Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Chuyện từ tòa án:

 

Luật Biển và chủ quyền biển đảo đất nước

Hoàng Anh | Thứ Tư, 09/10/2013 05:26 GMT +7
(Văn Hiến) - Với việc Quốc hội khóa 13 kỳ họp thứ 3 thông qua Luật Biển, lần đầu tiên Việt Nam có một bộ luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo theo đúng Công ước Luật biển 1982.

Bộ luật này vừa sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền cũng như quản lý, phát triển kinh tế biển, đảo đất nước.

 

Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài hơn 3.200 km, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước. Từ năm 1994, Việt Nam trở thành thành viên Công ước Luật biển 1982. Tuy nhiên, cho tới trước khi Quốc hội thông qua Luật Biển, Việt Nam chưa một bộ luật tổng quát về biển.

Thông qua Luật Biển là hoạt động lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý liên quan tới biển đảo nước ta. Lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển, đảo theo đúng Công ước Luật biển 1982. Luật sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo nước ta.

Cùng với việc khẳng định chủ trương giải quyết các tranh chấp biển, đảo bằng các biện pháp hòa bình, Nhà nước ta đã chuyển một thông điệp quan trọng tới toàn thế giới: Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trọng cộng động quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, quyết tâm phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Nhiều nhà làm luật đánh giá thành công của Luật Biển Việt Nam là đã chi tiết hóa được các quy định của Công ước Luật biển 1982 thành các điều khoản để có thể áp dụng trên các vùng biển của Việt Nam. Điều đó có nghĩa là Luật Biển Việt Nam đã nội luật hóa các quy định của quốc tế để trở thành văn bản pháp luật có thể dễ hiểu, dễ áp dụng hơn trên thực tế và sẽ thu nhận được sự đồng tình quốc tế rộng rãi.

Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương, 55 điều.

Trong chương I – Những quy định chung, ghi rõ quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo. Điều đáng chú ý của chương I, ngoài việc luật hóa chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, trong điều 2 về việc Áp dụng pháp luật, nói rõ: “Trường hợp quy định của Luật này khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namlà thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”. Điều luật này cho thấy Việt Nam đặt lên trên hết việc thực thi các điều luật quốc tế mà mình đã công nhận.

Chương II - Vùng biển Việt Nam, với các quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, đảo, quần đảo... Các điều khoản của chương này nêu rõ chế độ pháp lý của các vùng biển.

Chương III - Hoạt động trong vùng biển Việt Nam, có đề cập đến 13 hành vi bị coi là gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh khi tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải Việt Nam. Những hành vi này bao gồm "đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào"... Chương này cũng nêu rõ các quy định cấm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam như đe dọa chủ quyền, quốc phòng, an ninh của Việt Nam; khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, đánh bắt hải sản trái phép, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí, chất nổ, chất độc hại; mua bán người, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy; phát sóng trái phép...

Để bảo đảm việc thực thi, chương này có điều quy định quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài.Theo đó, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam nếu các tàu thuyền này đang ở trong nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam. Quyền truy đuổi được tiến hành sau khi lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển đã phát tín hiệu yêu cầu tàu thuyền vi phạm hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật dừng lại để tiến hành kiểm tra nhưng tàu thuyền đó không chấp hành. Việc truy đuổi có thể được tiếp tục ở ngoài ranh giới của lãnh hải hay vùng tiếp giáp lãnh hải Viêt Nam nếu được tiến hành liên tục, không ngắt quãng. Ngoài ra, quyền truy đuổi cũng được áp dụng đối với hành vi vi phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, vi phạm trong phạm vi vành đai an toàn và trên các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Việc truy đuổi của các lực lượng tuần tra, kiểm soát Việt Nam chấm dứt khi tàu thuyền bị truy đuổi đi vào lãnh hải của quốc gia khác.

Bộ Luật Biển dành chương IV để nói về Phát triển kinh tế biển với các điều luật về các nguyên tắc phát triển, các ngành kinh tế biển, quy hoạch và các chính sách phát triển kinh tế biển.

Các lực lượng thực thi trách nhiệm chấp pháp được quy định cụ thể trong chương V. Theo đó, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển gồm: các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các lực lượng tuần tra, kiểm soát chuyên ngành khác. Lực lượng dân quân tự vệ của các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương, lực lượng bảo vệ của tổ chức, cơ quan đóng ven biển và các lực lượng khác có trách nhiệm tham gia tuần tra, kiểm soát trên biển khi được cơ quan có thẩm quyền huy động.

Luật Biển được thông qua là một bước tiến pháp lý lớn và có chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc bảo vệ và quản lý biển, cũng như cho việc tiếp xúc với thế giới trên biển. Luật Biển ra đời cũng đáp ứng nguyện vọng sâu sắc của toàn dân Việt Nam đối với việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của biển đảo đất nước khi những tranh chấp trên biển Đông đang gây ra những bức xúc mạnh mẽ trong dư luận xã hội.

Để đảm báo Luật Biển được thực thi trọn vẹn, một điều quan trọng là đất nước cần nhanh chóng xây dựng lực lượng chấp pháp trên biển có đủ sức mạnh bao quát toàn bộ vùng biển đảo thuộc chủ quyền của đất nước.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}