hội đồng già bản) lựa chọn ngày tốt để mở hội và kết thúc hội. Dung lượng thời gian và qui mô hội không cố định mà tuỳ thuộc vào điều kiện vật chất, tinh thần, sự chuẩn bị cũng như sự lựa chọn của từng bản. Chỉ có điều bất di bất dịch là: hội hát mời trăng phải tổ chức vào (và trong) dịp tết Nguyên đán. Đó là không/ thời gian văn hoá tự nhiên của hội.

Sau khi lựa chọn được thời gian, ấn định thời lượng, địa điểm diễn ra hội, một ban tổ chức hội, đứng đầu là các già bản được bầu ra để lo việc chọn người, phân công các khâu, các công việc tổ chức lễ hội. Gia đình nào, cá nhân nào được chọn vào lực lượng chuẩn bị hội đều rất hãnh diện, vui mừng và vinh hạnh. Cả bản như bừng sôi trong không khí tết thật vui vẻ, không khí chuẩn bị thật rộn rã. Mọi nhà, mọi người náo nức chuẩn bị và dù không nói ra, ai cũng trong tâm trạng đón chờ thời khắc mở hội. “Mọi nhà trong bản đều náo nức chuẩn bị nghĩa vụ đóng góp phần mình. Lúc này mùa màng đã thu hoạch xong, thóc lúa đã vào bồ, vào kho, lợn béo có sẵn trong chuồng. Nơi góc nhà, chum rượu đã bốc men thơm dậy”. Tất cả đã sẵn sàng vào hội.

Công việc chuẩn bị đầu tiên là làm diễn trường (nơi diễn ra hội), dựng sàn cúng, giàn hoa...

Trước hết, những người khoẻ mạnh, khéo tay trong bản chọn một khu đất trống hoặc một bãi trống rộng rãi, bằng phẳng, có địa thế tốt trong bản để làm nơi tổ chức hội. Họ dùng các nguyên liệu đã chuẩn bị sẵn như ván, tre, phên, dây, đinh...để dựng sàn cúng. Sàn cúng cao khoảng 1,2m đến 1,4m, xung quanh thưng kín phên nứa, phên tre. Đó là nơi đặt lễ vật và hương cúng thần linh của bản. Bên cạnh sàn cúng, người ta dựng một giàn hoa (tượng trưng cho vườn hoa), nơi mà, theo thỉnh cầu của dân bản, mẹ trăng và các thần linh (nam và nữ) sẽ xuống hái hoa, nghe hát, xem múa...

Trong khi đó, một số người khác, theo sự phân công của già bản hoặc ban tổ chức, lo chuẩn bị vật chất (cả thức cúng như hương, hoa, trà, rượu..., cả thức ăn bình thường như bánh trái, gạo, thịt...) cho lễ hội. Đây là công việc ít được chú ý tới, nhưng có vai trò hết sức quan trọng cho sự thành công của lễ hội.

Trung tâm hơn cả, quan trọng hơn cả và vì thế cũng thu hút hơn cả là những người được bình bầu, chọn lựa để đóng các vai, các nhân vật trong lễ hội. Chính những người này quyết định sự sinh động và quyến rũ của lễ hội. Họ phải là những người tiêu biểu cho làng bản, vừa đẹp nết lại vừa đẹp người, đồng thời lại phải thuộc các bài hát và giỏi ca múa. Thiếu một yếu tố trong những gì đã nêu trên, thì họ khó có thể được lựa chọn để nhập những vai quan trọng trong lễ hội hát mời Trăng. Kể từ sau khi được lựa chọn, phân vai, số người này tự lo trang phục, tập dượt các vai, ôn lại các bài hát điệu múa trong lễ hội và “tìm đến những bà mế giỏi văn nghệ, thường gọi là Mế Cốc để học thêm những bài lượn Hai”.

Mục đích của lễ hội hát mời Trăng là cầu khấn mẹ Trăng (qua cuộc diễu hành đón và tiễn mẹ Trăng...) cho thần linh trên thượng giới, ban phát điều lành điều tốt, trừ bỏ điều dữ điều xấu, giúp cho mùa màng bội thu; cây cối xanh tươi, gia súc thoát khỏi dịch bệnh, sinh đàn nở đống, con người hạnh phúc, ấm no... Do ước mong những điều tốt đẹp đó mà hình thức người làm lễ, các vật dụng tham gia lễ hội cũng như không khí lễ hội đều phải đẹp và phù hợp trong sự giao cảm tiên- trần, thánh thần- con người. Có lẽ vì thế mà các vai chính trong cuộc lễ như: hai mẹ Trăng (cường hai), hai mụ Khoả (thiếp slở), và các thiếu nữ múa hát và hai thanh niên bảo vệ...đều đẹp đẽ, khoẻ mạnh, phúc hậu...

Trong không khí huyền hoặc, như thực, như ảo, giữa người cõi tiên và cõi trần; giữa người dự lễ và người nhập vai..., ai cũng có cảm giác rằng mình đang được chứng kiến những gì hết sức quan trọng đối với cuộc đời từng con người trong ngày xuân đầm ấm này, và ai cũng hồi hộp chờ giây phút bắt đầu lễ hội hát mời Trăng...

Và cuối cùng, cái giây phút ấy cũng đến. Hội hát mời Trăng bắt đầu bằng lễ dâng hoa, vừa có ý nghĩa chúc mừng những người đóng vai, vừa như là nghi thức mở đầu cho hội.

JPEG - 32.7 kb

Sau nghi lễ dâng hoa là diễn lượn hai (tức ca hát mời Trăng), mọi người hát những bài hát tiễn hồn đoàn người trần gian lên cung tiên đón mời mẹ trăng xuống dự hội trần gian dưới nghi thức lễ diễu hành. Các vai chính trong cuộc lễ diễu hành gồm: Hai người phụ nữ trung niên, phúc hậu, đức độ, đẹp nết, vóc dáng đẹp đóng vai hai mẹ Trăng (tức là để hồn mẹ Trăng nhập vào- được gọi là cường hai) hát đối đáp với người trần.
- Hai phụ nữ khác, tiêu chuẩn như trên, có thể trẻ hoặc già hơn đôi chút, đóng vai hai mụ khoả (được gọi là thiếp slở) làm nhiệm vụ dâng hoa và cầu nguyện.
- Một số thiếu nữ thanh tân, trẻ đẹp, tham gia múa hát, phụ việc cho các thiếp slở.
- Hai thanh niên khoẻ mạnh (cầm hai cây nêu bằng trúc) đứng bảo vệ trước cửa nhà mẹ Trăng.

“Tất cả các nhân vật nói trên đều hoá trang đẹp, trong đó mẹ Trăng rực rỡ nhất: áo lụa đỏ, quần hồng, khăn đỏ, tay cầm dải lụa hồng”[1].

Hành trình diễu hành lên cung trăng bao gồm hai chặng:
- Chặng thứ nhất qua thế giới nhân gian, “cõi người gồm đường trong bản, vườn rau, vườn cây ăn quả, miếu thổ công, giếng nước, cánh đồng lúa, bãi dâu, phủ Thành Lâm, đình Tiên, đồng quạ, núi vượn, thế giới ong ve, qua cầu Tam Quang”2.
- Chặng thứ hai qua thế giới thần linh, “đi vào không trung qua nơi ở của những người chết yểu, chợ trai gái, chợ Tam Quang, mường tổ tiên, phường những người làm quan ở hạ giới, cuối cùng đến cung Trăng”3.

Vậy là, trải qua bao nhiêu chặng đường, cửa ải, cuối cùng đoàn người trần gian cũng đón được mẹ Trăng xuống vui xuân. Khi đoàn người đón mẹ Trăng trở về hạ giới, thì có thêm hai mẹ Trăng và 14 vị thần nam nữ hoà cùng dòng người đến với chốn nhân gian.

Khi đoàn rước về tới mặt đất, đặc biệt là khi mẹ Trăng xuất hiện, mọi người reo mừng, ca hát, hái hoa, đón rước, làm lễ dâng hoa, cầu chúc. Các nhân vật cùng mọi người đều bắt đầu cuộc hát mời trăng vui chơi. Sau những lời hát chào hỏi, chúc tụng, đưa đón là những cuộc hát nguyện cầu, xin cho nhiều giống tốt, xin cho nước đủ phân nhiều, cầu không có thiên tai thú dữ, cầu cho ngô lúa nặng bông, mùa màng trĩu hạt... Một trong những lời cầu khấn (tạm dịch) như sau:

“Lạy mẹ cho con lúa giống
Cho con giống lúa nương
Cho con giống lúa đồng
Giống lúa nếp gặt cuối vụ
Tháng năm cho nước để cày cấy...
Vụ này tốt hơn vụ xưa,
Mùa này tốt hơn mùa trước
Gốc lúa ở bờ trên
Bông trùm qua bờ dưới...”1

Sau những lời lượn Hai (ca hát dưới Trăng) vừa có tính chất giới thiệu trần gian với thần linh (ở đây là Mẹ Trăng cùng các thiên thần), vừa mang tính cầu nguyện nghi lễ (có gắn chút ít tới nghi lễ cầu mùa, nghi lễ cầu mưa, mà biểu tượng là thuỷ triều, mặt Trăng), mọi người đều cảm thấy yên tâm vì những gì mong ước đã được ca lên trước thần linh và thần linh cũng đã biết được khát vọng của con người. Và dường như để hoà đồng với khát vọng đó, mẹ Trăng, sau khi nói lời cầu nguyện, lấy khăn che mặt “cũng tham gia hát đối đáp với người trần gian đi dự hội về mọi chuyện, từ việc sinh sống, làm ăn, mùa màng, sức khoẻ, trừ tình yêu”[2]. Đến nay, cũng chưa có ai giải thích vì sao khi lượn Hai, mọi người không đề cập đến chủ đề tình yêu? Do một cấm kỵ nguyên thuỷ? Do mẹ Trăng chỉ liên quan tới mùa màng, thiên nhiên, bệnh tật con người? Hoặc giả, bên cạnh mẹ Trăng, trong cuộc đời những con người tộc Tày, ở những dịp như thế này còn có một vị thần linh chủ trì tình yêu? Đó chỉ là những giả thuyết cần minh chứng thêm.

Dù sao thì lượn Hai cũng cứ như thế mà truyền lan; không khí hát hò vui vầy, náo nức đó cứ kéo dài từ ngày này qua ngày khác, nơi hai ba ngày, bản một tuần liền, có chỗ tới gần nửa tháng mới dứt... Và, một mảng không thể không nhắc tới là, trong khi nơi chính hội đang diễn ra cuộc hát khi hoà thanh, lúc đối đáp giữa tiên và trần, thì ở những địa điểm xung quanh đó, người ta xen kẽ tổ chức đánh yến (cầu lông gà), đánh quay, chọi gà... “cho tới một hôm mọi người trong bản thấy cuộc vui đã đủ, câu hát đã đã cạn, lời cầu đã xong, thì làm lễ kết thúc hội”1. lễ kết thúc hội (được gọi là slống hai, tức lễ tiễn mặt Trăng về trời) là ngày lễ mở rộng, vui nhất của hội, với thành phần tham dự gồm bà con trong bản, người thân thuộc, khách mời và du khách vãng lai. Lúc này, ngoài sàn cúng trong bản như đã tả phần trên, người ta phải dựng thêm một sàn cúng nữa ngoài đồng rộng để có chỗ cho khách dự, cũng là nơi diễn ra cuộc lượn (múa hát) mới để chia tay, tạm biệt giữa người trần và người cõi trên, tiễn mẹ Trăng và các thần về trời. Dân chúng, người dự tập trung ở sàn cúng trong bản rồi cùng kéo ra sàn cúng ngoài đồng. Hai thanh niên bảo vệ nhà mẹ Trăng cầm nêu trúc đi song song dẫn đầu đoàn người đi, mang theo các đồ dùng, vật tượng trưng hình mặt trăng, thuyền, hoa, mâm xôi và những hình thức khác. “Suốt bao ngày lễ hội, các nhân vật (được thay đổi danh nghĩa) đã sống chan hoà cùng nhau, thông cảm nhau sâu sắc, nay chia tay không khỏi bùi ngùi. Bài hát lượn lúc này nặng nghĩa, lưu luyến tiễn đưa như chẳng muốn rời”5... Lúc này, mẹ Trăng đã trần hoá, không còn là thánh thần xa lạ mà trở thành bạn thân của con người, cùng con người bịn rịn, nức nở chia ly, hát tạm biệt và hát hẹn hò gặp gỡ mùa lễ hội sau.

Xin nghe một đoạn lời hát của người trần:

“Tình thương đôi ta như non cao núi cả
Chớ như chiếc lá gai nghiêng ngả lung lay,
Chớ như bông cỏ tranh bay theo chiều gió
Trăng về trời, lòng ta xiết nỗi nhớ thương...”
 
Còn đây là một đoạn hát của Trăng nhắn người trần:
 
“Nhắn ba ngày buồn hãy bẻ cành cây để trên phiến đá
Ngày vui hãy bẻ cành lá để trên cành cây
Để trăng trên thượng giới được nhìn, được thấy
Người trần buồn còn biết thêu thùa may vá,
Trăng buồn phải suốt đời ở goá trên tiên...”2

Và khi kết thúc câu cuối cùng của bài hát chúc tụng, thì hai người đóng mẹ Trăng ngã xuống, thiếp đi trong đôi phút. Khi đó mế Cốc phải làm động tác thu hồn hai người (tức mẹ Trăng đã rời cõi trần). Sau đó, hai người tỉnh lại, trở lại vai trò dân bản thường ngày của họ. Sự trở lại này lâu hay mau tuỳ vào mỗi người.

Hội lượn Hai (hội hát mới Trăng) kết thúc trong niềm giao cảm mạnh mẽ, thiêng liêng, thần thánh giữa con người và siêu nhiên. Hai sàn cúng được dỡ đi. Mọi người tụ hội với nhau, lần lượt tổ chức ăn uống mừng hội, mừng xuân, mừng du khách đã đến với lễ hội. Cả bản làng đều hân hoan hy vọng mẹ Trăng và các thần linh sẽ chấp thuận giúp đỡ cho mùa màng tốt tươi, người vật mạnh khoẻ, để lễ hội mùa sau đông hơn, phong phú hơn, chu đáo hơn...

Và, với tất cả những chi tiết sơ qua và tầng văn hoá tín ngưỡng mới bộc lộ phần nào, rất cần được tiếp tục khai thác, có thể nói lễ hội hát mời trăng là một sinh hoạt văn hoá- tín ngưỡng hấp dẫn và huyền diệu với bất kỳ ai, đã -cũng như chưa- từng chứng kiến.


[1] Thạch Phương - Lê Trung Vũ: 60 lễ hội truyền thống Việt Nam. Nxb KHXH, Hà Nội, 1995, tr.339.

1,2,3 Trích Thạch Phương - Lê Trung Vũ - Sđd- tr 339-343.

[2] Trích Thạch Phương - Lê Trung Vũ - Sđd- tr 339-343.

[3] Theo Thạch Phương - Lê Trung Vũ - Sđd- tr 343.

[4] Theo Thạch Phương- Lê Trung Vũ- Sđd.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}