Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Lời để lại từ GIẢNG VĂN CHINH PHỤ NGÂM

Chủ Nhật, 11/01/2015 14:04 GMT +7
PGS.TS. Hà Công Tài
    Viện Văn học

 
          Giảng văn Chinh phụ ngâm được Đặng Thai Mai viết trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, vào năm 1949, khi ông đang giảng dạy tại trường Đại học Văn Khoa Liên khu IV ở Thanh Hóa. Trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn của cuộc kháng chiến, đặc biệt là thiếu thốn về tài liệu phục vụ cho việc trình bày những vấn đề lý luận và lịch sử, Đặng Thai Mai hiểu hơn ai hết điều đó như ông nói: “Hoàn cảnh và điều kiện nghiên cứu quả là khó khăn”. Có lẽ vì thế ông cho rằng “phát kiến riêng của cá nhân chỉ là phần rất mỏng manh trong tập sách”(1). Và “nếu như có ít nhiều đặc điểm đáng chú ý trong công trình này, thì chúng tôi mong muốn là nó sẽ được phát triển thêm”.

 
 
Năm 1992, Giảng văn Chinh phụ ngâm được trường Đại học Sư phạm Hà Nội in lại nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn. Trong bài viết ở cuối sách thay lời bạt, mang tên Giảng văn Chinh phụ ngâm - Một công trình viết cho hôm nay, Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng “hầu như bị lãng quên hơn 40 năm nay, giờ đây Giảng văn Chinh phụ ngâm của giáo sư Đặng Thai Mai lại ra mắt bạn đọc. Thật là một điều thú vị. Có những sách ra đời ồn ào, nhưng vị tất đã sống nổi qua thời mình. Trái lại, có những công trình xuất hiện lặng lẽ, khiêm nhường nhưng thời gian càng lùi xa, càng gây thêm hứng thú khoa học cho người đọc”.
 
Tôi đọc công trình này, quả thật với rất nhiều hứng thú. Nhất là trong tình trạng môn Văn trong nhà trường của chúng ta hôm nay, dù cho chúng ta đã có điều kiện tiếp cận nhiều lý thuyết văn học của thế giới, dịch nhiều tác phẩm lý luận nước ngoài. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến có lần đọc lại Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh đã “bàng hoàng nhận thấy trình độ phê bình của ta hiện nay kém hơn Hoài Thanh thời bấy giờ”. Cũng có cảm giác như thế khi đọc lại Giảng văn Chinh phụ ngâm của Đặng Thai Mai. Bởi như đánh giá của lời bạt nói trên - Giá trị đích thực của công trình “là những phẩm chất toát ra từ phương pháp khoa học bên trong. Giảng văn Chinh phụ ngâm của Đặng Thai Mai là một công trình như thế”.
 
Giảng văn Chinh phụ ngâm không chỉ cho chúng ta thấy một quan niệm và phương pháp giảng văn - mục đích cơ bản mà tác giả muốn trình bày. Theo logic kết cấu của tác phẩm, theo cách thức phân tích, luận giải rất biện chứng ở từng phần, Giảng văn Chinh phụ ngâm chính là hướng tới một mục tiêu lớn hơn và cao cả hơn, là góp phần xây dựng nền học thuật và văn hóa nước nhà. Đặng Thai Mai viết: “Đứng về một phương diện khác mà nói thì ngoài việc luyện văn cho học sinh, khoa giảng văn cũng là một phương tiện để kiến thiết học thuật và tư tưởng, vì học thuật nước ta đang cần xây đắp nhiều, vì văn học nước ta hiện giờ chưa có gì có thể nói là phong phú, độc đáo, xứng đáng có một giá trị quốc tế”. Viết ra điều đó chính là tâm huyết, trăn trở của nhà học giả, là ý thức sâu sắc của ông về trách nhiệm kiến thiết nền văn hóa, văn học dân tộc.
 
Cùng với việc giảng văn, dạy văn, giáo sư Đặng Thai Mai đặt vấn đề về vị trí đặc biệt của phê bình văn học. “Nếu như phê bình văn học cũng là một phương tiện xúc tiến xây dựng văn học, thì thiết tưởng khoa giảng văn cũng là hình thức phê bình cần thiết cho học thuật nước nhà”. Như vậy giảng văn và phê bình văn học thật sự là có quan hệ với nhau mà lâu nay hầu như chúng ta ít để tâm. Và thực sự là, khi văn học thiếu những bài phê bình hay, hấp dẫn, để định hướng cho thị hiếu văn học của công chúng, để “khuấy động” dư luận xã hội về một hiện tượng văn học đáng quan tâm, một hiện tượng có mối quan hệ thiết thực với đời sống của đông đảo bạn đọc, thì cũng khó có thể nói là hiện tượng đó không có ảnh hưởng gì đến việc dạy văn, học văn trong nhà trường, đến sở thích đối với văn học của đông đảo học sinh, sinh viên.
 
Ở đây phải nói Giáo sư Đặng Thai Mai đã với một tinh thần thực sự cầu thị và khoa học, để nhận thức các giá trị văn học. Bởi giảng văn hay phê bình, theo ông, đều cần phải nhìn ra giá trị của văn học là ở đâu, là thế nào. Ông đặt vấn đề trước hết là tác phẩm, là việc nhận thức giá trị của tác phẩm văn học.
 
Nếu như trong Văn học khái luận, tác phẩm Đặng Thai Mai viết vào 5 năm trước đó, năm 1944, thể hiện tư tưởng sâu sắc và uyên bác của tác giả về những vấn đề lý luận văn học hết sức cơ bản, bản chất nhất, như hiện thực và sáng tạo, nội dung và hình thức, điển hình, tự do và cá tính sáng tạo, tinh thần dân tộc, v.v… thì trong cuốn Giảng văn Chinh phụ ngâm, Đặng Thai Mai đã trình bày những vấn đề rất cơ bản, không chỉ là giảng dạy văn học mà rộng ra là những vấn đề của tiếp nhận văn học. Vì thế, có thể thấy từ Văn học khái luận đến Giảng văn Chinh phụ ngâm như là một quá trình, một chặng đường dài thiết thực, để tác giả có điều kiện trình bày đầy đủ hơn về những vấn đề lý luận sáng tạo và tiếp nhận văn học. Đặc biệt vấn đề về sự tinh tế trong sáng tạo và cảm thụ văn học, - điều mà ông hầu như chưa thể nói được nhiều trong Văn học khái luận.
 
Đặng Thai Mai quan niệm cần nhận thức thấu đáo nội dung và hình thức của áng văn, rồi mới đến tác dụng của thiên tài và ảnh hưởng của lịch sử và của thời đại trong công cuộc xây dựng văn nghệ, địa vị cùng ảnh hưởng của tác phẩm trong tư tưởng và văn hóa Việt Nam. Nhiều vấn đề, chẳng hạn, về điều kiện lịch sử xã hội và các yếu tố văn hóa đã ảnh hưởng tới quá trình sáng tạo nền văn học cổ điển phương Đông; nhiều vấn đề trong nghiên cứu và giảng văn “mà một câu kết luận dứt khoát trong sự so sánh, phân biệt, phải căn cứ vào những công trình nghiên cứu” lúc đó chúng ta lại chưa có được. Song có thể nói, trong một hoàn cảnh không thích hợp gì cho việc viết sách, nhất lại là sách nghiên cứu văn học, nhưng Đặng Thai Mai đã viết Giảng văn Chinh phụ ngâm trong một tâm thế và trái tim tràn đầy nhiệt huyết của một nhà văn lớn trước sự nghiệp xây dựng nền văn hóa và văn học dân tộc. Ở đây không thể không nói đến niềm suy tư của nhà văn về mọi nỗi tủi nhục của tiếng Việt trong các học hiệu nước ta thời thuộc địa. Và điều đó càng thôi thúc ông nghĩ đến cách đặt nền móng cho một khóa trình Việt văn đứng đắn hơn, dù ông vẫn biết “muốn sửa một khóa trình đứng đắn về môn dạy Việt văn thiệt là cả một công trình xây dựng khó khăn và vất vả”.
 
Như nói trên, theo kết cấu của tập sách và nếu không phải là viết trong hoàn cảnh kháng chiến, thì có lẽ Giảng văn Chinh phụ ngâm đã là một công trình được trình bày đầy đủ và trọn vẹn hơn về lý thuyết và phương pháp giảng văn (trong phần trình bày quan niệm về vấn đề giảng văn), về thực tiễn phân tích tác phẩm như một ví dụ minh họa đích thực và cụ thể, cùng phần sẽ rất đặc sắc là các chú giải cần thiết phục vụ cho việc lĩnh hội toàn bộ áng văn đồng thời mở ra những hiểu biết thú vị về thời đại và cả về nền văn hóa phương Đông lẫn phương Tây. Có nhiều tư tưởng trong tập sách đã được các nhà nghiên cứu đi trước nêu lên. Đặc biệt, với quan niệm mang tính hiện đại về giảng văn như một con đường thâm nhập vào tâm hồn con người, mở ra thế giới văn hóa, nâng cao năng lực giao tiếp giữa những con người và thời đại bằng tất cả sự lạ hóa. Đó là con đường mà giáo sư Đặng Thai Mai đã dấn bước lẻ loi vào những năm giữa thế kỷ trước trong bối cảnh cuộc kháng chiến gian khổ.
 
          Song có điều cần nói thêm, là Đặng Thai Mai đã rất tinh tế và khoa học nêu lên đặc trưng của môn giảng văn khi chỉ ra hai phương diện cảm nhận cái đẹp trong tác phẩm và hiểu cái đẹp trong tác phẩm. Ông viết “Cảm thấy hay thì chưa đủ. Có hiểu là hay, sự thưởng thức mới có nghĩa lý và có tác dụng”. Vì rằng, “cái hứng thú của cảm tình từng người đo lường thế nào? Mà trái lại có phần chắc là nếu hiểu được cái đẹp một cách sâu sắc, đầy đủ thì thái độ thưởng thức cũng sẽ thấu đáo, vững vàng hơn. Cảm tình nếu được cả một lực lượng của sự hiểu, ngộ tính (entendement) làm hậu thuẫn, bao giờ cũng sẽ khỏe khoắn hơn, dồi dào hơn”. Như vây, ông đã đứng trên quan điểm mỹ học rất cơ bản về sự hài hòa giữa cảm nhận và hiểu cái đẹp trong cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật, để nhìn nhận môn giảng văn. Nếu không nhận thức rõ điều này sẽ dễ dàng bỏ qua đặc trưng của nghệ thuật, đánh đồng nghệ thuật với những tác phẩm không thuộc phạm vi nghệ thuật. Bởi cảm được cái đẹp, một yếu tố không thể thiếu của nghệ thuật và nhận thức nghệ thuật, là bằng trực cảm, trực giác, là nhận thức bằng cảm quan tức tình cảm. Còn hiểu được cái đẹp là có sự tham dự của lý trí, là nhận thức mang tính khoa học rồi. Nêu lên sự hài hòa giữa cảm nhận và hiểu cái đẹp chính là Đặng Thai Mai đã đi sâu vào giảng văn không chỉ như một cách thức, một gợi ý giảng văn, mà chính là với tư cách một lý thuyết giáo dục thẩm mỹ từ một loại hình nghệ thuật là văn học. Ông viết: “Có phần chắc chắn là nếu hiểu được cái đẹp một cách sâu sắc, đầy đủ, thì thái độ thưởng thức cũng sẽ thấu đáo, vững vàng hơn” và Cũng lại viết “Điều kiện hình thức đâu phải là điều kiện duy nhất để đảm bảo cho sự thành công! Vấn đề chính là  phải phân tích tài liệu của trực cảm”, cần lưu ý đến “nguồn cảm giác trực tiếp”.
 
          Cho nên, một điều rất cơ bản trong Giảng văn Chinh phụ ngâm là, trong khi chỉ ra sự thống nhất giữa kỹ thuật và tư tưởng, nội dung và cách biểu hiện với những thao tác phân tích cụ thể, Đặng Thai Mai đã cảm nhận được cái không khí của áng văn, tức giọng điệu của tác phẩm, cái giọng “rộn rịp, lo âu” mà ông cho là “thành công ngay từ màn mở đầu, bút pháp của dịch giả đã gây được”.
 
Chính điều đó đã làm nên thành công của tác phẩm. Vì với giọng điệu ấy “lập trường của thi sĩ trong công trình tổ chức văn bản”, Đặng Thai Mai viết - có thể nói là ổn thỏa, rõ rệt”. Và tác phẩm là một khúc tự tình độc đáo mà ở đó “hư với thực, có với không, giả dối với chân thật, màu sắc với hư vô, thanh âm với im lặng đã chằng chịt lấy nhau, víu bám với nhau, pha lẫn cùng nhau để đúc thành cái cảm giác thất vọng của tâm hồn trước sự tráo trở của thực tế”. Với bút pháp xóa mờ hẳn quan niệm thời gian, có thể nói là siêu thời gian để trình bày một câu chuyện dĩ vãng của tác giả và dịch giả. Giọng điệu ấy là trọng tâm hứng thú của áng văn. Đặng Thai Mai viết “Tất cả vấn đề là tìm ra cái trọng tâm hứng thú centre d’intérêt - của áng văn. Khi đã nhận ra trọng tâm đó, chúng ta sẽ xét xem trong công trình xây dựng của nhà văn sĩ, nhà thi sĩ, mọi tiết mục đã quy tụ cùng nhau thế nào, để làm cho cái hứng thú đó như là đã được nâng nổi hẳn lên”.
 
Đúng là, trên tất cả Giảng văn Chinh phụ ngâm, Đặng Thai Mai đã tìm ra cái trọng tâm, - cái giọng của tác phẩm, nơi thể hiện tất cả sự phong phú, độc đáo, tính đa nghĩa, ý vị đậm đà của áng văn. Nhà nghiên cứu xuất sắc Hoàng Ngọc Hiến cho rằng “năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt được trúng cái giọng của văn bản mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình viết”. Còn trong giảng văn thì “bắt được giọng đã khó, làm cho học sinh cảm nhận được cái giọng càng khó, công việc này đòi hỏi sáng kiến và tài tình của giáo viên”(2), - điều Đặng Thai Mai từng chỉ ra trong Giảng văn Chinh phụ ngâm. Theo tổng kết của nhà nghiên cứu xô viết, Viện sĩ M.V.Khravchenko, một luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng đối với công việc giảng văn là “tiếp cận tác phẩm như một kết cấu các giọng điệu”, như một “hệ thống các ngữ điệu”, “một gam ngữ điệu”.
 
Chính những điều này, chúng ta hiểu, đã được giáo sư Đặng Thai Mai thực hiện trên cơ sở quan điểm mỹ học chân chính, cách nay hơn 60 năm, trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiến gian khổ, trong Giảng văn Chinh phụ ngâm. Hiểu điều đó, chúng ta hy vọng sẽ có những công trình giảng văn thực sự đóng góp vào nền học thuật và văn hóa nước nhà.
-------------------------
(1) Những trích dẫn đều trong: Đặng Thai  Mai, Giảng văn Chinh phụ ngâm, Trường ĐHSPHN xb.,H, 1992.
(2) Hoàng Ngọc Hiến, Những ngả đường vào văn học, Nxb. Giáo dục, H., 2006, tr.99.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}