Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tôn giáo:

 

Mối quan hệ giữa nghệ thuật Phật giáo với sân khấu chèo truyền thống

NSƯT.Nhạc sĩ Nguyễn Thế Phiệt | Thứ Ba, 08/10/2013 08:27 GMT +7
(Văn Hiến)—Phật Giáo là một tôn giáo lớn của loài người, mang tầm của một hệ tư tưởng triết học. Với chèo một hình thức sân khấu đậm chất dân gian của dân tộc Việt Nam. Đây là một đề tài nghiên cứu lớn đòi hỏi nhiều thời gian công sức, khảo chứng đối chiếu từ nhiều nguồn tư liệu phong phú khác nhau có liên quan tới phật giáo từ trong quá khứ lịch sử đến cuộc sống đương đại hôm nay.

 

Là một NSƯT, nhạc sĩ phụ trách đoàn nghệ thuật Tổng cục hậu cần, một Đoàn chèo duy nhất của quân đội đã trực tiếp chỉ đạo dàn dựng 6 vở diễn có yếu tố phật giáo, nhân dịp hội thảo này tôi xin được bày tỏ đôi điều ghi nhận về mối quan hệ gắn bó sâu sắc và chặt chẽ giữa nghệ thuật phật giáo một tôn giáo lớn với một hình thức sân khấu kịch hát được nhân dân lao động Việt Nam ưa thích.

Nghệ thuật Chèo xuất xứ ở vùng châu thổ Bắc bộ Việt nam, nghệ thuật chèo ra đời sau phật giáo một quãng thời gian dài tới cả ngàn năm… Hơn nữa nói đến phật giáo là một tôn giáo lớn, một học thuyết cao sinh, là một tín ngưỡng phổ biến gần như khắp thế giới thì chèo trước sau chỉ dưới hình thức một bộ môn sân khấu trình diễn phổ biến ở Việt Nam. Vậy tại sao giữa nghệ thuật phật giáo và chèo lại nảy nở mối quan hệ mật thiết. Sau khi phật giáo từ Ấn Độ được truyền bá vào nước ta (trực tiếp đi theo đường biển hoặc thông qua trung gian là nước Trung Quốc đến Việt Nam), thời kỳ lịch sử mở như dưới thời Lý—Trần, phật giáo gần như là quốc giáo nên nhất định sẽ ảnh hưởng tới mọi mặt sinh hoạt vật chất và tinh thần của người Việt Nam chúng ta. Chèo là một loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa nếu phật giáo ăn sâu vào tư tưởng, tình cảm, lối sống và cảm quan thẩm mỹ của người Việt thì tất yếu không sớm thì muộn cũng sẽ in đậm dấu ấn vào sân khấu chèo.

Xét về góc độ lý luận thì như vậy, nhưng đi tìm hiểu về những biểu hiện cụ thể của nghệ thuật phật giáo trong sân khấu chèo là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Nói đến phật giáo là nói đến chùa chiền, miếu mạo, có cúng lễ, có diễn xướng, chạy đàn, phá ngục, hát diễn xá hằn tích nằm trong các điệu ví dụ như: các điệu vãn, ru kệ, tụng kinh, dâng hoa, dâng rượu, liên quan đến tế lễ, biểu hiện rõ nét ở vở diễn Quan Âm Thị Kính, đây là vở truyền thuyết dân gian mang đậm dấu ấn phật giáo.

Không người Việt Nam nào, có ít nhiều hiểu biết về văn hoá dân tộc lại không biết đến truyện thơ nôm Quan Âm Thị Kính, mà nguyên văn vốn được gọi là Quán Âm chính là để chỉ một chữ tâm của phật giáo, một hình thức Bồ Tát cứu khổ cứu nạn cho đời, không rõ truyện Quan Âm Thị Kính do ai sáng tác và ra đời vào niên đại lịch sử nào, chỉ biết rằng bên cạnh, hình thức truyện thơ nôm lại có cả tích chèo cổ Quan Âm Thị Kính cũng khuyết danh tác giả và được truyền qua các phường chèo từ rất sớm. Cũng chẳng rõ được người truyền bá đạo phật thấy chèo là hình thức sân khấu được dân chúng ưa thích nên đã mượn ngôn ngữ sân khấu chèo với sự kết hợp giữa lời ca nhằm diễn lại sự tích đức phật Quan Âm Thị Kính để công chúng thấm thía ý nghĩa của chữ Nhẫn chữ Tâm, của lòng từ bi hỷ xá sẵn sàng chịu nỗi oan nghịch để cứu nhân độ thế được thành phật.

Những người nghệ sĩ chèo xưa đã rung động với câu chuyện của đức Quan Âm Thị Kính đã đưa cuộc đời của Phật bà lên sân khấu thành nội dung của nhân vật để thêm một lần nữa làm lay động tới tận đáy sâu tâm thức của mỗi một con người.

Cái đặc sắc của chèo Quan Âm Thị Kính là mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa phật giáo và chèo được thể hiện một cách dung dị, ngọt ngào, tài năng của nhiều thế hệ nghệ sĩ chèo từ xưa đã chung sức chung tài để cho vở chèo chuyển tải được nội dung rất thấm thía rất cảm động mà lại tự nhiên không căng cứng, không áp đặt, một mặt ca ngợi sự vị tha mênh mông của Thị Kính vượt lên mọi khó khăn, gian khổ điều tiếng thị phi “ôm con của Thị Mầu để đi xin sữa suốt 3 năm. Thị Kính thủa còn trẻ—chồng ngờ thất tiết—lúc giả trai, thì gái đổ oan tình”. Từ trong nỗi oan trái Thị Kính đã tìm tới giáo lý của phật về chữ Nhẫn chữ Tâm để chịu đựng nỗi oan ức, với tấm lòng cứu độ chúng sinh đã làm động lòng cõi phật và nàng được siêu thoát khỏi bể khổ lên cõi Niết Bàn. Vở chèo Quan Âm Thị Kính đã làm cho người xem khâm phục tài năng của những nghệ sĩ chèo đã xây dựng hình tượng nghệ thuật mà đã trở thành vở diễn mẫu mực điển hình của nghệ thuật chèo. Và điều đặc biệt trong vở Quan Âm Thị Kính mà các vở chèo cổ khác không có được đó là sử dụng âm nhạc, ca h¸t, trang phục vµ moá, lÊy không gian nhà chùa làm phương tiện nghệ thuật, mặt khác phê phán thói lẳng lơ của cô nàng Thị Màu quá chạy theo tiếng gọi của nhục cảm giới tính. Nhưng phê phán Thị Mầu mà vẫn dành phần thông cảm, chia sẻ với những khao khát rất trần thế của người con gái mạnh mẽ này! Qua vở Quan Âm Thị Kính, mối quan hệ giữa nghệ thuật phật giáo và nghệ thuật chèo đã được xử lý một cách ngọt ngào làm cho người xem vẫn cảm thông và kính phục hình tượng nhân vật Thị Kính thông qua những chi tiết cụ thể và sống động, từ màu áo nâu nhà phật đến khung cảnh ngôi chùa làng gần gũi thân quen cho đến cả tiếng mõ tụng kinh đầy tiết nhịp. Bài ru con của Thị Kính cũng được thể hiện dưới hình thức ru hệ độc đáo—vừa là tiếng ru êm đềm vừa là lời ru kệ tâm trạng. Người xem đặc biệt chú ý đến tiết tấu của Thị Kính và Thị Mầu—Thị Kính gõ mõ chậm dãi niệm nam mô a di đà phật, Thị Kính càng chậm lại tâm trạng bao nhiêu thì Thị Mầu khoa chương cái quạt, múa cuồng nhiệt xung quanh Thị Kính để vào trổ 2 với tiết nhịp nhanh, bộc lộ tính cách mạnh mẽ của Thị Mầu, về ca hát đây là một vở diễn khuôn mẫu về hát của chèo, nhiều điệu hát chỉ có xuất xứ ở vở Quan Âm Thị Kính, đặc biệt khi Thị Kính bắt đầu đi tu thì ta thấy âm nhạc đầy ắp chất liệu nhà chùa. Từ nhạc nền đến lời ca của bài hát âm điệu đã đưa khán giả đến chốn linh thiêng huyền bí, cảm động nhất là màn múa chạy đàn giải oan cho số phận một con người, ở đây ta nghe thấy chất liệu âm nhạc nhà chùa vang lên xúc động làm cho người xem không cầm được nước mắt và càng học được chữ Nhẫn, chữ Tâm của Thị Kính. Qua nghiên cứu về sân khấu chèo tổng thể cho thấy chỉ có 15 vai mẫu ấy thế mà vở Quan Âm Thị Kính có 12 vai mẫu của chèo. Như vậy, vở diễn này đã đạt tới đỉnh cao về diễn xuất, số lượng vai mẫu và âm nhạc.

Sự phổ biến sâu rộng của truyện nôm Quan Âm Thị Kính, qua sức sống mãnh liệt của vở chèo cùng tên đã cho thấy nghệ thuật phật giáo ăn sâu như thế nào với nghệ thuật truyền thống của Việt Nam.

Có thể dẫn ra thêm một số vở diễn khác chọn đề tài nói về phật giáo. Một tiết mục rất cổ xưa, chúng ta không rõ nó xuất hiện từ bao giờ nhưng qua nghiên cứu thấy vở chèo Mục Liên Thanh Đề là một thành công của mối quan hệ giữa phật giáo và chèo. Hay gần đây trên sân khấu chèo hiện đại, cũng bắt gặp hình ảnh những mái chùa, với nhân vật quen thuộc của phật giáo, những người tự nguyện tìm đến với thế giới tâm linh, vở chèo Nhiếp Chính Ỷ Lan trong bộ chèo 3 tập—Bài ca giữ nước của nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt, Đoàn chèo Tổng cục hậu cần biểu diễn rất thành công và gần đây lại dàn dựng vở Lời ước nguyện, mà tích truyện rút từ truyện Phạm Trần, không hoàn toàn thể hiện đề tài phật giáo nhưng không khí, bối cảnh nhà chùa đã trở thành nơi diễn ra cuộc đấu tranh với kẻ xấu và nhà chùa đã cứu nhân độ thế che chở cho mối tình éo le mà cũng rất thơ mộng, rồi Nhà hát chèo Việt Nam cũng trình diễn vở chèo Nàng Chúa Ba có nội dung thể hiện cuộc đời một đức phật từ bi. Đặc biệt vở diễn Người tử tù mất tích của Đoàn TCHC nói về số phận một chiến sĩ biệt động đánh bọn ác ôn ở thành Huế bị toà án nguỵ quyền Sài Gòn kết án tử hình đưa ra Côn Đảo, sau ngày giải phóng trở về không có người làm chứng, anh đành lương thân đi tu đã trở thành Đại Đức, lúc đó Cách mạng mới biết giải oan cho anh. Qua vở diễn này, người xem học tập ở người chiến sĩ biệt động, tinh thần nhẫn nại, vượt qua khó khăn của cuộc đời. Là người gắn bó với sân khấu chèo, tôi nhận ra rằng sở dĩ chèo Quan Âm Thị Kính chinh phục trọn vẹn trái tim của bao nhiêu thế hệ công chúng mà các vở chèo khác không có được vì ở đó đã diễn ra sự kết hợp hài hoà đến mức lý tưởng giữa nghệ thuật phật giáo với nghệ thuật chèo. Cả hai nhân tố đã hoà quyện với nhau hàng ngàn năm nay và đã có những thành công nhất định. Tuy nhiên cũng có một số vở chèo khác có thể hiện đề tài phật giáo, không được khán giả hoan nghênh vì không giải quyết tốt mối quan hệ giữa nghệ thuật phật giáo và nghệ thuật chèo như trong vở Quan Âm Thị Kính.

Trên đây là những suy nghĩ rất nhỏ của tôi về một đề tài lớn của nghệ thuật phật giáo trong sân khấu chèo truyền thống./.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}