Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Lí giải câu thơ của sứ nhà Nguyên đi sứ nhà Trần

Thứ Hai, 07/12/2015 12:42 GMT +7
Dương Đình Minh Sơn


Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn
Nhà Dân tộc Âm nhạc học
 
 “Kim Qua ảnh Lý Đan Tâm Khổ
Đồng cổ Thanh Trung Bạch Phát Sinh”
         
“Nhác thấy bóng gươm lòng run sợ
Nghe trống đồng rung tóc bạc phơ”.
 
 Các tác giả thuộc khuynh hướng coi loại cổ vật tâm linh “Thần Đồng” (trống đồng) của dân tộc ta là loại nhạc khí thì, trong các bài viết đều lấy hai câu thơ này của viên sứ thần nhà Nguyên Trần Cương Trung đi sứ nhà Trần làm cứ liệu. Người ta từng hạ bút:

Suốt chặng đường dài của lịch sử dân tộc Việt Nam, trống đồng bao phen là biểu tượng góp phần vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Thật ấn tượng khi mà trống đồng cũng là một lực lượng tham gia chiến tranh làm kẻ thù phải run sợ. Thư tịch đẵ ghi lại rằng: sau khi đi sứ Việt Nam năm 1292, tức là sau có vài năm, cuộc kháng chiến chống  Nguyên Mông của dân tộc ta kết thúc, thì sứ thần nhà Nguyên là Trần Cương Trung đã phải  thốt lên câu thơ run rợ trước sức mạnh Đại Việt mỗi khi chợt nghe tiếng trống đồng giữa kinh đô Thăng Long.

Hay thật! Kinh khủng thay.Tiếng trống đồng rung trong thời bình ở kinh thành Thăng Long mà đã làm cho viên sứ thần nhà Nguyên run sợ bạc cả tóc, hẳn ngoài chiến trường tiếng trống đồng rung sẽ làm cho kẻ thù phải khiếp vía mà bỏ chạy. Quân đội ta ào ạt tiến lên như thế chẻ tre.chiếm trận địa, chưa cần đến lưỡi gươm, ngọn giáo và hai chữ “Thát Sát” thích trên cánh tay. Tiếng Thần Đồng (trồng đồ) một loại vũ khí lợi hại: Bách chiến, bách thắng như thế của chiến binh Đại Việt thời nhà Trần, nhưng có điều lạ, là: Trong các thư tịch của Triều Trần không thấy ghi lại loại Thần Đồng (trống đồng) này, ngay cả trong thơ ca Triều Trần cũng không thấy có bài thơ nào nói về tiếng trống đồng làm cho quân thù khiếp sợ cả mà chỉ thấy những bài thơ ca ngợi sự dũng mãnh của quân đội triều Trần.
 
 Bài thơ của Thượng tướngTrần Quang Khải:
 
 Đoạt giáo Trương Dương độ
Cầm Hồ Hàm Tử quan
 
Dịch:

 
Trương Dương cướp giáo giạc
Hàm Tử bắt quân thù.
 
Đặc biệt vua Trần Nhân Tông trong dịp về dâng hương tại khu Lăng tẩmTriều Trần ở Thiên Trường, khi thấy vết bùn ở con ngựa đá đã có Bài thơ: 
 
                     Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
                    Sơn hà thiên cổ vững âu vàng.
                                  
                   Trần Trọng Kim dịch:
 
        Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
       Non sông nghìn thuở vững âu vàng.
 
Chỉ một vết bùn ở con ngựa đá, đã gợi cho nhà Vua tức cảnh về hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi của dân tộc ta để làm nên bài thơ tuyệt bút. Qua đó có thể nói, không có tiếng trống đồng ở thời đại Triều Trần.  

Việc nghiên cứu là cần đặt mỗi hiện tượng cá biệt diễn ra phải nằm trong tọa độ của bối cảnh lịch sử. Đó là phải xem xét, suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta có đánh trống đồng không? hoặc trong cung đình Đại Việt có đội quân nhạc, để đánh trống đồng không? Đó mới là trách nhiệm: đức độ-trí tuệ của người nghiên cứu trước sứ mạng lịch sử văn hóa cổ truyền của dân tộc. 

 Đàng này, người ta  chỉ căn cứ vào từng hiện tượng cá biệt của lịch sử - tức là kiểu “Thầy bói sờ voi”, để phán định một hiện tương của lịch sử, đặc biệt hiện tượng ấy là của đối phương -sứ thần nhà Nuyên Trần Cương Trung.

Là tác giả người Việt Nam, việc nghiên cứu về Thần Đồng đến ngày nay mà  còn bám vào câu thơ của viên sứ thần bạc nhược của nhà Nuyên Trần Cương Trung “Nghe trống đồng rung tóc bạc phơ”, hoặc căn cứ vào thuật ngữ “đồng cổ” (trống đồng) do Mã Viện ngụy tạo trong lần y đưa quân sang Giao Chỉ đàn áp cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng (40-43), đến bốn thế kỉ sau (424) lời ngụy tạo  “đồng cổ” của Mã Viện được tác giả Phạm Việp định danh bằng Hán tự trong sách Hậu Hán thư quyển 54 mục Mã Viện truyện như sau: Mã Viện thích cưỡi ngựa, giỏi phân biệt ngựa tốt xấu. Ông ta lấy được trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ bèn đúc thành ngựa mẫu… ngựa cao 3 thước 5 tấc (khoảng hơn 1m), vòng thân ngựa 4 thước 4 tấc (khoảng 1,5m), vua xuống chiếu đặt ngựa mẫu trước cửa điện Tuyên Đức để làm ngựa mẫu (hẳn vùng đó) sẽ yên. Thâm ý của Mã Viện coi vật linh Thần Đồng của người  Kinh, chỉ như con ngựa cho đế chế Hán cưỡi.

Cũng cần nói thêm, đây là lần đầu tiên xuất hiện thuật ngữ “đồng cổ” trong văn tự Trung Quốc. Đó là một từ mới. Cho nên đến nay các từ điển Trung Quốc cổ điển  giải thích từ điều “Đồng cổ” như Từ Nguyên đều dẫn đoạn văn Truyện Mã Viện trên đây.

Trong khi đó, thành tựu về lịch sử nghiên cứu  trống đồng Việt Nam đã được các học giả  của thế giới với những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, sâu sắc: Năm 1932 Fr. Heger nhà học giả Áo cố vấn của trường Viễn đông Bác Cổ (EEEO) và Hội nghị nghiên cứu về Viễn Đông lần thứ nhất năm 1932 ở Hà Nội. Trong công trình Những trống kim khí ở Đông Nam Á  (1902):  khi đó, với 165 chiếc trống đồng ở các bảo Tàng của châu Á, châu Âu và ở các sưu tập của tư gia, Heger đã khảo tả chi tiết về các yếu tố kết cấu, hình dáng và vẽ lại hoa văn của từng chiếc trống. Trên cơ sở đó, ông phân trống đồng làm bốn loại, ký hiệu I, II, III, IV và ông coi trống đồng loại I ra đời đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam. Đặc biệt từ thập kỉ 60 của thế kỉ 20 ngành khảo cổ học Việt Nam đã đưa lên mặt đất nền văn minh ĐỒ ĐỒNG  của sồng Hồng đã làm cho các nhà học giả của thế giới nhận thức đầy đủ về nền văn minh đồ đồng của dân tộc Kinh Việt Nam, trong đó tiêu biểu là loại cổ vật Thần Đồng như Thần Đồng Ngọc Lũ: hoa văn tinh xảo kì bí, giàu sang quyền quý. Kiệt tác có một không hai của nhân loại. Nhưng đã 2000 năm nó bị gọi tên sai “đồng cổ” (trống đồng) là nguyên nhân làm thay đổi cơ bản về chức năng của loại cổ vật này- làm chệch hướng nghiên cứu của khoa học. L.Bezacier nhà bác học Pháp có những hiểu biết sâu rộng về lịch sử văn minh Việt Nam, và để chuẩn bị cho cuối đời, năm 1972 khi hệ thống lại các công trình của mình trong đó có bộ sách Giáo khoa về khảo cổ học ở Viễn Đông, nhan đề Việt Nam - Từ tiền sử đến cuối thời Trung Hoa chiếm đóng cũng đã phải thốt lên: Phương Tây sau gần một thế kỷ ( giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX) nghiên cứu, hoàn toàn không hiểu, không biết gì chắc chắn cả về nguồn gốc của trống đồng, cũng như về công dụng và ý nghĩa của nó.

Bởi lẽ, một loại nhạc khí bằng đồng thì hợp kim của nó phải có 17% kim loại thiếc- thiếc làm âm thanh trong, đẹp, không có kim loại chì, trong khi đó Thần Đồng của Việt Nam kim loại thiếc chỉ có 0,5%  nhưng kim loại chì cao đến 25%. Chì làm câm tiếng lại, nhưng kim loại chì mềm, điền đầy các họa tiết.

Vì thế, G.S H. H.Loofs-Wwiosowa người Australia, gốc Đức, từng ở trong đội quân viễn chinh Pháp có nhiều hiểu biết về văn hoá Việt Nam, với thuyết Biểu chương vương quyền (regalia) coi trống đồng là vật tượng trưng cho quyền lực hợp pháp. Ông cho rằng có một quyền uy tôn giáo tồn tại ở bắc Việt Nam trong thời cổ, tương tự với quyền uy của giáo hoàng phương Tây. Theo ông các tù trưởng bộ lạc ở nhiều vùng Đông Nam Á đã cử sứ bộ đến bắc Việt Nam để xin ban các trống đồng mà với chúng, họ có thể làm vua hợp pháp –tức là Ấn tin.

Như vậy, hiện vật Thần Đồng là sản phẩm văn hóa mang tính biểu tượng quốc gia- Ấn tín, báu vật truyền ngôi của thời đại Hùng Vương. Vua Hùng  tôn vinh là vị thần, lập đền thờ Ngài trên  núi Đan Nê, Yên Định, Thanh Hóa, địa điểm tìm ra kim loại đồng đầu tiên;  và đến đời nhà Lí vua Li Thái Tông cho dựng đền thờ Ngài ở Hà Nội, nay là số 353 đường Hoàng Hoa Thám quận Tây Hồ. Vì thế, mặc dù thuật ngữ trống đồng do Mã Viện ngụy tao ra đã thâm nhập vào nước ta ngay từ thời điểm đó, đến nay đã 2000 năm, nhưng lịch sử của dân tộc ta không có hiện tượng đánh trống đồng. Ngay ở Thăng Long, thời Hồng Đức(1470- 1497) vua Lê Thánh Tông cho lập Nhã nhạc, đặt ra hai bộ: Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ Đồng văn thì chuyên chuộng âm luật để hoà nhạc, bộ Nhã nhạc thì chuyên chuộng nhân thanh, trọng tiếng hát. Trong bộ Đồng văn không có biên chế trống đồng ; có thể dẫn ra rất nhiều cứ liệu nữa. Đó là phương pháp nghiên cứu về Thần Đồng của Việt Nam.

Tóm lại, là người Việt Nam con Lạc cháu Hồng, trong nghiên cứu về Thần Đồng  Đông Sơn thì phải theo truyền thống của Tổ tiên. Cổ nhân nói, Ăn cây nào phải  rào cây ấy. Là người nghiên cứu văn hoá cổ truyền của dân tộc chúng tôi thấm thía lời răn dạy đó của tổ tiên thể hiện trong đề tài Văn minh sông Hồng sáng tạo Thần Đồng Việt Nam./.

  • He thong phan phoi sim so tai VN
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}
  • He thong phan phoi sim so tai VN