Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Thứ Sáu, 27/11/2020 00:48

Phi vật thể:

 

Lễ hội dân gian và đời sống đương đại ở Việt Nam

PGS.TS Trương Quốc Bình Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia | Thứ Hai, 30/09/2013 03:15 GMT +7
(Văn Hiến) - Lễ hội nói chung là một hình thái văn hóa diễn ra nhân một sự kiện xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong một không gian và thời gian nhất định, bằng những lễ thức trang trọng cùng với các loại hình văn hóa cộng đồng hướng tới sự kiện đó.

 

Các lễ hội dân gian truyền thống đều xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, diễn ra như một cơ hội để con người thể hiện tấm lòng sùng kính của mình với đức tin mà mình đã chọn. Tính chất tín ngưỡng của lễ hội thể hiện rõ trong mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa tín ngưỡng và lễ hội, thực chất là mối quan hệ của văn hóa giao tiếp và văn hóa tâm linh.

Lễ hội dân gian hay lễ hội dân gian truyền thống là bộ phận hữu cơ hết sức quan trọng của các di sản văn hóa phi vật thể, hợp thành kho tàng văn hóa quý báu của dân tộc; là nét đẹp văn hóa được hình thành, bổ sung và phát triển cùng với lịch sử lâu đời của dân tộc; trở thành nhu cầu không thể thiếu được của nhân dân, nhằm thỏa mãn khát vọng về nguồn, nhu cầu văn hóa tâm linh, tăng cường giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của từng không gian nhất định, góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa. Bảo vệ và phát huy giá trị lễ hội truyền thống là góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc, sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Cần thẳng thắn thừa nhận rằng, công tác tổ chức và quản lý lễ hội hiện nay cũng đã và đang nảy sinh nhiều bất cập, nhiều hạn chế và tồn tại. Tình hình đó được phản ánh thường xuyên, liên tục trên các phương tiện thông tin đại chúng, tại nhiều hội nghị, hội thảo cho đến cả nghị trường của Quốc hội, gây không ít bức xúc trong xã hội. Có thể khái quát về những bất cập, hạn chế và tồn tại của việc tổ chức và quản lý lễ hội hiện nay ở những điểm chính như sau:

Hiện nay, ở Việt Nam đã và đang xuất hiện xu hướng nâng cấp lễ hội lên tầm cao hơn thành cấp khu vực và cấp quốc gia, “thành cái gọi là Festival”; việc áp đặt suy nghĩ chủ quan, đưa các yếu tố hiện đại không phù hợp vào nội dung của lễ hội dân gian, sự can thiệp quá sâu và cụ thể của các cấp chính quyền vào lễ hội… dẫn đến hiện tượng đáng cảnh báo là làm đơn điệu hóa, trần tục hóa, quan phương hóa và thương mại hóa lễ hội…

Đang có xu hướng mở hội nhiều, tần xuất cao cùng sự lãng phí là ganh đua, phô trương thanh thế dòng họ, làng xã trong tổ chức lễ hội. Xu thế xã hội không lành mạnh, đưa thêm nhiều yếu tố mới lạ làm biến dạng những nghi thức đã định hình của lễ hội. Không gian hội đang bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa có xu hướng lan rộng về các vùng nông thôn. Không gian thiêng của lễ và hội đang bị không gian dịch vụ sinh lời lấn át.

Nhu cầu tâm linh được mở rộng, đi đôi với nó là sự hồi sinh của các hiện tượng mê tín dị đoan trong lễ hội. Chẳng hạn, nghi lễ Tắm Bà (trong lễ hội Miếu bà Chúa Xứ tại Châu Đốc, An Giang) là một ví dụ điển hình. Tại đây, không ít người đến hành lễ vẫn còn quan niệm, các vật dụng mà Bà đã sử dụng như chiếc khăn tắm, vàng mã, bánh trái… có tác dụng chữa chách bệnh và đem lại may mắn cho cuộc sống làm ăn của họ.

Những quan niệm sai trái về ấn lộc được phát tại không ít các lễ hội dân gian ở các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Hải Dương…, đặc biệt là ấn đền Trần được nhiều người ngộ nhận là phương tiện để thăng quan tiến chức, để thuận lợi trong việc mua quan bán chức, trong những năm gần đây khiến dự luận và công luận hết sức bức xúc.

Việc cung tiến công đức cho tu bổ di tích và tổ chức lễ hội ngày một tăng nhưng tình trạng xâm hại di tích, tùy tiện tu sửa, tôn tạo không xin phép cơ quan quản lý đã làm phá vỡ yếu tố nguyên gốc của di tích hiện đang còn tồn tại. Vẫn còn hiện tượng đưa đồ cung tiến vào khuôn viên di tích chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền.

Tình trạng đốt nhiều đồ mã, dâng cúng thức ăn (sống và chín), bày biện dâng đồ lễ tốn kém, phức tạp diễn ra ở nhiều lễ hội vẫn còn là vấn nạn, điển hình là tại Đền Bà Chúa Kho tại Bắc Ninh.

Các lễ hội dân gian lớn được tổ chức quy mô và cầu kỳ hơn trước song cơ sở vật chất, hệ thống hạ tầng đặc biệt là cơ sở hạ tầng dịch vụ chưa đáp ứng nhu cầu mật độ đông của du khách, yếu tố tâm linh suy giảm. Điển hình là tại khuôn viên Khu di tích Đền Trần, trước mùa lễ hội năm 2012, người ta đã phải xây dựng một hệ thống chuồng cọp bằng sắt để “phát ấn” trong đêm 14 tháng Giêng nhưng sáng kiến này không hề làm thay đồi sự chen lấn, quá tải, xô bồ mà công luận đã tốn không ít giấy mực để phế phán và lên án.

Hiện tượng bói toán, lên đồng, cờ bạc trá hình, thương mại hóa trong hoạt động dịch vụ phục vụ lễ hội, tệ bán hàng rong, rút thẻ, bán sách, tướng số, tử vi, lôi kéo khách hành hương, tranh giành thu tiền bán vé dịch vụ … làm giảm đi tính tôn nghiêm và những nét đẹp văn hóa trong hoạt động lễ hội. Hiện tượng nâng giá, ép giá, lưu hành ấn phẩm không được phép xuất bản, hành khất, đeo bám khách du lịch chưa giảm ở một số lễ hội lớn. Hiện tượng khấn thuê, đốt đồ mã, xả rác tùy tiện trên đường lên di tích, trong ngoài nơi thờ tự vẫn còn tồn tại dai dẳng.

Nguồn thu công đức ở một số đền, phủ do thủ từ, thủ nhang quản lý, tiền công đức ở các chùa do nhà chùa quản lý, dẫn đến trong đền chùa có quá nhiều khay đựng tiền giọt dầu, hòm công đức. Nhiều nơi lập nhiều ban thờ, đặt nhiều hòm công đức tràn lan và đĩa để tiền giọt dầu tại di tích khiến du khách đặt nhiều tiền lẻ lộn xộn ở mọi nơi mọi chỗ, thả tiền ném tiền bừa bãi vào hậu cung, nhét tiền vào tay Phật làm mất vẻ trang nghiêm thanh tịnh, gây sự phản cảm trong sinh hoạt lễ hội …

Hiện nay đời sống vật chất được cải thiện, nên nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng có xu hướng tăng lên và vì thế số người tham gia lễ hội và cầu xin thánh thần tài lộc ngày càng đông, thậm chí đã trở thành “niềm tin” của một số phận nhân dân, trong đó có không ít quan chức trong bộ máy công quyền đang có xu hướng biến tín ngưỡng thành nhu cầu “cầu xin” thái quá.

Lễ hội là một hiện tượng văn hóa gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi thời kỳ nhất định. Chính vì thế, quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa đã mở ra hướng lựa chọn những yếu tố phù hợp với mục đích, nhu cầu thời đại. Quan điểm lý thuyết này dựa trên cơ sở mỗi di sản (lễ hội) đều có những nhiệm vụ lịch sử của nó ở một thời gian và không gian cụ thể. Di sản (lễ hội) ấy tồn tại ở không gian và thời điểm hiện tại thì cần phải phát huy các giá trị văn hóa – xã hội của nó phù hợp với xã hội hiện tại. Chính vì thế mới có tình trạng nhiều vị thần của làng đã bị “đổi lý lịch” vì lý do chủ quan nào đó. Có thể dẫn ra ở đây nhiều ví dụ về vấn đề này: Người dân ở Đồng kỵ (Bắc Ninh) bây giờ không chấp nhận rằng vị thần mà họ thờ là dâm thần; tương tự như vậy đối với ông thần Gắp Phân (làng Cổ Nhuế, Hà Nội), và ông thần Ăn trộm ( làng Tích Sơn, Thị xã Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc), hiện nay những vị thần/ thánh của các làng này đều có “Lý lịch mới”; ví dụ ông thần Ăn Trộm (không biết từ lúc nào) đã “trở thành” các vị tướng phò giúp Hưng Đạo đại vương đánh giặc mà các tục hèm (giết lợn sống, chia thịt sống… nhằm diễn lại cảnh ăn trộm của vị thần) nay lại được giải thích như là những diễn xướng quân sự: khao quân.

Do đó, theo quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa, trước hết cần nghiên cứu những nội dung và giá trị cơ bản của từng lễ hội để xác định yếu tố nào thực sự là giá trị cần phải kế thừa và phát huy, yếu tố nào không phù hợp, có thể không cần phụng dựng như nó đã từng tồn tại.

Gần đây, khi tranh luận về lễ khai ấn về Đền Trần Nam Định, nhiều người đã rất mất công để chứng minh về việc vào thời Trần có hay không việc phát ấn trong khi thừa nhận việc phát ấn vào giờ tý đêm 14 tháng giêng. Và, nếu việc nhận một tờ ấn từ lễ hội này như một vật phẩm du lịch tâm linh, một nét mới trong lễ hội Đền Trần thì cũng nên coi là chuyện bình thường mới được bổ sung thời hiện đại. Tất nhiên là, cần phê phán và thậm chí cần lên án việc hoang truyền về giá trị thăng tiến của tờ ấn để kinh doanh trục lợi.

Gần đây, có không ít ý kiến phê phán và phản đối việc Nhà nước hóa trong công tác quản lý lễ hội. Theo chúng tôi, không nên và không thể phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước trong công tác quản lý, điều hành các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung và lễ hội văn hóa nói riêng. Từ hàng trăm năm trước, bên cạnh những chính sách và biện pháp thể hiện sự tôn trọng vai trò của cộng đồng, Nhà nước phong kiến Việt Nam vẫn thực thi vai trò hành pháp trong việc ban sắc phong cho các đối tượng được thờ phụng đồng thời là đối tượng chính yếu để tổ chức lễ hội dân gian và tạo điều kiện vật chất cho việc bảo vệ và phát huy giá trị thông qua việc cấp ruộng đất. Thậm chí, triều đình còn đưa các nhân vật có tính huyền thoại, truyền thuyết vào chính sử để rồi chính thức hóa việc tổ chức Quốc lễ nữa.

Về biện pháp của các cơ quan nhà nước đối với lễ hội hiện nay, chúng tôi xin phép được nhắc lại những nội dung cụ thể quy định tại điều 25 Luật sửa đổi bổ sung 1 số điều của Luật Di sản văn hóa là:

“Nhà nước tạo điều kiện duy trì và phát huy những giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống thông qua các biện pháp sau đây:

1. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội;
2. Khuyến khích việc tổ chức hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian truyền thống gắn với lễ hội;
3. Phục dựng có chọn lọc nghi thức lễ hội truyền thống;
4. Khuyến khích việc hướng dẫn, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài về nguồn gốc, nội dung giá trị truyền thống tiêu biểu, độc đáo của lễ hội”.

Tuy nhiên, khi khẳng định vai trò quản lý của Nhà nước hiện nay, xin đừng quên những trách nhiệm cụ thể của từng cấp chính quyền đã được ghi rõ trong Luật Di sản văn hóa. Đồng thời, phải đánh giá thật khách quan vai trò của các ngành trong việc phối hợp tổ chức lễ hội theo luật định bởi vì việc tổ chức quản lý lễ hội không chỉ là trách nhiệm của Bộ VHTTDL mà còn là trách nhiệm chung của các cấp, các ngành. Ví dụ như, gần đây, công luận và dư luận hết sức bức xúc về hành vi đặt, gài và rải tiền lẻ / lại là tiền mới / ở khắp các nơi, thậm chí còn đặt lên cả tượng Phật, đã và đang diễn ra rất phổ biến tại các không gian tổ chức lễ hội nhưng nếu ngành Tài chính không in và phát hành quá nhiều tiền lẻ, với mệnh giá thấp / nhưng rất tốn kém về chi phí giấy và cộng in/ vào dịp Tết âm lịch, thì chắc chắn vấn nạn này sẽ tự nó sẽ thay đổi từ cội rễ.

Mặt khác, bên cạnh việc phân tích những trách nhiệm của các chủ thể quản lý, chúng ta phải xác định ý thức và hành vi của những người tham gia lễ hội, đối tượng chính góp phần quan trọng tạo nên những nguyên nhân của các bất cập và tồn tại của các lễ hội hiện nay. Phần lớn người đi hội chưa có nhận thức chuẩn xác về đức tin và nội dung giá trị của lễ hội, không chỉ vì tính thiêng của các đối tượng phụng thờ đã bị giải và lòng tin chỉ nặng về tính vụ lợi xin – cho mà có nguyên nhân sâu xa từ môi trường xã hội, giáo dục xã hội, quản lý xã hội nói chung. Vì vậy, không thể yêu cầu ngành văn hóa xây dựng và ban hành hết thông tư nọ, quy định kia để có thể sớm lập lại trật tự tại các lễ hội mà phải coi đây là trách nhiệm của toàn xã hội, với những giải pháp đồng bộ, lâu dài.

Gần đây, có không ít người, và trong số này có một số tự coi là học giả hay “nhân danh cộng đồng” và “vận dụng những kinh nghiệm có tính lý thuyết của UNESCO” để đề nghị và kêu gọi trả lại quyền quản lý, tổ chức lễ hội cho cộng đồng.

Đây là những ý tưởng không mới về bảo tồn di sản văn hóa và thiên nhiên do UNESCO chủ trương từ nhiều thập kỷ trước.

Tuy nhiên, trong khi cần tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp về xã hội hóa các hoạt động về bảo tồn di sản, trong đó tập trung phát huy tối đa năng lực của cộng đồng cư dân địa phương, chúng ta cần hiểu biết thấu đáo và tường tận về thực trạng trình độ và năng lực văn hóa của những người thực hiện và lãnh đạo công tác quản lý tổ chức lễ hội tại cơ sở. Hiện nay, trừ một số không nhiều các cụ cao niên có trình độ, hầu hết những người đại diện của cộng đồng cơ sở đều trưởng thành trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, khi mà dường như các hoạt động nhằm thực thi và truyền dạy về di sản và lễ hội không những được thực hiện mà thậm chí còn bị hạn chế về nhận thức.

Do đó, khi các lễ hội có cơ phục hồi và bùng phát, những hạt nhân này của cộng đồng chưa kịp nắm bắt những kiến thức về bản chất của di sản về nội dung giá trị thì đã được tôn vinh như những “chủ thể sáng tạo, chủ thể sở hữu” và thực hành hoặc là theo kinh nghiệm của các cộng đồng lân cận, theo tâm lý đám đông, hoặc theo sự hướng dẫn, hối thúc, cổ vũ của lãnh đạo địa phương! Đồng thời, công tác tổ chức, quản lý lễ hội ở các địa phương hiện nay được giao do ủy ban nhân dân cấp huyện, xã, phường thực hiện trong bối cảnh mà … “Nhiều cán bộ, công chức cơ sở chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống; tỷ lệ cán bộ chưa đạt chuẩn còn cao; tỉnh, thành nào cũng còn một số cán bộ có trình độ văn hóa tiểu học và chưa được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ (cả nước còn hơn 3% cán bộ ở cơ sở có trình độ tiểu học hoặc không biết chữ; 48,74% số cán bộ chưa được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ)…” (Dẫn theo Nguyễn Đức, Ban Tổ chức trung ương, “Về đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn).

Mặt khác, đa phần các lễ hội làng đều có tính chất tẻ nhạt, đơn điệu do chỉ được phục dựng theo trí nhớ và vận dụng kinh nghiệm từ các nơi khác và nhiều lễ hội mang tính quốc gia nhưng được thực hiện theo kịch bản na ná như nhau, cực kỳ tốn kém và ít hiệu quả thì các cộng đồng cơ sở không / hoặc chưa/ tự mình đảm trách vai trò tổ chức quản lý các lễ hội là sản phẩm sáng tạo của các thế hệ trước.

Vì vậy, chúng tôi kiến nghị, cùng với việc tăng cường vai trò của cộng đồng cần đẩy mạnh công tác hướng dẫn, quản lý các hoạt động lễ hội của các cơ quan văn hóa du lịch như đề xuất của TS. Bùi Hoài Sơn, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam: “Kinh nghiệm tổ chức ở nhiều lễ hội, đặc biệt là các lễ hội có quy mô lớn cho thấy rằng, chỉ có sự kết hợp tốt giữa chính quyền và người dân cộng đồng, có sự tham gia của du khách, mới giúp cho việc tổ chức lễ hội được thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất”.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}